- Bùi Huyền Tương (20xx): Tình tang tôi nghe như tình lang ……………….
- Trần Hữu Tá (2016): Bích Khê, một tài thơ độc đáo ………………………
PHẦN IV. MỘT SỐ THƠ, NHẠC VIẾT VỀ BÍCH KHÊ
● THƠ
- Nguyễn Khôi
- Khúc Tỳ Bà …………….
- Đường Bích Khê ……………….
- Nguyễn Thụy Kha
- Cổ lúy cô thôn ………….
- Trần thị Cổ tích
- Trong mắt Bích Khê……………
- Một dòng xanh ……………..
- Lê Duy Trác
- Vọng Bích Khê ………………..
- Nguyễn Văn Hạnh
- Nhớ Bích Khê …………..
- Hồ Nghĩa Phương
- Bích Khê ………………………
- Từ Nguyên
- Từ khúc Tỳ Bà của Bích Khê ………..
- Mai Văn Hoan
- Chùm tứ tuyệt về Bích Khê ………..
- Trần Ngọc Hưởng
- Bích Khê ………………
- Phan Bá Trình
- Miền nhớ …………….
- Viếng mộ Bích Khê …………
- Mai Bá Ấn
- Tượng trưng Bích Khê ……………..
- Trần Hoài Hà
- Thơ đề nhân viếng mộ Bích Khê …………
- Trần Ngọc Tuấn
- Bích Khê trong mùa trăng Tượng trưng …………
- Quách Tấn
- Năm vần ngũ ngôn …………………..
- Vân Bích
- Nhớ Bích Khê ………………..
- Kao Sinh
- Nghĩ về xây mộ Bích Khê ……………….
- Khóc Bích Khê …………………………….
- Trào Phúng
- Khóc Bích Khê ………………………
- Phạm Xuân Cường
- Thăm mộ Bích Khê …………………..
- Võ Đông Sơ
- Ngước nhìn Bích Khê ………………..
- Tịnh Vân
- Thầm mộng ……………………………………
- Hoài Chi
- Vọng cố nhân ……………………..
- Sơn Nhân
- Tưởng niệm …………………….
- Bích Khê ………………………
● THƠ BÍCH KHÊ PHỔ NHẠC
MỤC LỤC
PHẦN II
BÍCH KHÊ,
CON NGƯỜI, CUỘC ĐỜI
NGƯỜI EM BÍCH KHÊ
Ngọc Sương
Thời gian
Có một ngàn
Lẻ một mùa thu, bao lá thu
Và một Người Em
Và ngày tháng
(Ý một bài thơ Ba Tư)
Người viết bài này là Lê Ngọc Sương, chị của Bích Khê, mà chồng là anh Lạc Nhân, Nguyễn Quí Hương, người mà em tôi, trước khi nhắm mắt, trân trọng giao lại tất cả những bài thơ do em tôi làm trong suốt cả một đoạn đời dài làm thơ. Bạn em tôi rất nhiều mà bị cách xa thành chẳng còn có bao nhiêu: Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Tam Ích, Hoàng Trọng Miên..., kể cả anh Lạc Nhân và tôi: ngàn năm và nhiều thuở tôi chưa hiểu giữa người Em và người Bạn là Bích Khê, đói với tôi, biên giới ở đâu...
Trong lúc tôi viết mấy dòng này về em tôi - nói cho đúng là tôi viết lại sự trưởng thành của tình thân hữu, tình thi hữu, tình chị em giữa Bích Khê và chúng tôi, - tôi nghĩ đến tất cả những người có mặt trong đời Bích Khê hiện còn sống hoặc đã chết, kẻ khuất người còn, kẻ ở xa người ở gần... Tôi tưởng tượng rằng Bích Khê, em tôi, đương ở đâu đây: Gió hiu hiu thổi thì hay chàng về...
Tôi xin thêm: tôi viết: Người Em, mà không viết: Một người Em, là vì đối với riêng tôi, người ta chỉ có thể có một người em như vậy – một mà thôi. Lỡ ra có quá đáng, các bạn sẵn lòng tộng lượng cho một người chị chỉ có một người em đã... một đi từ lâu lắm... và có một tâm hồn thi nhân như Bích Khê. Và tôi mong được hưởng sự cởi mở của những ai sẽ đọc thơ Bích Khê, khoan dung đối với tôi viết về người chết rồi, về người tài hoa bạc mệnh – chữ của anh Tam Ích – một cách trang trọng...
I. THỜI NIÊN THIẾU
Bích Khê là người em thứ chín trong số chín anh chị em có sẵn trong huyết quản một dòng máu anh dũng. Ông nội Bích Khê – ông nội chúng tôi – làm quan dưới triều Tự Đức đã tuẫn tử để khỏi phải cộng tác với một vị thần có quyền “tiền trảm hậu tấu” đã từng lãnh trách nhiệm đàn áp cuộc khởi nghĩa của nhà chí sĩ Phan Đình Phùng. Cha chúng tôi đã từng tham dự vào phong trào Đông Du giữa lúc lòng yêu nước đương hướng tất cả sĩ phu chân chính vào những cuộc vận động dân tộc chống thực dân dành độc lập cho đất nước.
Vì là con út nên Bích Khê được cả gia đình thương, và chiều chuộng. Chàng là người rất có hiếu với cha mẹ, rất thảo thuận với anh chị và đặc biệt mến thương người chị sanh kế chàng vì hai chị em rất gần nhau về tuổi tác, tư tưởng, chí hướng, tính tình – người chị ấy là tôi. Chúng tôi là hai chị em: hơn thế, hai người bạn; hơn thế nữa: hai tâm hồn tri kỷ... Đã có lúc chúng tôi cùng một người nữa làm một cử chỉ như trong truyện kiếm hiệp: cắt huyết ăn thề, nguyện sống và tranh đấu sát cánh nhau trên khắp mọi nẻo đường đời, cho một chí hướng...
Vì hiểu em, tôi đã tìm hết tất cả những trường hợp gia đình và xã hội thuận tiện cho việc sáng tác của em tôi. Thi nhân cũng như tất cả những nghệ sĩ, khi sáng tác họ không chịu ràng buộc trong một khuôn khổ thời gian và không gian nào cả. Có khi suốt một mùa trong năm, học chỉ ăn... chơi; có khi thi hứng đến với họ suốt cả năm mười đêm trắng; có khi lầu son gác tía không gợi gì trong lòng họ, và có khi họ ngồi trên mỏm đá bên một túp lều để cho nguồn cảm hứng tuôn ra dưới ngòi bút thao thao bất tuyệt...
Tôi là người phải đón tình đón ý em, tạo cho em những giây phút, những vị trí thuận cho hứng làm thơ của một người em khó tính và cũng là cái khung cửa sổ để chàng nhìn nhân sinh đương ai oán, cái chuông đồng hồ báo cho chàng biết là chiều thu đã buông rồi...
Thuở bé, Bích Khê có tính chơi hì hục đi khuân từng tảng đá ong vào sân, xếp lên xếp xuống cho thành nhà cửa, thành lâu đài. Đã có lúc tôi ngẫm nghĩ: cái anh chàng là lạ này có lẽ sẽ thành một kiến trúc sư? Và tôi không ngờ lâu đài chàng thường sắp thường xếp lại là một tòa thơ: một lâu đài khiêm tốn về văn nghệ. Cũng như tất cả những nghệ sĩ ngày sau có tài, lúc còn nhỏ, Bích Khê là một chàng thư sinh thông minh nhưng mà lười: Đã có lần vì lười mà bị mẹ bó tròn vào cột như bó một bó chả đánh một trận nên thân, tưởng chừng như hồn thơ cũng theo ngọn roi lên xuống và một đi cho rồi! Ai ngờ từ đó con người lười trở nên một người siêng năng hết mực: chàng đi từ một thái cực đến một thái cực. Chàng ham học đễn đỗi ai cũng lo cho sức khỏe của chàng. Một hôm Bích Khê bị đau ở đầu gối nhức nhối và phải vào bệnh viện. Trong bệnh viện, thầy thuốc phải treo ngược chân chàng lên cho đỡ nhức; ấy vậy mà chàng vừa rên vừa học: quyển sách lúc nào cũng có trên tay. Các thầy giáo tặng cho Bích Khê biệt hiệu là “Tịnh tu học”. Đậu đầu kỳ thi Tiểu học rồi, chàng say mê học hành như một nhà tu say mê kinh kệ; cho đến ngày chàng học hết ban Cao đẳng Tiểu học rồi ra Hà Nội học ban Tú tài (vào năm 1932-1933).
Mười hai tuổi, chàng đã làm thơ Đường luật và đã làm thân sinh chúng tôi hãnh diện trước các bậc thân hữu: ai cũng nói một thiên tài đã bắt đầu phát sinh. Và thiên tài ấy trưởng thành cùng một lúc với lòng nhân đạo, với tính e lệ: bao nhiêu tiền cha mẹ và anh chị cho, người nghèo hưởng gần hết. Những người đói rách, thiếu thốn vào đến cổng nhà là hỏi thăm “Cậu Chín”. Hễ có cậu Chín, họ có áo quần cũ, nên có khi được bà cụ cho nữa.
Một con người như vậy lại còn là một con người hay e lệ, chàng ít ưa tiếp khách dù là bạn đồng trang lứa. Mỗi lần có khách đến là chàng tránh ra vườn hoặc vào phòng khép cửa đọc sách. Chàng chỉ tiếp bạn thân và bạn làm thơ.
Người hiền lành thì thường nóng tính. Và người giản dị và lặng lẽ thường nhiều lòng tự ái. Ai đánh cờ với chàng mà thắng thì phải đánh cho đến lúc mặt trời lặn, nghĩa là cho đến lúc chàng gỡ được và lỡ ra kẻ cùng chơi cờ mà có ý kiến căng thả nước cờ, thì bàn cờ xuống đất và quân cờ lúc đếm lại bao giờ cũng thiếu mấy quân vì... đã trót văng xa quá...
II. TÌNH ĐỜI
Cái lòng nhân ái của thi nhân thật cũng chỉ thi nhân mới có. Một hôm từ Hà Nội chàng viết thư về xin với cha mẹ thôi học. Chàng xin thôi học là muốn lấy số tiền cha mẹ cho đi học đem san sẻ với một người bạn nghèo để giúp người này khỏi thất học... Lẽ tự nhiên, gia đình chúng tôi nghĩ đến sự học của Bích Khê, không thể chấp thuận.
Nhưng Bích Khê đã muốn thì không thể cưỡng được và tôi, người mà gia đình cho là có tài thuyết phục nhất đối với em, cũng bất lực trước quyết định của chàng. Không những chàng không bỏ ý định giúp bạn, lại còn cho rằng sự phản đối của tôi là một cử chỉ ích kỷ, là tâm lý hèn mọn. Trong khi giận, chàng thi nhân của tôi còn giơ tay giơ chân nhất định đòi để cho chàng thôi học, giúp bạn.
Phản ứng của tôi là nói với em rằng em thiếu... lễ độ với chị và thiếu sáng suốt đối với tình cảm chung trong gia đình. Ai ngờ phản ứng của tôi đã gây một phản ứng vừa nghiêm trọng vừa ngộ nghĩnh đượm một hương vị hài hước tế nhị trong tâm hồn em tôi: Bích Khê chạy ra cửa lao đầu vào cửa đánh rầm rầm, khóc to, làm cả nhà chạy lên. Té ra chàng đã trút cả cái bực tức và hối hận vào cánh cửa...
Ngay tối hôm ấy, chàng đến bên chị, âu yếm nói: “Em có lỗi với chị... Chị tha thứ cho em...!” Rồi chàng thêm: “Giá chị đánh em một bạt tai, có phải gọn và đỡ đau xót cho em không!”.
Một tháng sau, người chị thứ sáu đưa Bích Khê cùng người bạn nói trên vào Phan Thiết, ở nhà người anh cả chúng tôi học. Người ta thường nói chỉ có tình bạn đẹp trong tiểu thuyết mà thôi. Có lẽ lầm: tình bạn trong văn chương còn kém tình bạn ngoài đời. Đôi bạn của Bích Khê như đôi chim, thắm thiết với nhau đến mức độ chàng vận động cho một trường tư thục ra đời để giúp cho sự tiến thân của bạn được dễ dàng. Nhà trường sống gần hai năm bỗng nhiên tôi bị chánh quyền thực dân bắt giải về sinh quán là Quảng Ngãi. Chàng thương chị nên buồn nản; còn cảnh trường cũng mất thứ tự. Và kết quả trường chuyển hoàn toàn về người bạn và cũng từ ấy Bích Khê sinh chán không còn dính dáng đến trường, đến tiền bạc nữa, người bạn cũng xa dần trong tiềm thức...
Bích Khê rời Phan Thiết. Chàng đi Mũi Né rồi lên ở núi Tà Cú, mang theo không phải một ân hận mà là một... tình yêu!
III. MỐI TÌNH ĐẦU
Chàng yêu Song Châu một cô học trò nhỏ có đôi mắt say sưa, làn da trắng mịn và dáng điệu mảnh khảnh yêu kiều.
Ai ngờ cái con người làm thơ ngang tàng trong văn chương như vậy mà lại e lệ trước người mình đương yêu; đồng thời lại còn có mặc cảm phong kiến rằng yêu... học trò là trái đạo lý. Nhưng rồi tình yêu đã nói tiếng nói của tình yêu; và tình yêu của chàng đã gặp một tình yêu say sưa nhưng cũng e lệ của người con gái. Song Châu càng e lệ, thi nhan càng say mê. Bài “Song Châu” trong tập Tinh Huyết là bức chân dung của một mối tình đầu.
Bích KHê, sau khi sống mấy tháng ở núi Tà Cú, về sống với mẹ ở Thu Xà. Chàng nói với mẹ: “Con sẽ ở gần mẹ”...
Rồi trong gia đình cũng chẳng ai muốn đi sâu vào tâm sự buồn đau của chàng, về bạn bè, trường trại.
“Bình đã nứt rồi, xin đừng động đến!...”
Câu nói ấy của một thi nhân thật rất đúng với trường hợp Bích Khê khi về với mẹ và người chị thân yêu. Sự ấm áp trong gia đình đã đem lại nụ cười cho người thi nhân bị thương nặng.
Rồi ngày ngày Bích Khê vào phòng, làm thơ. Chàng làm thơ nhưng chàng không thích ngâm lấy thơ mình vì chàng không có một giọng trong trẻo, nên mỗi một bài thơ làm xong là chị chàng phải ngâm để chàng thưởng thức. Và những bạn đến chơi cũng phải ngâm thơ chàng, làm cái nhiệm vụ đã không chán lại còn có hứng thú là khác!
Được ít lâu, chàng đau: ngực hơi mệt. Thế là phổi chàng yếu! Tôi phải đưa em tôi ra Huế điều trị ở bệnh viện, và săn sóc chàng ngót một năm. Người nữ y tá là tôi phải làm nhiều việc: săn sóc em, gợi mọi thứ chuyện nói với em, ngâm thơ em, họa thơ em... vẽ cho em tất cả những viễn cảnh có màu sắc của đời sống, kể cả những mầu sắc giả, cần cho một người đương đau ốm và đau thương.
Một năm sau bệnh lành, chàng về Thu Xà với mẹ thêm một lần, rồi lại đòi lên núi ở. Cái đời của thi nhân cũng như cái đời của trẻ thơ: muốn phải được, muốn là được. Mẹ và chị phải làm cho Bích Khê một cái chòi trên núi Thiên Ấn, và gửi đến ở với chàng một “chú tiểu” để phục vụ con người ngày càng càng khó tính như một cậu con cưng con nhà trưởng giả.
Lúc này Bích Khê vui lắm; chàng nói với người bạn đến thăm: “Thật là tuyệt diệu!” rồi chàng tả cái thoải mái của tâm hồn chàng bằng cách chuyển tâm tư qua thiên nhiên cỏ cây hoa lá: chàng giải thích thế nào là cái đẹp cho chị nghe... Chàng hăng say đưa cả cánh tay ra vẽ một vòng bao trùm cả những thắng cảnh đương bày ra trước mắt chúng tôi, đã từng làm tâm hồn thi nhân rung cảm. Mà phong cảnh đẹp thật! Dưới chân chúng tôi, từ chỗ “Long Đầu hí thủy”, giải sông Trà bọc lấy chưn hòn Thiên Ấn khăng khít như tình non nước ấp ủ lấy nhau, tức là thắng cảnh “Thiên Ấn niêm hà”. Và xa xa ở phía bên kia hiện ra thắng cảnh “Bút lĩnh phê vân”. Bích Khê chỉ vào núi Bút và nói đùa:
- Đó là ngọn bút của em đó.
Rồi chàng lại bảo chị:
- Nơi đây là nơi cực lạc của em rồi. em say mê với cảnh thiên nhiên và nguyện sống ở đây mãi mãi để tận hưởng...
Nhưng một thời gian rồi Bích Khê cũng chán cảnh núi, lại ước mong được sống giữa cảnh trời nước bao la. Thế là một lần nữa, mẹ và chị Bích Khê phải chiều chàng, cho di chuyển tất cả vật dụng và cái chòi con về dựng ngay tại ven biển. Chốn cực lạc thứ hai này hiện ra, bao nhiêu vần thơ khác của thi sĩ lại tuôn ra...
Nhưng rồi cũng chỉ một thời gian mà thôi. Năm tháng sau vì gió biển không hợp với bộ phổi đã yếu của chàng - nhưng nếu không phải tại gió biển thì lại có những lý do khác - Bích Khê lại đòi về nhà để rồi lại xin lên ở tại một ngôi chùa ở Phú Thọ để vừa làm thơ vừa nghiên cứu triết lý đạo Phật. Tại đây, câu kinh tiếng mõ đã làm tâm hồn chàng lắng xuống và sự tín ngưỡng lần lần đi vào tâm hồn tinh vì của chàng như gió chiều bốn hướng mênh mang đi vào cảnh lá cây nơi núi non trùng điệp...
Một hôm, tôi lên chùa Bích Khê và nói với em:
- Ờ nhỉ, đây là cực lạc em nhỉ?
Biết là chị nói mỉa mình, Bích Khê trả lời:
- Đối với em, mỗi chốn đều là chốn cực lạc, tùy từng lúc từng giây phút. Chị nhớ cho rằng mội khi em nói em đều chân thành.
Rồi Bích Khê từ giã cửa thiền về với mẹ và chị. Vẫn chiều theo sở nguyện của con, bà cụ thuê cho chàng một chiếc thuyền để chàng bềnh bồng trên mặt nước, nay ghé Phú Thọ, mai Cổ Lũy, Sa Kỳ. Trên chiếc “thuyền con bé tẻo teo” mà chàng sống có “hơn gợn tí”, với “gió đưa vèo”, thiên nhiên từ đây lại gây thi hứng cho chàng, một thứ thi hứng triền miên, liên tục...
IV. TÌNH YÊU DANG DỞ
Thuyền trôi, thuyền về... thuyền lênh đênh trên sông Trà Khúc, và thuyền ghé bến yêu thương. Một hôm nọ thả thuyền trôi về ngả Sa Kỳ. Bích Khê gặp lại Bích Thủy, một thiếu nữ quen biết khi Bích Khê ở nhà người anh cả ở Mũi Né. Những lúc Bích Thủy cùng mấy người bạn xuống thuyền thăm Bích Khê, là những lúc không khí trên thuyền trở nên sống động. Trong thuyền giọng ngâm thơ càng giòn và Bích Khê cũng lộ vẻ tươi vui. Có lúc Bích Khê ra đứng với chị trước mui thuyền và nói:
- Thuyền Hàn Mặc Tử chở đầy trăng, thuyền em chở trăng và chở cả giai nhân nữa.
Từ ấy, hai người thường gặp nhau và mối tình càng trở nên khăng khít. Đối với Bích Khê, mối tình ấy là một mối tình mới, nhưng với người con gái, lại là mối tình đầu. Nhưng dù là tình mới hay tình đầu, tình đều say mê đắm đuối. Và cũng vì thế Bích Thủy chớm đặt vấn đề trăm năm cùng chàng thi sĩ.
Bích Khê dè dặt: tình đối với thi nhân bao giờ cũng lẫn mộng, cho nên sự ỡm ờ của người làm thơ trước nhan sắc và trước sự chân thành của ngowif đàn bà đương yêu cũng chỉ là kết quả của những ngày đêm dài đầy mộng và đầy thơ. Kết quả của một sự gặp gỡ nên thơ này là cái buồn đượm nỗi đau thương dài dằng dặc của người con gái. Sự đau thương biến thể: Bích Thủy lâm bệnh, đâm ra loạn trí, nàng nằm trên giường bệnh, kêu tên Bích Khê, mộng thấy Bích Khê, tay viết tên Bích Khê... Đoạn đời đau ốm người đàn bà đầy hình dáng thi nhân đã làm cảm động thân mẫu chúng tôi, và bà có ý thúc đẩy Bích Khê kết duyên với nàng. Bích Khê từ chối và nói: “Gần nhau mãi có đẹp gì!”.
Bích Khê ngưng sự yêu thương trong sự đau thương của cả hai người và bỏ “chiếc thuyền con bé tẻo teo” để về sống với mẹ một lần nữa.
Ở nhà với mẹ và chị được ít lâu, Bích Khê lại muốn ra đi. Nhưng bây giờ Bích Khê hết thích núi, hết thích bể, hết thích chùa mà còn chán cả ngao du trên thuyền. Chàng cũng như con chim chán cảnh lồng son muốn bay đến một chân trời xa lạ để tìm nguồn sống mới. Chàng tỏ ý muốn vào Nam. Tôi bàn với em là muốn đi xa đâu cũng được, nhưng dù là thi nhân, con người phải đặt nguyên tắc sống sát với thực tế: đời sống vật chất có thoải mái, đời sống tinh tần và tri thức mới có nơi nương dựa. Hai chị em bàn nhau mở một trường tư tại Phan Thiết. Thực hành kế hoạch đó đã có anh Lạc Nhân, một người bạn (về sau trở thành anh rể chàng) lúc đó đương làm Tổng Thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng và là Nghị sĩ của Viện Dâu biểu Trung kỳ.
Trường mở cửa vào năm 1938. Và người ta được chứng kiến một cảnh sum họp ấm áp của một số người mà tình bạn đã tập họp dưới một mái nhà. Trong một công cuộc chung, mỗi người chia nhau lo mỗi việc. Người giữ “mối giềng” của cái gia đình thân mật ấy là tôi, và người điều khiển công cuộc tập thể ấy là anh Lạc Nhân. Cũng xin thêm rằng, trong các bạn cùng chung sống, có anh Trúc Lâm – bây giờ là nhà văn Tam Ích, một người trong số bạn Bích Khê đã được chứng kiến Bích Khê làm thơ...
Trường được tín nhiệm, học trò đông. Và để đáp lại yêu cầu của một số học sinh lớn tuổi, trường mở thêm một lớp dạy tối do Lạc Nhân và Bích Khê đặc biệt phụ trách. Chính lớp dạy tối này đã để lại cho Bích Khê một kỷ niệm êm đẹp mà cũng là một vết đau thương mà chàng giữ mãi cho đến ngày tắt thở.
Trong số những người học lớp tối có nàng Ngọc Kiều có gương mặt hiền lành và đôi mắt buồn mơ như báo trước những điều tan vỡ... Ngọc Kiều và Bích Khê mến phục nhau và từ chỗ mến phục, đôi trai tài gái sắc đã đi đến yêu nhau tha thiết.
Rồi một đêm rằm, trăng sáng như ban ngày, Bích Khê dắt chị ra chơi bãi biển ở sau trường. Sau khi ngồi lên bãi cát trắng, Bích Khê lấy giấy viết, hí hoáy bốn câu thơ:
“Chị ơi trời sáng màu xanh,
Tình trăng sống dậy trên cành hoa tươi.
Nói ra xin chị chớ cười,
Tình nay đẹp lắm hơn mười tình xưa...”
Rồi trao cho chị.
“Xin chị chớ cười” nhưng người chị đã cười, cười thiệt vì sung sướng thấy em vui, vui vì em yêu. Lần này, người làm thơ tính chuyện trăm năm thiệt: chàng nhờ chị viết thư về thưa với mẹ để sắp đặt việc cầu hôn. Và cả nhà ai nấy đều mừng vì quyết định ấy của con người khó tính.
Nhưng gia đình Ngọc Kiều lại từ chối, vì xem là “ván đã đóng thuyền...” vì đã “hứa gả nàng cho một nơi khác” rồi. Nơi ấy là con một nhà phú thương.
Kết quả của sự ngang trái là Ngọc Kiều đau loạn trí (lại một người loạn trí nữa!). Nàng khóc, rồi cười, rồi nàng đòi quyên sinh... Và gia đình Ngọc Kiều muốn bảo vệ một tính mạng, đành bằng lòng và mời chúng tôi đến để ưng thuận.
Nhưng việc đời thật không ai có thể ngờ vì chính Bích Khê bây giờ trở lại từ chối! Trong gia đình, từ thuở lên ba, Bích Khê muốn gì được nấy. Bây giờ cũng vẫn vậy: Bích Khê muốn từ chối thì ai cũng phải từ chối, kể cả bà mẹ đã hết nước mắt, kể cả người chị đã hết lời năn nỉ khuyên lơn. Trong việc từ chối này, điểm chính là lòng tự ái của thi nhân thà chịu đau khổ vì mối tình dang dở chớ không để cho danh dự thằng con trai bị xem thường.
Từ dạo ấy, thơ đau thương của Bích Khê tuôn ra lai láng để than khóc cho thân phận mình, thân phận Ngọc Kiều và cả cho những éo le trong nhân tình thế thái. Nhưng rất tiếc là phần lớn các vần thơ đã bị khói lửa chiến tranh thiêu hủy (nhà người anh cả chúng tôi bị dội bom, cháy rụi). Tôi còn nhớ mấy câu gởi khuyên Ngọc Kiều khi Ngọc Kiều quyết tâm ra đi xây tổ uyên ương nơi một chân trời xa lạ.
“Hạnh phúc ngoài trời nhiều vẻ đẹp
Em đừng bận bịu ái ân xưa
Lòng anh chẳng muốn cho em phải
Lẻ tẻ chân trời bóng nhạn thưa”.
V. TÌNH BẠN
Trường Quảng Thuận của chúng tôi, nơi nương náu những tâm hồn dự bị va chạm với nhân sinh, đã bị hai lần đóng cửa vì những âm mưu đen tối của bọn quan lại và thực dân muốn phá hoại. Nhưng hai lần anh Lạc Nhân đều tranh đấu mở cửa lại.
Đến lần thứ ba, vì mang sẵn một mối u phiền và không muốn sống thêm ở một nơi khêu gợi cho chàng những niềm đau khổ, nên Bích Khê không cho anh Lạc Nhân đấu tranh mở cửa lại và muốn để trường chết luôn.
Rồi Bích Khê ra đi. Chàng ghé Qui Nhơn thăm Hàn Mặc Tử mấy ngày và an ủi Tử trong những ngày đau khổ. Một người đau khổ yên ủi một người đau khổ: tình thương giữa hai người đau khổ thật đã làm vơi sự xót xa của mỗi người. Bích Khê tặng Tử một tấm hình trong đó chị chàng và chàng chụp chung. Ý của Bích Khê muốn hình ảnh chị mình gây cho Tử một vài mảnh mộng. Mộng đối với Tử lúc bấy giờ là những liều thuốc làm dịu sự ai oán của tâm hồn.
Quả nhiên Tử làm thơ gửi cho Bích Khê:
“Ta đề chữ Ngọc trên tàu chuối
Sương ở cung Thiềm nhỏ chẳng thôi
Tình ta khuây mãi không thành khối
Nư giận đòi phen cắn phải môi.”
Bích Khê xem xong, giấu, không cho tôi biết: chàng vui sướng riêng tư trong tâm tư vì chàng đã thành công trong một kế “bá đạo” thuộc tình cảm. Người đau cần thuốc: thuốc gì hàn gắn được vết thương là thuốc hay.
Rồi Bích Khê về Thu Xà ít lâu để rồi vào Nam sáng tác thơ và viết sách. Chuyến đi vào Nam nầy có thêm một người bạn: Nguyễn Hữu Thoại. Ba người sống với nhau và sống bằng tình bạn và nước lạnh nhiều hơn là sống bằng cơm áo: sự nghèo cực đã mỗi ngày qua ngày trong sự vui vẻ của hy sinh và trong sự ấm áp của tình bạn và tình đồng chí.
Tôi đã thu xếp một công cuộc thương mại để nuôi ba miệng ăn. Nói là “công cuộc” cho to chuyện: Sự thực là ba người không nghèo và đói là đủ rồi. Suốt một năm dài, mỗi người đều có sáng tác, dịch thuật các loại sách về văn chương và về xã hội. Thi nhân của chúng tôi cũng dịch cả quyển “Retour de L’ U.R.S.S.” của André Gide.
Chúng tôi có một người bạn mới : Phương Thảo. Người bạn mới này phải nằm đất để ngủ vì thiếu giường, Bích Khê nói với bạn:
“Ở đây chịu khó nằm đây
Đất tôi mát lắm bạn xây mộng vàng”.
Để thấy rõ chỗ tương quan mật thiết của những nỗi vui buồn của Bích Khê và tôi, tôi xin kể một chuyện đã xảy ra cho tôi cũng như cho Bích Khê ở ngày đám cưới tôi.
Trước khi về dự lễ cưới của tôi, Bích Khê có bảo hỉ tin cho Hàn Mặc Tử gởi mừng chúng tôi một đôi câu đối viết trên lá thiếp trắng như màu tuyết.
Rồi đến khi về chung vui cùng chị, Bích Khê lại gặp một chuyện không vui, gợi cho Bích Khê một niềm ân hận về một việc làm của Bích Khê hồi 5 năm trước.
Trong khi tòng học ở Hà Nội, Bích Khê có kết thân với một người bạn cùng quê, cháu một nhà cách mạng có danh tiếng. Kỳ nghỉ hè đến, Bích Khê đưa bạn về giới thiệu với gia đình và giới thiệu luôn với chị. Bích Khê cương quyết: “Chị không đồng ý người nầy thì quê nhà mình khó có người thứ hai vẹn toàn ấy”. Chẳng mấy lúc gia đình người bạn cũng đến thăm nhà và ngỏ ý cầu hôn. Bích Khê rất tán thành và nhận thấy đó là một cuộc hôn nhân rất “nên” về nhiều phương diện. Riêng người chị thì không chịu cho gia đình nhận lễ và xin khất một thời gian để dò xem tư cách tánh tình...
Về sau người chị vạch rõ cho Bích Khê thấy những chỗ dị đồng không thích hợp, và từ đó Bích Khê cũng không dám ép chị nữa. Người chị muốn giải quyết dứt khoát nhưng trước những giọt nước mắt của một bà mẹ mà quan niệm tất nhiên là khác với con, muốn trông thấy con mình sớm thành gia thất, câu chuyện vẫn giây dưa và kéo dài đến ngót năm năm trời người chị mới tự cởi mở được mối giây vô tình ràng buộc...
Bỗng đến ngày đám cưới của chị, người bạn cũ của Bích Khê lại hiện về mừng với... một bó nhang vàng bạc đặt lên bàn thờ thân phụ chúng tôi. Cử chỉ ấy phải chăng bao hàm một ác ý đem điềm xấu hay chứng tỏ một cái tang lòng? Dù sao, phần thì xót thương cho chị đến ngày vu quy mà niềm vui không được trọn vẹn, phần thì ân hận vì nhận xét hời hợt của mình mấy năm trước đã để cho cảm tình lấn át... Bích Khê cầm lấy tay tôi đôi mắt rưng lệ chàng xin tha lỗi. Niềm vui của Bích Khê trước giờ chị lên xe hoa vẫn pha lẫn ưu phiền. Mỗi lần hễ có việc vui là sự buồn liền đến với Bích Khê. Đời người thi nhân thật không có gì vẹn, mà cũng không bao giờ vẹn.
VI. NHỮNG NGUỒN YÊN ỦI
1942. Bích Khê đau phổi lại và phải ra lại Viện Pasquier ở Huế điều trị. Tôi lại phải theo ra nuôi em. Sau tám tháng bệnh thuyên giảm, chàng về Thu Xà điều dưỡng.
Vì chàng bệnh nên cả gia đình chiều chuộng nâng niu và săn sóc: một căn nhà ấm áp hóa thành một phòng bệnh viện và mỗi người trong nhà đều làm phận sự một điều dưỡng viên, đồng thời ngâm thơ, chép thơ cho Bích Khê. Giúp vào công việc này lại còn các cháu nhỏ Lệ Xuân, Hải Đường, Phi Hiền...
Từ xa, các bạn đều có tới thăm chàng: Nguyễn Viết Lãm, Nguyễn Ngọc Vy, Minh Trai, Minh Đức, Nguyễn Khắc Khoan, Nguyễn Hữu Thoại, Mai Ảnh, Trương Quốc Oai và người anh ruột Thanh Khê Lê Quang Khâm ở xa cũng có về thăm. Hai anh khác Trùng Khê, Lê Quang Thuần và Tỉnh Nam Lê Quang Hường đều ở bên cạnh Bích Khê. Người chị là tôi tuy có gia đình riêng nhưng cũng về ở bên Bích Khê.
Muốn cho Bích Khê đổi không khí, tôi có đưa Bích Khê ra Quảng Nam ở Hoàng Hoa Trang, nơi quê chồng. Nơi đây rất yên tĩnh và không khí thôn quê rất hợp với Bích Khê.
Một buổi sáng, Chế Lan Viên và Anh Đình hiện đến Hoàng Hoa Trang: Bích Khê mừng quá. Nhưng khi Viên đi về Bích Khê khóc: “Bao giờ lại gặp nhau? Gặp nhau nữa không?” Ở Hoàng Hoa Trang được mấy tháng thì Bích Khê cùng chị trở về Thu Xà.
Một hôm Hoài Thanh từ Huế tìm đến chàng tại Thu Xà nơi chàng tịnh dưỡng để xin những bài thơ và tấm ảnh về đăng vào tập “Thi nhân Việt Nam”, sắp xuất bản. Được đưa thơ mình vào tập Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh nghĩ dù ai cũng sẵn sàng chấp thuận. Nhưng trái lại Bích Khê chưa tin tưởng Hoài Thanh, Hoài Chân thêu gấm hoa cho nền văn học mà e rằng thơ chàng sẽ bị phơi giữa chợ đời, Bích Khê từ chối. Cuối cùng sau lời năn nỉ Bích Khê chỉ trao cho Hoài Thanh hia bài “Tỳ bà” và “Tranh lõa thể” nhất thiết không chịu trao ảnh. Vì vậy tập “Thi nhân Việt Nam” chỉ một Bích Khê là không có ảnh.
Độ nầy sức khỏe Bích Khê xuống nhiều lắm. Bích Khê thấy cuộc đời trống trải làm sao. Có ngày Bích Khê ngồi bên cửa sổ đăm đăm nhìn ra xa hàng buổi như đang tìm kiếm bạn thơ trên dặm mòn...
Lúc nầy là lúc Quách Tấn năng thư từ cho chàng, xướng họa với chàng và giới thiệu cho chàng người bạn thơ: chị Liên Tâm. Khi Bích Khê khám phá được Liên Tâm là người yêu của Quách Tấn chàng trêu bạn liền họa một bài thơ của chị Liên Tâm và nhờ Quách Tấn trao lại:
Canh sương tiếng hạc vẳng kia sông,
Thơ đẹp em đang ướp cạnh lòng
Thưa chị đêm nay dường nhớ quá!
Đưa thơ hồng nhạn biết mang không,
Một nhành mai trắng rung rinh Ngọc
Đôi cụm sao vàng lớt đớt bông
Muốn thấy người xa trong giấc mộng
Khuya lơ còn tựa ở bên song.
Bích Khê đã tìm thấy trong tình bằng hữu và thú làm thơ một niềm khuây khỏa trong những lúc cơn bệnh dày vò. Trong quãng đời này, Bích Khê đã khóc cái chết của một người anh, Tỉnh Nam Lê Quang Hường của một người bạn, Hàn Mặc Tử và của vài người khác... Nghĩ đến sự sống và sự chết của những người có mặt trong đời Bích Khê, Bích Khê buồn lắm, và thường khóc một mình. Nhất là mỗi khi nghĩ đến riêng mình, Bích Khê thường không giấu được sự bi quan đến cực độ. Chàng thường nói với tôi:
- Đời e ngắn ngủi, sự nghiệp văn thơ ắt dở dang; em mong sao sống thêm ba năm nữa để hoàn thành tập thơ thứ ba... rồi sẽ chết.
Tôi cố nói tất cả những lời nói mà một người chị, một người bạn có thể nói được, để yên ủi chàng nhưng chàng biết rằng tôi nói đôi, vì chàng cho rằng bịnh chàng không thể lành.
Thân thể chàng càng ngày càng tiều tụy... và gia đình bắt đầu lo.
Trước kia đã một lần, khi còn ở bệnh viện, chàng nằm mộng thấy một bà Tiên hiện ra trên không và tung ra những nắm bông trắng, bông rơi xuống mặt đất kết thành chữ và Bích Khê đọc được bốn câu thơ ý nói chàng sẽ chết vào một mùa Xuân. Vì vậy, mỗi lần Xuân đến, chàng thấy lòng mình nao nao và lo âu.
Nhưng rồi một mùa Xuân qua, một mùa Xuân nữa đến rồi lại qua. Chàng vẫn sống rồi chàng không tin ở điểm mộng nữa.
Một đêm trăng sáng, Bích Khê bảo đưa ghế ra vườn để chàng nằm ngắm trăng. Ánh sáng dịu huyền của chị Hằng gợi lại cho chàng tâm sự năm trên và hình ảnh giai nhân trở lại trong tâm hồn thi sĩ.
Hôm sau, Bích Khê đưa cho chị bài thơ “Làng em” và nói:
- Em mong một hình bóng trở lại. Nhưng có lẽ chẳng bao giờ...
Nhưng rồi trăng sao mang đi niềm cảm nghĩ ấy “hình bóng” đã trở lại. Sau đó không bao lâu, chàng nhận được thư Ngọc Kiều từ miền Đồng Nai gởi ra hỏi thăm Bích Khê. Trong thư Ngọc Kiều tỏ ý muốn ra thăm Bích Khê nếu chàng trả lời chấp thuận, vì người thiếu phụ hiện sống với con qua bao nhiêu năm cách biệt vẫn còn ghi đậm trong tâm khảm hình ảnh của ai...
Tiếp thư Ngọc Kiều, Bích Khê mừng mừng tủi tủi, cảm động nhưng ngại ngùng. Cả nhà, nhất là bà cụ, thì rất đỗi vui mừng và hối thúc viết thư trả lời mời ngọc Kiều ra vì biết rằng cuộc thăm viếng của Ngọc Kiều sẽ là một niềm an ủi lớn cho cuộc đời tuyệt vọng của Bích Khê.
Khi Ngọc Kiều bước vào phòng để gặp Bích Khê, bốn mắt nhìn nhau, hai người nghẹn ngào không nói ra lời. Nhất là khi nhìn thấy thân hình tiều tụy của người xưa, Ngọc Kiều không ngăm được giọt lệ... Bích Khê bảo cháu nhắc ghế đặt ra giường mình đang nằm mời Ngọc Kiều ngồi nói: “Chúng ta nhớ em là gái có chồng.”
Sau cơn xúc động, quả thật cuộc viếng thăm của Ngọc Kiều là cả một phương thuốc hồi dương sanh mạch. Căn bệnh của Bích Khê hầu như thuyên giảm thấy được. Sắc mặt chàng trở nên tươi vui khác thường, làm cho cả nhà cũng vui theo chàng.
Sau 5 ngày ở lại với gia đình Bích Khê, Ngọc Kiều lại cất bước đi về một chân trời khác, để lại cho khóm lan bên ngõ một hồn đau một xác gầy...
Ngày tiễn đưa bạn Ngọc ra về, Bích Khê cảm thấy lần nầy xa bạn là lần vĩnh biệt. Ngọc Kiều đi rồi, Bích Khê đóng cửa, nằm trong phòng suốt buổi. Gia đình không ai hỏi han vì kính trọng giây phút thiêng liêng của chàng.
Bích Khê tuy bịnh nhưng vẫn tìm đủ cách để tranh đấu với vi trùng bệnh phổi và dùng hết nhân lực để hy vọng... Chàng dùng cả phương pháp nằm ghì trên giường tuyệt đối không cử động để cơ thể nghỉ ngơi. Nhưng phương pháp ấy kết quả là làm cho gân cốt tê bại, nên một thời gian sau, chàng phải tập đi đứng như trẻ thơ tập đi vậy.
Từ khi làm thơ Đường đến đây Bích Khê có 100 bài chọn lọc định xuất bản. Cũng trong khoảng thời gian này, chàng dự định cho ra tập “Tinh Hoa” hoặc “Ngũ Hành Sơn”. Không may cho chàng, chàng khuất trước ngày những đứa con tinh thần ra đời. Sức khỏe càng ngày càng xuống, cơ thể càng ngày càng mòn, bấy giờ cái buồn nghe đất lạnh mới thấm tận lòng chàng, chàng lặng lẽ khóc cho thân thế, cho sự nghiệp, cho tất cả những mối tình đối với tất cả những người thân yêu trong đời mình.
Chàng có một đứa cháu tên là Thu An mới lên 4 tuổi mà chàng rất thương. Cũng như các cháu khác, chàng không cho bé Thu An lại gần.
Trên đầu giường Bích Khê có đặt một cái chuông, khi nào cần cái gì thì chàng nhận chuông. Bé Thu An không được lại gần cậu, nên mỗi sáng, bé đứng ngoài phòng và nói lớn vọng vào:
- Cậu Bích Khê ơi! Cậu có thương Thu An thì cậu nhận chuông lên...
Chuông reo lên, âm thanh cao lên vun vút... Chàng cảm thấy tình thương yêu tràn ngập xung quanh chàng, đi vào lòng chàng; chàng buột miệng: “Trời ơi, tại sao ta không được sống mãi trong gia đình ấm áp này...!”
Bịnh tình làm chàng thất vọng bao nhiêu thì hy vọng càng làm chàng cố bám lấy sự sống. Chàng hy vọng có một trường hợp mầu nhiệm nào đó sẽ đến thay đổi đời sống của chàng...
VII. NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG
1945. Một đêm có tiếng reo hò vang lên: quân Nhật đầu hàng. Sáng hôm sau, thiên hạ hay rằng có cuộc khởi nghĩa.
Bích Khê mừng quá, bắt người nhà khiêng cả chàng nằm trên ghế bố ra cửa đón phong trào đương lên. Chàng nói với chị:
- Em chưa muốn chết! Em yêu đời quá!...
Ngay lúc chàng yêu đời, yêu dân tộc đương khởi nghĩa thì chàng không thể sống được nữa... Bài thơ rải bông trong mộng năm trước lại nhắc nhở cho Bích Khê nhớ cái chết trong mùa xuân.
Một mùa Xuân mới lại sắp tới. Chàng nói với chị: “Mùa Xuân này chăng? Em có linh tính...” Tháng sau, chàng đưa cho chị bài thơ “Nấm mộ” và bốn câu “Đề bia trước mộ”.
Bệnh tình Bích Khê càng ngày càng trầm trọng. Tuyệt vọng rồi! Gia đình đã “tận nhân lực” và cũng đã biết chàng không còn sống bao lâu nữa.
Một buổi chiều, chàng nghe người ta vừa giết Tạ Thu Thâu, đâm ra sững sờ rồi chàng khóc!
Những ngày chàng gần cõi chết lại là những ngày chàng sáng tác nhiều nhất. Và hai tháng sau ngày khởi nghĩa và hai tháng trước ngày từ giã cõi đời, Bích Khê niệm kinh Di Lặc và tin tưởng ngày nhắm mắt có Phật đến rước.
Đông chí qua, tiết Lập Xuân đến. Bích Khê sửa soạn cái chết của chính mình. Chàng mời mẹ lên ngồi một bên, chàng nói chuyện để có dịp nhắc nhở ơn sanh thành dưỡng dục, nhất là trong những năm nằm trên giường bệnh.
Tháng 11 vừa hết, tháng Chạp âm lịch bắt đầu: chàng cho gia đình biết chàng thử hơi cuối cùng trong tháng này. Chàng mời người chị thứ sau lên, đọc lời di chúc, nhờ chị chép lại và xin mẹ, căn dặn mẹ làm đúng theo lời tuyệt mệnh:
1. Khi chết không được khóc.
2. Chết xong liệm liền, chôn liền.
3. Liệm rất giản dị, một tấm vải trắng đắp thi hài, một cái hòm thường, và đám tang không có kèn trống.
4. Bà con bạn hữu đến phúng điếu, không nhận tiền
5. Ngày giỗ chỉ đốt hương trầm và cắm hoa; không được đặt đồ ăn trên bàn thờ.
6. Các tập thơ, chị Ngọc Sương và người anh rể là Lạc Nhân mang quyền xuất bản.
Một buổi tối, sau khi ăn cơm xong, Bích Khê gọi mẹ lại, âu yếm kéo mẹ ngồi một bên, nắm tay mẹ, nói rất bình tĩnh:
- Còn ba ngày nữa, con không ở với mẹ nữa. Đúng ngày Rằm thì con chết.
Rồi chàng xin mẹ mời thầy tụng kinh ba đêm ngày. Trong ba ngày nầy Bích Khê chỉ xin ăn cam và sữa cốt để cho bao tử nhẹ nhàng tinh khiết. Đêm thứ ba Bích Khê nhắm mắt nghe kinh chốc chốc chàng mở mắt dòm chùng kim đồng hồ... khi kim đồng hồ chỉ 11 giờ 30 phút Bích Khê thấy hơi thở mình chưa báo hiệu cho sự chết, vì chàng còn khỏe lắm. Bích Khê tỏ ngạc nhiên bằng tiếng: “Ủa... lạ chưa...”.
Kim đồng hồ ta nặng nề đi qua như muốn kéo dài sự sống của chàng. Bích Khê lấy làm lo ngại nói một mình: “Tôi chết đêm nay mà!”. Khi 11 giờ 45 phút Bích Khê chỉ còn hơi thở đều đều... rất nhẹ rất mong manh... Bích Khê bảo mẹ các chị đi ngủ nói rằng trong mình chàng nghe khỏe lắm, chàng cần ngủ một chút.
Giấc ngủ ngàn thu bắt đầu từ giây phút ấy. Lúc 12 giờ khuya, người nhà ngồi bên Bích Khê trông thấy một vệt sáng xanh từ trong giường Bích Khê vụt lên mái nhà...
Tiếng kinh và tiếng mõ của nhà sư vọng lên cao xung quanh chàng, và tiếng nấc nở của mọi người thân yêu lại dồn vô lồng ngực, vì ai cũng muốn giữ đúng lời di chúc của chàng.
Nhưng sau khi đậy nắp hòm, và khi đất đã khỏa trên cuộc đời của thi sĩ, gia đình cũng như bạn hữu không còn ai làm theo lời di chúc Bích Khê: nấm mộ vẫn được thấm tràn giòng lệ trắng. Và tiếng nức nở của người chị được kết dài thành tiếng thơ:
“Khóc em”
Tôi vừa mất một người em yêu quí
Một nàng thơ hồn trắng ý trong xanh
Một chàng trai tinh tiết vẹn nguyên lành
Say xây đắp lâu đài thơ tuyệt mỹ
Tôi vừa mất một người em tri kỷ
Bước giang hồ bàn bạc dưới vầng trăng
Rượu thơ ngày khúc điệp nhạc cung hằng
Tình non nước từng phen say lại tỉnh
Ngắm bể Phan Thành, nhìn mây núi Lĩnh
Đã từng khi khóc mướt giữa tay mềm
Lệ đau sầu nhân nghĩa tợ ban đêm
Nhạc trỗi khúc giữa tình yêu ma quái
Cùng nức nở khóc một thiên tình ái
Đem bạc vàng xây mộ giữa yêu đương
Tôi mất em là mất cả một mùa hương
Cả ánh sáng và cả gì man mác
Tôi mất em, ôi! Cõi lòng tan nát!
Tôi mất em! Trời hỡi! tôi mất em!
Tình lên mi sầu dựng giữa màn đêm
Tôi muốn xé tử thần ra trăm mảnh
Tôi gào thét giữa đêm tàn trăng lạnh
Đòi hồn em và xác thịt em tôi
Người thi nhân trong trắng tợ mặt trời
Sao mi nỡ xây mồ ngay tuổi trẻ?
Em chết đi bỏ lại đời một mẹ.
Bao tình thương khắng khít tợ trăng sao
Em chết đi chưa hái nụ hoa đào
Giòng dông núi tình thương ngời cây lá
Em tôi chết tựa sông nhào núi ngã,
Mắt rưng rưng miệng hé gọi căm hờn
Hồn em thiêng về với chị: cô đơn!
Nghe chị khóc dưới cây sầu Vĩnh biệt.
Bích Khê mất trong thời kỳ khói lửa, nên ngày lâm chung, bạn văn thơ ở xa không ai về được. Sau đó chỉ Chế Lan Viên và Nguyễn Viết Lãm đến viếng một lần và khóc một lần.
Nấm mồ được đặt trên miếng đất Hội quán ở gần Thu Xà và luôn bao năm khói lửa chỉ một con quạ đứng im hơi...
Em tôi đã chết. Nhưng mãi đến bây giờ tôi vẫn không tin là Em tôi đã chết... có những người khác cũng không muốn tin rằng Em tôi đã chết...
Cuối xuân Giáp Thìn
Nguồn :
Văn, Sài Gòn, s. 64 (15/8/1966), tr. 22-41.
NHÂN ĐỌC BÀI HỒI KÝ CỦA ANH HỒ HỮU TƯỜNG
Ngọc Sương
LTS: Chúng tôi xin cống hiến bạn đọc thêm một tài liệu về thi sĩ Bích Khê. Mong bạn đọc coi bài dưới đây như một phụ đính cho Văn số 64.-- VĂN
Bài hồi ký của anh Hồ Hữu Tường đánh thức trong ký ức tôi một mẩu chuyện về một quãng đời về em tôi, Bích Khê. Một mẩu chuyện đượm màu sắc văn chương và cả tinh thần cách mạng mà tôi quên bẵng đi không nhắc nhở gì đến nó. Nếu tôi nhớ không sai thì tôi đã cố quên bẵng nó đi từ lâu lắm để tránh sự thương tiếc trong lòng.
Ai nói rằng nhà văn nhà thơ là ích kỷ, chỉ biết làm thỏa mãn cho đời mình, cho tình yêu mình, chỉ biết ca tụng màu áo sặc sỡ, chiếc cài óng ánh, hoặc gió ghẹo rèm, trăng hôn má, chim hót cao thì là sai, hoàn toàn sai đối với em tôi.
Em tôi một người làm thơ được duyên may người đời gọi bằng thi sĩ mang nặng trong lòng một tình thương rộng lớn đối với dân tộc và nhân loại. Chẳng biết có phải vì truyền thống của máu huyết yêu giống nòi và non nước như yêu thơ, yêu nhân loại như yêu chính mình? Vì vậy nên Bích Khê đã từng đau với cái đau của dân tộc, từng rơi nước mắt trước cảnh đầu rơi máu chảy do thực dân gây ra.
Sở dĩ Bích Khê trước khi tắt thở đã có nhiều lần khóc cho những cái chết trong phong trào khởi nghĩa ở Quảng Ngãi, vừa mừng sáng trưng đôi mắt khi hay tin cuộc khởi nghĩa của toàn dân ở mùa thu tháng Tám dành trong tay Nhật mà người nhà phải bỏ Bích Khê trong một cái chõng tre khênh ra cổng để cho Bích Khê mục kích cuộc biểu tình hoan hô cách mạng thành công của toàn dân, là vì Bích Khê đã từng thương đau trong lòng, cái đau thương phải làm một người dân mất nước.
Mùa thu năm đó, nhìn đám biểu tình qua ngõ, Bích Khê sung sướng mỉm cười, nụ cười chào cách mạng thành công cũng là nụ cười chào đời trước khi chàng từ giã cõi trần vào tiết lập xuân năm ấy.
Để chứng minh tình yêu dân tộc rạt rào trong Bích Khê tôi tiếc rằng tôi không còn nhớ bài thơ “Tháng Tám” của Bích Khê làm sau ngày cách mạng dân tộc thành công – Có thể là anh Quách Tấn nhớ ? - Và trên bước giang hồ xây dựng văn thơ và lý tưởng Bích Khê và tôi:
“Ngắm bể Phan thành nhìn mây núi Lĩnh
Đã từng khi khóc mướt giữa tay mềm”
Và:
“Rượu, thơ ngây khúc điệp nhạc cung hằng
Tình non nước từng phen say lại tỉnh”
Khi nhắc tới bốn cuốn tiểu thuyết của Bích Khê, anh Hồ Hữu Tường đã gợi lại trong lòng tôi một niềm thương tiếc vô cùng vô tận.
Sau khi từ nhà thương Huế về Thu Xà với mẹ, sau khi chán núi, chán bể, chán thuyền… Bích Khê cho rằng những cái thích thú về phong cảnh, về tiếng chuông, nhịp sóng, còn nghe như thiếu một thứ gì đó trong lòng nên Bích Khê rủ tôi đi Phan Thiết, Sài Gòn. Tôi vốn là gái đáng lẽ không chấp nhận đời phong trần với em. Nhưng cái nghiệp chướng thơ văn ít nhiều đã xâm nhập tâm hồn tôi, và lý tưởng người thanh niên sáng ngời trong óc tôi, nên tôi không từ chối cùng em làm một cuộc phiêu lưu…
Chúng tôi vào Phan Rang rủ người bạn chí thân là anh Nguyễn Hữu Thoại nhập bọn. Ba chúng tôi đã có lần cắt máu hòa chung vẽ lên mảnh giấy con ba quả tim chung hủy đoạn cắt mỗi đứa một mảnh.
Ba chúng tôi lên đường vào Phan Thiết, định ở lại đây một thời gian theo chương trình để hoàn thành mấy tác phẩm, và để liên lạc với một số nhân vật trong Nam, may ra tìm nơi bạn một ít sáng tỏ về cuộc đời, hay ích lợi về sáng tác.
Chúng tôi rõ nghèo, nghèo đến nỗi không sắm nổi giường phản để nằm. Chúng tôi thuê một căn nhà ba đồng một tháng bề ngang bốn thước bề sâu mười bốn thước. So với Đô thị Sài Gòn thì gọi là bảnh, nhưng so với Phan Thiết hồi đó là thuộc về loại bỏ hoang. Gia tài chúng tôi chỉ sắm nổi hai chiếc chiếu, ban đêm làm giường ngủ, ban ngày làm bàn ăn. Nhờ có đất để làm bàn ghế. Tôi chỉ cố gắng mua cho Bích Khê một chõng tre, cũng cố gắng tìm mua cái giường bề ngang sáu tấc, bề dài vừa tầm cơ thể của chàng cho đỡ tốn. Nếu không thế nhà thơ nằm đất lạnh sẽ nổi cơn ho và đánh thức cả nhà dậy. Nói cả nhà chứ vỏn vẹn có tôi và anh Thoại làm nạn nhân. Tôi còn mượn được cái bàn viết gần rơi rụng, cũ đến mức tối đa, nó định đi kiện vì chúng tôi đã bóc lột sức già cằng cỗi của nó vì đáng ra nó được an nghỉ ở xó hè rồi! Cái bàn nói là để ba đứa dùng chung mà thật thì hầu hết mình Bích Khê chiếm cứ. ngày ngày tôi và anh Nguyễn Hữu Thoại đứa lo đi chợ, đứa lo quét dọn, giặt áo quần. Bích Khê chỉ cho lãnh việc sắp trật tự trên bàn, và xếp gọn mấy chiếc chiếu sau khi ngủ dậy mà thôi, nên ít khi chúng tôi được ngồi ghé chiếc bàn ấy. Chúng tôi chỉ chờ tối Bích Khê ngủ sớm là chúng tôi chia phiên nhau ngồi viết để cái ngực khỏi phải tức ngược lên khi nằm dài xuống đất ngó đầu lên cắn bút chì…
Ngót thời gian sống ở Phan Thiết đầy thú thanh bần trong căn nhà nghèo nàn và bữa cơm đạm bạc. Tuy nghèo song không vì thế mà nhà nầy bị mang danh là chùa “Bà Đanh” liu hiu vài chú tiểu quét lá rụng, lượm củi khô mà vẫn có bạn bè từ miền Trung vào, từ miền Nam ra.
“Tới đây bạn ở lại đây,
Đất tôi mát lắm bạn xây mộng vàng”.
Đó là một người bạn trong Nam ra mà hai câu thơ này là Bích Khê đã dành một vị trí khoảnh đất mời bạn xây “giấc mộng”
Chúng tôi cố hoàn thành chương trình và ý định sáng tác đã hoạch định.
Bích Khê dịch quyển Retour de PURSS và hoàn thành cái tập truyện mà các giàn bài Bích Khê làm, khi còn nằm nhà thương.
Bích Khê viết, Thoại viết, tôi viết, phần ai nấy viết, viết xong cho nhau đọc, đứa nào cũng mừng và cũng lo, lo sẽ nhờ ai đây làm thầy nhuận sắc, sửa chữa tình ý cho bài mình.
Bích Khê và tôi nghĩ đến anh Hồ Hữu Tường, người mà chúng tôi thân kính về tinh thần. Bích Khê quyết định vào tìm anh Hồ. Thế là các bản thảo được Bích Khê săm se và hì hục gói gắm, cột trói. Tánh Bích Khê làm biếng, nên ngoài việc làm thơ, làm việc gì cũng khó khăn như vác đá, thế nên tôi dùng tiếng hì hục không quá đáng cho em tôi chút nào. Bích Khê hẹn với tôi lần này mang bản thảo Bích Khê đi, lần sau Bích Khê lại mang bản thảo tập “Phụ nữ hiện đại” của tôi nhờ anh Hồ hữu Tường đề tựa. Còn một tập “Ái tình trong chế độ” tôi cũng vừa viết xong, Bích Khê bàn tôi đem ra cụ Phan Bội Châu đặt hy vọng cụ đề tựa cho tập ấy xuất bản luôn.
Bích Khê mang đi rồi mang về, đúng như anh Hồ Hữu Tường đã viết trong hồi ký.
Nói xuất bản, dự định xuất bản, chùng chúng tôi quên mất phần quan trọng: tiền đâu mà in? Cá không dám ăn đủ bữa cơm, canh không dám húp mạnh mà nói chuyện in sách. Nhưng đã đẻ ra được một vài đứa con gọi là sản nghiệp của một đoạn đời Phan Thiết thì chúng tôi hy vọng nuôi dưỡng giữ gìn chúng để một ngày nào đó đưa chúng ra đời.
Bích Khê bèn gói ghém chúng và đem gởi cho một anh bạn Minh Đức phòng khỏi bị kẻ cắp tưởng là châu báu mà bợ đi chăng? Và khi chúng tôi nhìn lại hai tay trắng bị trở màu thâm, nghĩa là “túi can”, thì bàn nhau rời Phan Thiết về người anh thứ ở Sông Cầu tạm thời ở chơi một lúc, cũng để xin ít tiền làm chuyển đi khác.
Gói sự nghiệp ấy lại được Bích Khê đòi lại và mang theo. Đưa vào Sông Cầu Bích Khê gởi cho người anh cất, Bích Khê thận trọng niêm lại rất kỹ. Chúng tôi cho thế đã yên lòng lắm rồi bèn rủ nhau về thăm mẹ. Chẳng ngờ lần tạm biệt anh tôi lại là lẫn vĩnh biệt những đứa con yêu quý ấy.
Một thời gian sau, chúng tôi vào đòi lại để mang đi thì anh tôi đã đốt hết rồi! Anh tôi đốt nó trong một trường hợp cấp bách khi dân thành phố Sông Cầu bị tình nghi nên bị lục soát. Anh tôi đốt nó cũng vì anh tôi chẳng biết nội dung tinh thần các tác phẩm ấy ra sao!
Sợ mà đốt! Cấp bách mà đốt! Anh tôi đã làm cho chúng tôi sững sờ, và tôi mềm yếu hơn Bích Khê bừng mặt khóc sướt mướt thương tiếc cho em, cho mình đã tốn bao nhiêu tủy óc mới đúc nên đứa con tinh thần. Tôi khóc suốt mấy ngày, bàng hoàng luôn cả một năm. Vì biết rằng không bao giờ em tôi viết lại được nữa, và tôi cũng không viết lại được nữa.
Tôi rất cảm ơn anh Hồ Hữu Tường tuy rằng anh đã gợi lại cho lòng tôi một thương tiếc; tôi cũng xin người em hãy tha lỗi cho chị vô tình bỏ sót mất của em hết một khoảng đời hoạt động văn chương đáng kể, quên nhắc đến trong bài “Người em” đã đăng trong “Văn” số 64.
Nguồn:
Văn, Sài Gòn, s. 66 (15/9/1966), tr. 110-114
THU XÀ VÀ PHẦN MỘ BÍCH KHÊ
Đinh Cường
Tôi đã đi thăm mộ Bích Khê với Thu An cháu gọi Bích Khê bằng cậu. mùa hè năm 1963, tôi từ Huế vào Quảng Ngãi rồi về Thu Xà, nơi Bích Khê đã sinh ra, lớn lên và trở về nằm trong lòng đất vĩnh viễn ở đó. Thu Xà cách bến xe Quảng Ngãi khoảng 10 cây số. Với một con đường gồ ghề đá sỏi, hai bên là đồng lúa, rải rác có những trạm canh dân vệ, con đường còn mang nhiều dấu vết chiến tranh, nơi một ngã tư mà Tạ Thu Thâu đã bị bắt, thời kỳ Việt Minh. Thu Xà là một quận lỵ gồm hai dãy phố cũ, phần đông là người Tàu đến ở buôn bán từ ngày trước, có những phố lầu hoang tàn bị bom thời kỳ 1945. Bích Khê ở ngay phố, có một cổng dài đi vào. Tôi đến đó lúc trời nhá nhem tối. Chân đặt lên một sân trồng đày hoa hồng, lòng bâng khuâng... tôi hỏi thăm bà Ngọc Sương, chị kế Bích Khê và Thu An vừa ở Sài Gòn ra. Lúc vào nhà tôi gặp ngay thân mẫu Bích Khê với đầu tóc bạc mướt, gương mặt phúc hậu. Bà sống cùng người con trưởng và con dâu trong căn nhà lâu đời đó. Tôi được kể, căn nhà vẫn không có gì thay đổi. Nhà làm kiểu ba gian, một chái. Gian bên trái là phòng Bích Khê, gian giữa đặt bàn thờ, có ảnh Bích Khê, tôi đến thắp hương. Đêm đó tôi nằm trên chiếc sập cao nơi Bích Khê đã nằm ngày trước, với ngòn đèn dầu hỏa tôi mơ màng bóng dáng phảng phất của một người tài hoa bạc mệnh: Bích Khê.
Gian phòng ẩm lạnh, trên chiếc sập gỗ trơn đó Bích Khê đã trở về nằm bệnh sau bao năm giang hồ. Sáng ở đầu sông nhớ núi. Đêm nằm trong núi nhớ sông. Sức khỏe đã hao mòn dần. Suốt ngày thơ thẩn, ước ao gặp lại một người quen:
“Gió về mang cả mùi lăng tẩm
Buồn cắt lên đền những miếng đen
Người viễn khách, lòng sầu vạn cổ
Dặm mòn muốn gặp một người quen”
Thời gian này thỉnh thoảng có Quách Tấn gửi thơ cho Bích Khê đọc rồi họa lại, có lần Chế Lan Viên về thăm, Bích Khê mừng ứa nước mắt.
Đáng kể nhất là lần người yêu trở lại Thu Xà, mặc dầu nàng đã có chồng hai con, đó là nguồn an ủi cuối cùng cho những ngày tuyệt vọng của Bích Khê. Nh. (1) tên người yêu độc nhất của Bích Khê, vì trắc trở gia đình không cưới nhau được, mặc dầu tình yêu vẫn nồng cháy giữa hai người. Ở lại Thu Xà chỉ vài hôm Nh. Trở lại Sài Gòn, để lại cho Bích Khê một hồn đau xác gầy. Bích Khê tiễn nàng ra cổng với cảm giác vĩnh biệt. Cách mười hôm sau Bích Khê nhận được cam của Nh. Từ Sài Gòn gửi về và cũng từ đó Bích Khê không bao giờ còn trông thấy bóng dáng người tình nữa.
Cơn ho lại nặng thêm. Gia đình chạy thuốc thang đầy đủ cho đến phút cuối cùng. Nhưng bệnh tình đã đến chỗ tuyệt vọng. Bích Khê biết trước cái chết của mình nên vẫn điềm nhiên nói chuyện và an ủi gia đình. Trước hai tháng từ giã cõi đời, Bích Khê cứ tụng niệm “Di Lạc Tôn Phật” và tin tưởng ngày nhắm mắt có Phật đến rước. Nhờ đức tin mãnh liệt ấy nên sự chết đối với Bích Khê như Bích Khê sớm trở về cái quê hương đầy hương hoa hạnh phúc.
Một tối sau khi ăn cháo xong Bích Khê gọi mẹ lên ngồi bên nói cho mẹ biết là còn ba ngày nữa, nhằm ngày Rằm Bích Khê sẽ chết – Và nói cho người nhà xuống chùa Phú Thọ xin phép mời một vị sư bạn cũ của Bích Khê lên ở với Bích Khê ba ngày đêm để tụng kinh cho chàng nghe. Đến đêm thứ ba thì Bích Khê trút hơi thở cuối cùng. Đúng như lời Bích Khê nói. Lúc ấy là 12 giờ khuya, ngày 15 tháng Chạp năm Ất Dậu (tức là ngày 17/1/1946). Cái chết đến với Bích Khê nhẹ nhàng quá, nhưng cũng chua xót làm sao, khiến ta nghĩ đến bệnh lao, nghĩ đến tuổi ba mươi phải lìa bỏ cõi đời. Nghĩ đến những văn thi sĩ chung số phận: Keats sau mấy năm khắc khoải với vi trùng lao đã từ trần tại La Mã, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng đã chết trong sự cơ hàn cay cực giữa Hà Nội.
Khi mùa xuân tới, khi cảnh vật chung quanh hồi sinh lại, thì Bích Khê qua đời. Bích Khê qua đời giữa mùa xuân loạn ly, ngoài gia đình chẳng có một người bạn về đưa đám.
Rồi từ đó nấm mộ vẫn bằng đất nằm thật buồn qua những năm chiến tranh mà sau mười bảy năm, tôi được dịp về thăm được nằm lại trong căn phòng hoang vắng của Bích Khê mà cửa sổ nhìn ra một sân hoa hồng, những cánh hồng mà tôi và Anne đã hái đến cắm trước mộ thi sĩ để rồi những que nhang chưa cháy hết, những trẻ chăn bò đã đến lấy mang đi...
Đã ba năm qua, từ ngày về Thu Xà, thời kỳ xe đò còn lưu thông suốt trên quốc lộ số I, cho đến bây giờ bao nhiêu biến chuyển của thời cuộc. Chiến tranh lại tàn khốc hơn. Quốc lộ số I bị nghẽn. Quảng Ngãi là vùng có những trận đánh lớn và gay go nhất hiện nay. Gia đình Bích Khê còn lại bà mẹ năm nay đã 85 tuổi cùng người anh trưởng đã dời khỏi căn nhà thân yêu ở Thu Xà để tản cư lên tỉnh. Thu Xà đã trở nên vùng đất bất an mà bom đạn đã thả xuống quanh đó.
Làm sao có lại buổi chiều dưới xóm dừa Cổ Lũy, một bến sông qua Phú Thọ, những mảng đá to nhìn xuống biển xanh. Tôi đã đứng trên cao đó nhìn về núi Thiên Ấn, núi Thiên Bút và dòng sông Trà Khúc uốn mình ven bãi cát trắng chạy dài.
Và phần mộ Bích Khê nằm lại thật đìu hiu khốc thảm cạnh hàng tre già cao vút, giữa một mảnh đất của hội quán mặc cho chiến tranh tràn về. Những con chim lạ có còn về đậu trên mồ Bích Khê và đứa trẻ với đàn bò mà tôi đã gặp ngày thăm mộ có phải lùa bò về thành phố như nhạc Sơn: Đàn bò vào thành phố, reo buồn tiếng hạt chuông...
Tôi nghĩ đến mộ Hàn Mặc Tử được xây trên Ghềnh Ráng cao nhờ sự giúp đỡ của gia đình và bạn bè. Chiều mây về phủ trắng trên tượng Đức Mẹ và nghĩ đến một vùng mộ trồng toàn hoa violettes của thi sĩ Anh John Keats, trên bia không đề tên mà chỉ đề:
“Here lies one whose name was writ in water” (Nơi đây an nghỉ một người mà tên đã ghi trên mặt nước) để rồi ước mong mộ Bích Khê sớm được dời đi xây trên ngọn núi cao của tỉnh Quảng Ngãi. Để tránh những giao thông hào, những làn mưa đạn ngày đêm tràn xuống phần đất khô cằn đó.
Nguồn:
Văn, Sài Gòn, s. 64 (15/8/1966), tr. 42-45.
ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI BÍCH KHÊ
Quách Tấn
Cách đây chừng bốn mươi năm, tại Thu Xà thuộc tỉnh Quảng Nghĩa (Trung nguyên Trung phần), có một cậu bé ngày ngày hì hục lê những tảng đá ong, tập trung những viên ngói bể gạch bể vào trong sân, rồi cặm cụi xây cất nhà cửa lâu dài. Cậu bé thui thủi làm việc một mình, làm việc rất chăm chỉ, rất tỉ mỉ. Cậu xây nhà chính rồi xây nhà phụ, và sau lưng nhà bếp cậu vẫn không quên xây một chuồng heo tí hon.
Nhìn vào lối chơi, ai cũng đoán rằng cậu bé sẽ trở nên một tay thầu khoán hoặc một nhà kiến trúc sư.
Nhưng mọi người đều lầm. Không phải cậu bé tập xây dựng nhà cửa để ở, mà chính cậu ấy tập xây dựng lâu đài văn chương, và lớn lên đã trở thành một nhà thơ mà Hàn Mặc Tử không tiếc lời ca tụng.
Cậu bé ấy đã theo Hàn Mặc Tử về nơi Bất diệt ngót mười lăm năm nay và hiện còn để lại cho chúng ta hai tập thơ: Một tập đã xuất bản rồi và được Hàn Mặc tử gọi là “Một bông lạ nở hương, một thứ hương quí trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc”, và một tập nữa chưa xuất bản mà hương sắc có phần hơn tập kia.
Trước khi thưởng thức hai đóa hoa lạ ấy, chắc các bạn muốn biết rõ cuộc đời của kẻ trồng hoa?
Kẻ trồng hoa ấy - cậu bé tập xây dựng lâu đài văn chương trước kia là: BÍCH KHÊ - Tên Lê Quang Lương, Sanh ngày 21 tháng 2 năm Bính Thìn, tức 24 tháng 3 năm 1916 tại xã Phước Lộc, quận Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, nhập tịch và trú ngụ tại Thu Xà.
Ông thân sinh tên Lê Mai Khê, một bậc túc nho tỉnh Quảng Nghĩa, đã qua đời lúc Khê còn vị thành niên.
Bà thân tên Phạm Thị Đoan, con nhà danh tộc đất Nam Trung, đã gần 80 tuổi, sức khỏe còn tốt, hiện ở Thu Xà.
Bích Khê có tất cả bốn người chị và ba người anh. Khê là con út.
Từ lúc nhỏ Bích Khê đã tỏ ra người thông minh và cường ký. Khi mới vỡ lòng, cùng người chị thứ tám học tại trường cơ bản Thu Xà. Năm 13 tuổi ra học lớp Nhất trường Pháp-Việt, Đồng Hới và năm 1929, đậu đầu khoa thi bằng Tiểu học Pháp-Việt. Sau đó Khê ra học trường Pellerin Huế. Năm 1932, học xong chương trình Trung học, Khê ra Hà Nội học ban tú tài triết học nơi một trường tư.
Ra Hà Nội, Khê kết bạn cùng một người đồng châu và cùng học một lớp, tên là Đ... Đ... mồ côi sớm, nhờ ông cha nuôi cho ăn học. Nhưng lúc bấy giờ ông cha nuôi đã hết khả năng. Nghĩ đến cuộc đời sắp phải dở dang của bạn, Khê quyết định thôi học ở Hà Nội, cùng người bạn trở về nhà, dùng số tiền gia đình cấp hằng tháng để hai người cùng ăn học với nhau.
Nghỉ hè, về nhà Khê xin bà cụ cho phép thực hiện ý muốn. Biết tánh khí của Khê hễ muốn gì thì quyết làm cho kỳ được, bà cụ phải chìu ý con. Khê bèn cùng người bạn đưa nhau vào Phan Thiết sống với người anh ruột làm việc tại đó. Người chị thứ tám, vâng lệnh bà cụ, theo vào Phan Thiết cùng Khê.
Ở Phan Thiết được ông anh đỡ đầu, Bích Khê cùng người bạn ăn học được yên vui. Nhưng Khê vẫn chưa vừa ý. Chàng muốn sống một cách tự do và đầy đủ hơn, mới nảy ra ý kiến mở trường tư và đem bàn cùng chị. Người chị tán thành và lo vận động tài chánh. Nhờ sức ủng hộ của các ông anh, các bà chị của Khê, mà chỉ mấy tháng sau trường mở.
Trường mở năm 1934 và lấy tên là Hồng Đức.
Bích Khê cùng người chị và người bạn dọn nhà ở riêng. Kinh tế tự túc. Để việc chi phí được thêm rời rộng, người chị phải mở thêm một cửa hàng nhỏ để bán sách vở giấy bút cho học sinh.
Trường sống gần hai năm, với lòng tín nhiệm của phụ huynh học sinh, và tinh thần đoàn kết của giáo viên. Bích Khê và người bạn vừa dạy vừa học, vui vẻ và hăng hái. Thình lình người chị bị sở Mật thám tình nghi về chánh trị bắt giải về Quảng Nghĩa giam. Bích Khê phần thương lo cho chị, phàn buồn vì nỗi trường thiếu một tay đảm đương, sanh ra chán nản, bỏ vãi việc trường cho người bạn trông coi. Thừa cơ, người bạn xoay lần lần trường trở thành một tư thục hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của mình!
Việc ấy xảy vào năm 1936.
Trước hành động bội bạc của người bạn chí thân, Bích Khê đau đớn ê chề. Chàng bèn bỏ Phan Thiết, xuống ở chơi.
Nhờ sức ủng hộ của người bạn thân của Bích Khê là Lạc Nhân mà trường được mở sau một thời gian sắp đặt ngắn.
Trường mở vào đầu tiên khóa 1938-1939 và lấy tên là Quảng Thuận do Lạc Nhân làm giám đốc. Các giáo viên đều là thân bằng hiểu biết nau, và phần đông đều là người có tâm huyết lấy việc “khai dân trí” làm tôn chỉ, nên học sinh mỗi ngày một thêm đông. Để thỏa mãn sự đòi hỏi của một số học sinh lớn tuổi, trường phải mở thêm một lớp dạy ban đêm.
Nhưng trường được nhân dân địa phương tín nhiệm bao nhiêu, thì bị bọn thực dân Pháp và quan cai trị Việt Nam để ý và phá rối bấy nhiêu. Do đó nhà trường bị đóng cửa hai lần. Nhưng nhờ lúc ấy Lạc Nhân có chân dân biểu, tự bênh vực nơi nghị trường, nên trường hai lần bị đóng cửa, hai lần được mở lại. Tuy thế việc quấy rầy của cường quyền gây ảnh hưởng xấu cho trường không phải ít. Lại thêm ông chủ trường Hồng Đức, người bạn quí hóa của Khê ngày trước, thừa cơ nước đục, tìm cách quyến rũ một số giáo viên non gan dạ về dạy trường mình. Bích Khê sanh lòng chán nản. Cho nên gần cuối năm 1939, trường bị đóng cửa lần thứ ba, khê không cho Lạc Nhân vận động mở cửa trở lại.
Trường Quảng Thuận đóng cửa, Khê cùng chị trở về Thu Xà.
Năm 1941, sau khi người chị thứ tám đi lấy chồng, Khê buồn ra Huế dạy quốc văn cho trường Phú Xuân. Được 7 tháng bị đau ngự, bèn từ chức trở về Thu Xà.
Đến năm 1942, bệnh phổi taisphats, Khê phải điều dưỡng tại bệnh viện Pasquier Huế. Nằm được 8 tháng, bệnh vừa bớt, Khê xin về nhà điều trị.
Về nhà thuốc thang không ngớt, nhưng bệnh Khê đã không giảm mà cứ tăng. Biết rằng mình mắc chứng nan y, nhưng Khê vẫn nuôi hy vọng có ngày khỏi được, nên ai bày vẽ gì, dù vật khó tìm đến đâu người nhà cũng phải gắng tìm cho kỳ được, món khó ăn khó uống đến đâu Khê cũng cố sức mà nuốt cho trôi. Khê đã từng nuốt thằn lằn sống, ăn cao chó mới sanh, ăn nhau xào với nghệ... Khê lại còn chịu khó theo phương pháp “yên tĩnh tuyệt đối” (repos absolu), ăn uống cũng nằm, tắm rửa cũng nằm, cho đến đi chơi cũng nằm trên giường để người nhà khiêng đi lải rải.
Chạy chữa đủ phương, mà tất cả đều vô hiệu. Sức Khê mỗi ngày mỗi thêm yếu, vóc Khê mỗi ngày mỗi thỏn mỏn dần. Cơn ho luôn luôn dằn vặt và trong lồng ngực dường như thiếu không khí. Nỗi buồn “nghe đất lạnh” thật thấm tận đáy hồn Khê! Khê thường lặng thinh nhìn cảnh vật chung quanh nhà, nhìn người thân yêu, nhìn bóng dáng bạn phương trời và nhìn sự nghiệp văn chương chưa hoàn bị... Lắm lúc động lòng thương xót, sùi sụt khóc một mình!
Bỗng một đêm tiếng vang dội khắp:
- Nhật đã bó tay đầu hàng!
Khê bồn chồn không hiểu nguyên nhân. Sáng ngày mới hay rằng cuộc khởi nghiã của toàn dân Việt Nam được thắng lợi.
Đó là cuộc khởi nghĩa mùa thu năm 1945.
Khê vui mừng quá sức, liền ngồi nhỏm dậy, miệng luôn luôn nói cười. Nét mặt của Khê lúc bấy giờ tươi tỉnh khác thường. Khê hối người nhà đi nghe ngóng tin tức và khi đoàn biểu tình mừng thắng lợi đi ngang qua nhà, Khê nằm trên ghế bố, bắt người nhà khiêng ra ngoài ngõ đón mừng. Từ đấy lòng vui sướng luôn luôn hiện trên nét mặt.
Người chị thứ tám tuy đã có chồng, nhưng thường về nhà săn sóc Khê. Một hôm Khê nói cùng chị:
- Em chắc chết trong mùa xuân sắp đến.
Khê nói thế là vì:
Kỳ nằm nhà thương Huế lần thứ nhất (1937), Khê mộng thấy một bà tiên hiện giữa không trung, giơ tay rải bông vải bay trắng xóa. Bỗng bay chập chờn rồi từ từ rơi xuống mặt đất, hợp lại thành một bài thơ bốn câu báo cho Khê biết rằng chàng sẽ chết vào mùa xuân.
Từ ấy bài thơ ấm ảnh Khê, nhất là khi chứng bệnh tái phát. Mỗi năm xuân đến, Khê nói cùng chị:
- Em chắc chết trong xuân này.
Nhưng những mùa xuân qua êm ấm. Lần lần Khê bớt tin điềm mộng chết về xuân. Rồi ngót mấy năm Khê không nhắc đến nữa.
Sau ngày khởi nghĩa mùa thu, lúc Khê đương vui sống, điềm mộng chết về mùa xuân lại trở lại trong tâm trí Khê.
Tuy thế Khê vẫn không lo buồn và vẫn cứ uống thuốc cùng tẩm bổ.
Một hôm, đương ăn cơm, bỗng nghe tin Tạ Thu Thâu bị giết. Khê sửng sốt, hai hàng nước mắt chảy ròng ròng. Đoạn bỏ đũa đứng dậy vào phòng, nói cùng chị một cách hằn học:
- Sao người ta lại không để người tài đức mà dùng? Một nhân tài có đạo đức như Tạ Thu Thâu, mà người ta nỡ đang tay!!
Nói rồi nằm úp mặt vào gối, và buồn bã luôn mấy tuần.
Sau một thời gian thương xót, Khê vui vẻ trở lại, nói chuyện nhiều, viết lách cũng nhiều. Buổi mai buổi chiều Khê lại thường tụng kinh Di Đà và thường mời bà cụ lên ngồi bên giường nói chuyện để nhắc nhở ơn sanh dưỡng.
Đến tháng Chạp âm lịch (tức tháng 1 năm 1949), Khê cho gia đình biết rằng mình sẽ chết trong tháng song chưa biết rõ ngày giờ. Đoạn gọi người chị thứ sáu lên ghi lời di chúc. Khê di chúc 6 điều mà điều thứ nhất là khi Khết chết không ai được khóc, và điều chót là văn nghiệp của Khê giao cho vợ chồng người chị thứ tám trông coi. Người chị ghi xong, chép kỹ lại rồi cho Khê xem. Khê trao tờ chúc thư cho bà cụ và căn dặn phải theo cho đúng.
Ngày qua chầm chậm. Những cơn ho xé lòng người thân yêu, nhưng nét mặt Khê vẫn thản nhiên, đôi mắt Khê vẫn tươi sáng. Rồi một hôm, cơm tối xong, Khê gọi mẹ vào, âu yếm kéo tay ngồi bên cạnh, thưa:
- Sau ba ngày nữa con sẽ không còn ở với mẹ. Đúng ngày rằm tháng chạp này thì con chết. Trước đây, nằm nhà thương Huế con có làm quen cùng ông sư chùa Phú Thọ, lúc ấy cũng đau phổi như con. Ông ấy hiện đã trở về chùa. Mẹ cho người xuống rước ông lên tụng cho con ba ngày kinh.
Ông sư đến tụng kinh bên giường bệnh. Tụng xong một quyển kinh thì hai người trò chuyện với nhau vui vẻ, tương đắc.
Đến chiều rằm, Khê bảo nấu nước lá thơm tắm gội và thay quần áo mới. Tối đến bảo bà cụ:
- Con còn ở với mẹ nửa đêm nay nữa. Ngày trăm tuổi già của mẹ, con sẽ về rước mẹ đi.
Đêm ấy cả nhà không ai ngủ. Bích Khê trông rất tỉnh táo, nằm lim dim đôi mắt nghe kinh, chốc chốc mở mắt nhìn đồng hồ với một nụ cười hiền lành và tin tưởng. Đến 11 giờ khuya một cơn ho nổi dậy xé ruột người chung quanh. Cơn ho ngớt, Khê đăm đăm nhìn đồng hồ. Đến 11 giờ rưỡi, Khê có vẻ ngạc nhiên, “Ủa, ủa” lên mấy tiếng. Khê ngạc nhiên có lẽ thấy đã nửa đêm rồi mà sao mình chưa chết... Chợt người nuôi ở trong buồng Khê chạy ra, có vẻ sợ hãi, nói:
- Một vầng sáng xanh từ nơi giường cậu Chín bay lên mái nhà trông ghê quá!
Người nhà lật đật vào xen thì không thấy gì cả. Khê vẫn bình tĩnh. Bà cụ lo sợ hỏi thăm, Khê đáp:
- Trong mình con thấy khỏe lắm, con cần ngủ một tí. Mẹ hãy đi nghỉ đi.
Nhìn vẻ mặt nghe lời nói, bà cụ yên tâm. Nhưng bà nằm chưa ấm chiếu thì người nuôi liền gọi cho biết rằng Khê đã tắt thở.
Lúc ấy gần 12 giờ khuya, ngày Rằm tháng Chạp năm Ất Dậu, tức 17 tháng 1 năm 1946.
Tiếng kinh đọc lớn và tiếng nức nở dồn ép vào lồng ngực, vì phải theo đúng lời di chúc của Khê. Nhưng khi đã đậy nắp quan tài thì tiếng than khóc không còn ngăn cầm được nữa!
Bích Khê qua đời nhằm lúc quốc gia hữu sự, nấm mồ tạm gởi nơi đất Hội quán Thu Xà. Kế đó khói lửa bùng cháy, bạn bè không thể lui tới được, ngoài Chế Lan Viên đến thăm một bận, ngót mười lăm năm nay:
Đầy cỏ xanh xao, mây lớp phủ,
Trên mồ con quạ đứng im hơi.
(Nấm mộ B.K.)
Nhưng cảnh thái bình đã trở lại. Rồi đây gia đình và thân hữu còn sống sót của Khê sẽ dời mộ phần của Khê đến nơi thích hợp, có núi có sông, và thay thế “con quạ đứng im hơi” bằng một tấm bia khắc bốn câu thơ của Khê để lại:
Thân bệnh: ngô vàng mưa lá rụng.
Bút thần: sông lạnh bóng sao rơi.
Sau nghìn thu nữa trên trần thế,
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi.
(Đề bia trước mộ)
Tháng 2/1960
Nguồn:
Văn, Sài Gòn, s. 64 (15/8/1966)
CHÚT TÌNH RIÊNG
Quách Tấn
Bích Khê và tôi biết tiếng nhau từ lúc có thơ đăng ở Tiếng Dân và Phụ Nữ Tân Văn, tức vào khoảng 1932.
Nhưng mới kết thân với nhau năm 1939 do Hàn Mặc Tử giới thiệu. Tập “Một Tấm Lòng” và tập “Tinh Huyết” là hai sứ giả sang nước nhau lần đầu tiên.
Rồi chỉ có thơ từ qua lại.
Mãi sau khi Hàn Mặc Tử qui thần, chúng tôi mới giáp mặt nhau và từ ấy tình thương yêu càng ngày càng thêm thân thiết.
Tôi vốn làm việc tòa sứ tại Nha Trang. Lương bổng đủ sống phong lưu, có một ngôi nhà ngói nho nhỏ sẵn sân cổ thọ để ngủ trưa, giếng cam tuyền để tắm mát; vừa gần sông vừa gần chợ, bề tới lui thuận cả buổi mai, buổi chiều. Cho nên anh em văn nghệ quen thân đều lấy Nha Trang làm trạm nghỉ chân khi vào Nam ra Bắc, làm nới dưỡng sức khi mỏi bước giang hồ. Năm ba bạn còn dùng làm viện chứa bản thảo và sách quí.
Trước kia Bích Khê thường qua lại Nha Trang, nhưng vì chưa biết người biết mặt, nên ngại lòng cất đi luôn.
Năm 1941, vào khoảng tháng hai hoặc tháng ba Tân Tỵ, Khê ở Thu Xà viết thư tin cho biết rằng sắp vào Nha Trang chơi. Tôi đợi. Được mấy hôm, Chế Lan Viên ở Sài Gòn về Bình Định, ghé lại thăm. Mừng quá, tôi vội viết thư ra giục Khê vào, chưa vào thì Yến Lan ở Bình Định đi Hà Tiên lại ghé nữa. Cảnh vui thêm vui. Tôi liền đánh điện tín ra cho Khê. Khê đáp “sẽ vào nay mai”.
Chế Lan Viên và Yến Lan đối với Bích Khê cũng in tôi, chỉ quen thân nhau trên bút mực và cũng do Hàn Mặc Tử làm trung gian. Được gặp nhau là một cái thú. Cho nên vui vẻ nằm chờ. Nhưng chờ đến 15 hôm mà không thấy Khê vào, nên kẻ đi Hà Tiên, người về Bình Định.
Viên và Lan đi được hai hôm thì Khê vào! Hỏi:
- Sao vào chậm?
Đáp:
- Đến Sông Cầu ghé thăm ông anh làm y tá thì bị cảm. Ông anh không cho đi. Phải ở lại chữa. Vừa khỏi liền lên đường.
Không gặp được Viên, Lan, Bích Khê rất lấy làm tiếc, song tự an ủi:
- Cũng không sao, ngày xuân còn dài.
BÍCH KHÊ lúc bấy giờ sức khỏe có phần kém. Vóc gầy, nước da mét. Nhưng đôi mắt đen nhánh và sáng ngời. Năm ấy Khê mới 26 tuổi, nhỏ hơn tôi đến 6 tuổi. Tánh e lệ, nhưng tình rất nồng nàn. Vừa gặp nhau liền quyến luyến như như đôi “trai gái”.
Khê ở chơi được 20 hôm. Những buổi tôi đi làm thì Khê nằm ở nhà đọc sách. Lúc tôi ở nhà thì hết hỏi chuyện nầy đến nói chuyện nọ, luôn luôn cận kề nhau. Chiều chiều gần giờ bãi sở, Khê lững thững đi đón tôi để cặp tay nhau chung về... Thái độ và cử chỉ của Khê đối với tôi thật không khác Hàn Mặc tử ngày trước! Và tôi thương yêu Khê cũng không kém Tử buổi sanh tiền.
Trong câu chuyện chúng tôi thường nahwcs đến Tử và nhiều khi ngã vào nhau mà khóc ròng!
Hỏi đến đời tình ái của nhau. Khê không chút giấu diếm. Thì ra Khê vẫn còn là một cậu đồng nam và cách đối xử với đời không mấy khi dám sai lời Khổng Tử viết. Thế mà trong Tinh Huyết lại nhan nhản những cái lịch duyệt mà chỉ có người thật sự lịch duyệt mới biết được, cảm được! Tôi toan hỏi thật Khê. Nhưng nghĩ đến Vũ Trọng Phụng, một nhà văn bất kham về sắc giới, mà lại viết Liêu Trai Chí Dị chứa đựng toàn những đệ nhất sướng khoái trong thế gian, tôi bèn đình chỉ.
Tôi lại chợt nhớ lại.
Một hôm cùng Chế Lan Viên nói đến Bích Khê, Viên nói:
- Khê bị bệnh “tự do xuất dương”.
Tôi cười:
- Sao lại nhè bệnh quốc cấm mà mắc! Nhưng mộng, hay di?
- Phải chi mộng cho đỡ khổ!
- Sao biết?
- Trên đời có gì giữ mãi được bí mật... Và cũng vì không làm việc trên thực tế được, Khê phải làm việc trong thơ.
- Do đó Khê đi đến “cõi nan y”.
Nghĩ đến đó, lòng đương vui trở ngùi ngùi...
Để chữa bệnh cho Khê, tôi nhờ người bạn học là B.S. Lê Văn Tân đến coi mạch và cho y tá đến tiêm kim. Vì công không nhiều, tốn kém cũng không mấy, nên Khê không nỡ chối từ. Lại thêm Tân cũng thích nghe Khê nói chuyện thơ, nên mỗi ngày đến thăm nửa giờ hoặc một vài giờ vẫn không lỗ lã. Tân thường nói:
- Cũng thì SỸ mà Bác Sỹ và Thi Sỹ sống trong hai thế giới trái ngược nhau. Một bên thấy toàn sắc đẹp ngửi toàn hương thơm, nghe toàn tiếng du dương thanh thoát... Một bên ngày nào cũng thấy toàn những nhơ bẩn gớm guốc, ngửi toàn mùi tanh hôi của xương máu, của thuốc men, nghe toàn những tiếng rên, tiếng la, thiếng thét, cả tiếng chửi rủa... Nhưng nếu tôi nhìn vào sọ người mà thấy “buồng xuân hơ hớ cánh đào sương” nhìn vòa người đàn bà nằm trên bàn mổ mà thấy “nhan sắc lên hương”... thì mỗi ngày trước nhà ít ra cũng có một âm hồn đến đòi thường mạng.
Ít hôm sau lại nói:
- Làng chơi bảo rằng hút nha phiến ban đầu thấy đắng và say rất khó chịu, nhưng hút vài lần thì thấy ngon rồi lần lần sanh nghiện. Nghe các anh nói chuyện thơ sao giống hút nha phiến quá. Không khéo tôi mắc bệnh nghiện thơ, chớ chẳng chơi! Mắc bệnh gì nguy hiểm mấy cũng có thể chữa khỏi được. chớ nghe nói bệnh nghiện thơ là bệnh nan y. Phải không hai “cha”?
Nghe nói bệnh gì nguy hiểm mấy cũng có thể chữa khỏi được, tôi hỏi riêng Tân:
- Bệnh Khê có hy vọng khỏi chứ?
- Đừng cho bệnh nhân biết nhé! Bệnh Khê đến thời kỳ thứ hai rồi. Chỉ có thể chận đừng cho vi trùng Koch bành trướng để giữ phần phổi còn tốt đó thôi. Nhưng trường hợp Khê rất khó! Bởi vòi rồng bị sút nút, thuốc bổ nhập nội đều lén cho “xuất ngoại” hết... Như vậy lực lượng làm sao có đủ để “chống xâm lăng?!”. Phải tìm cách “bế quan tỏa cáng” trước.
- Cưới vợ có được chăng?
- Ý! Đừng bày! Sẽ làm “con nai vàng ngơ ngác đạp lên lá vàng khô” đó.
- Sao vậy?
- Anh ngu quá! Bởi vì chưa đủ sức “tự vệ” còn sức đâu nữa để “phục vụ”? Không phục vụ được thì... có sừng có gạc chớ sao. Thôi, anh cứ yên tâm, để tôi lo liệu. Cứ tận nhân lực, miễn các anh đừng biến tôi thành thi sỹ là được.
Ngoài anh Lê Văn Tân đến mỗi ngày hoặc hai lần, còn có ông bạn vong niên Trần Khắc Thành và người bạn đồng sự Nguyễn Tử Anh đêm nào cũng đến chơi đến chín, mười giờ mới về.
Ông bạn Trần Khắc Thành, hiệu Thuần Phu, là một nhà nho uyên thâm, thơ quốc âm cũng lão luyện. Ông cụ rất thích thơ cũ của Khê, còn thơ mới thì “chịu không nổi”. Nguyễn Tử Anh trái lại, chê thơ cũ của Khê “không hồn” và khen thơ mới của Khê (chung chiếu cùng Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên thật cân xứng”.
Nguyễn Tử Anh học rộng và có đôi mắt xem thơ rất sắc bén. Một hôm hỏi tôi:
- Đem nhân vật trong Tam Quốc mà sánh, thì anh sánh Bích Khê, Chế Lan Viên là Mã Siêu, Hàn Mặc Tử là Triệu Tử Long.
Tử Anh nói:
- Tôi lạ thấy Bích Khê giống Lã Bố và Tào Tháo.
Bích Khê vội khoát tay:
- Không, không. Tôi không làm Lã Bố cũng không làm Tào Tháo. Nếu không làm được Phung Sồ, Huỳnh Trung thì thà làm Tôn Quyền, Hạ Hầu Đôn còn hơn. Tôi ghé là Bố và Tào Tháo thậm tệ.
Tôi nói:
- Khi đọc những bài thơ mới đầu tiên của Khê gởi đến, Tử viết thư vào cho Trọng Miên có câu: “Xem xong tập thơ tôi không khỏi phập phồng lo ngại, muốn gào lên rằng trời đã sanh Chu sao còn sanh Lượng”. Như thế là Tử sánh tài Khê như tài Khổng Minh và tài Tử như tài Chu Du. Tức là Tử chịu nhượng Khê rồi đó.
Khê thành thật đáp:
- Tôi biết thơ tôi chưa theo kịp thơ Tử. Thơ Tử đã lên đến độ “xuất thần nhập hóa”. Tôi phải tu luyện lâu ngày mới với tới vai Tử được. Sánh Tử là Gia Cát Lượng, tôi là Bàng Thống đúng lắm. Phải công nhận Bàng Thống thua Gia Cát Lượng xa. Một bên ung dung... một bên bôn bức. Tánh tôi thật giống tánh Phung Sồ.
Tử Anh hỏi tôi:
- Thơ Tử và thơ Khê khác nhau ở chỗ nào?
Tôi đáp:
- Thơ Khê chuộng cốt cách, thơ Tử chuộng tiết điệu. Nói theo kiểu mới: thơ Khê là Điêu khắc, thơ Tử là Âm nhạc. Cho nên đọc thơ Khê phải để ý từng cái phết, cái chấm phết..., từng chỗ ngắt câu xuống hàng. Còn thơ Tử thì nhạc đi trước, lời đi sau rốt. Cho nên đọc thơ Tử đừng chấp ý mà hại lời, đừng chấp lời mà hại nhạc. Do đó thơ Khê phải đọc kỹ mới nhận thấy cái đẹp cái hay, còn thơ Tử nghe qua là thích, lắm lúc không cần tìm hiểu Tử muốn nói gì.
Khê sung sướng nắm tay tôi:
- Vậy sao lâu nay anh không viết ra cho chúng tôi đỡ khổ?
Tôi cười:
- Nếu Bá Nha nghe lời phê bình của Tử Kỳ trong nơi ngàn tai muôn mặt, thì đâu còn cái thú đoạn cầm.
Nguyễn Tử Anh lại đem hai bài Sọ người của Bích Khê và Chế Lan Viên ra so sánh. Đây bài của Viên:
Này chiếc sọ người kia mi hỡi!
Dưới làn xương mỏng mảnh của đầu mi,
Mi nhớ gì, tưởng gì trong đêm tối?
Mi trông mong ao ước những điều chi?
Mi nhớ đến cảnh pháp trường ghê rởn
Sọ muôn người lần lượt đuổi nhau rơi?
Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn
Hồn mi bay trong đám lửa ma trơi?
Có tìm chăng, những chiều không tiếng gió,
Của người mi thi thể rữa tan rồi?
Có tưởng lại mảnh hồn mi đau khổ
Đang lạc loài trong cõi chết xa xôi?
Hỡi chiếc sọ, ta vô cùng rồ dại
Muốn giết mi trong sức mạnh tay ta!
Để những giọt máu đào còn đọng lại
Theo hồn ta, luôn chảy những lời thơ.
Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ!
Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô!
Để nếm lại cả một thời xưa cũ
Cả một dòng năm tháng đã trôi qua.
Và đây, bài của Khê:
Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng!
Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương!
Ôi bình vàng! Ôi chén ngọc đầy hương!
Ôi hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng!
Ôi thần tỉnh! Người chứa một trời thương.
Người yên tịnh nhưng người đi muôn dặm
Máy thu thanh hòa âm nhạc thơm tho!
Miệng yêu kiều mơn ánh sáng say no!
Nguồn trinh tiết gây hồng tươi xanh thắm!
Bầu sữa người êm mát vạn sầu lo.
Một đêm vàng – một đêm vàng âm điệu
Đầy nhựa thơm, xanh mịt ngàn phi lau
Mộng ngời lên bay đến một bến tàu –
Biển ngọc bích, thuyền buồm say sóng dịu;
Hương ngọt ngào, ánh sáng chớp mau mau.
Hương say người như say men tình ái,
Kề ngực trăng người mớm vị say sưa.
Người chưa say vì hương vị chưa bưa:
Dìm trăng xuống một vùng trăng nước giãi
Và xóa lên… diêu động bóng ngàn xưa.
… Hoa thần bí vấn vương hồn ngọc nữ;
Động đào nguyên chấp chóa ánh lưu ly;
Ô! sắc phàm trên bộ mặt từ bi;
Ô! tiên nương trong tình xuân đầy ứ;
- Một u sầu dìu dịu của cung phi.
Ôi! Sọ người! Sọ người! – Gương phép tắc!
- Ngọc Kiều ơi! ghé lại ngắm dong nhan.
Ngọc Kiều ơi ta chợp thấy tim nàng,
Tim nàng bằng đá, tim nàng bằng sắt.
Ngọc Kiều! hơi độc sắp tràn lan!
Người ngất ngư – Chết trong muôn thế kỷ!
Chạy điên rồ… đứng sựng giữa xương ma.
Người là ai? Người có phải là ta?
Tử Anh hỏi tôi:
- Anh thấy sao?
Tôi đáp:
- Chế Lan Viên đem chiếc sọ người ngâm vào cường toan của tưởng tượng để tìm lại nguyên chất của nghìn xưa. Còn Bích Khê thì tán chiếc sọ người ra thành bột rồi trộn lẫn với bột tưởng tượng, nặn thành những hình tượng láng bóng và trắng tinh. Cho nên nhìn vào sọ người của Viên thì thấy “Muôn ma Hời sợ soạng dắt nhau đi” và “Những bóng người vùn vụt đuổi bay ra” (1). Còn nhìn vào sọ người của Khê thì thấy “Đường non khéo điêu khắc những dáng hình khỏa thân” (2)
Tử Anh nói:
- Đọc thơ Chế Lan Viên tôi có cảm giác nhìn một thơ âm hồn ở dưới mồ chui lên, chập chờn phương phát. Đọc thơ Bích Khê như đứng ngắm một giai nhân ở trong tòa nhà lộng lẫy bước ra, ngắm chưa đã thì giai nhân vụt hiện thành một bộ xương trắng trên đầu có mớ tóc bờm xờm!
Bích Khê thích chí cười:
- Các anh có một lối phê bình vui quá!
Ông bạn Thuần Phu nằm nghe, nửa ngủ nửa thức, thỉnh thoảng nói:
- Nói toàn chuyện bá láp!
Có lần ông cụ hỏi Khê:
- Đương làm thơ luật hay như thế, tại sao lại nhảy đi làm thơ bất thành nhân dạng như thế?
Khê toan đáp. Tôi ngăn lại:
- Nói với ông cụ này 10 năm cũng không đánh đổ nổi bức tường thành kiến kiên cố hơn cả dãy Lũy Thầy.
Ông cụ cười ha hả:
- Tôi mà có quyền thì các anh bị cột đá thả trôi sông hết. Nghe nói thơ mới của các anh thật muốn phát điên.
Nói là nói vậy chớ từ ngày gặp Khê, không đêm nào ông cụ khiếm diện. Có khi đến chơi cả ban ngày, lúc tôi đi làm việc. Ông cụ đến rủ Khê đánh cờ. Biết tánh ông cụ hễ ngồi vào bàn cờ thì dù giặc có đến cũng đợi đánh cho hết ván rồi mới chịu chạy, nên tôi dặn Khê:
- Có muốn giải khuây chốc lát thì phải hẹn trước với ông cụ, ăn thua chi cũng vậy, không được kéo quá 1 giờ đồng hồ. Nhưng lúc nào trong mình không khỏe thì dù ông cụ nài nỉ mấy cũng đừng ngồi vào bàn. Ông cụ không bao giờ giận đâu mà ngại.
Khê đánh cờ vừa sạch nước cản, đánh sao cho lại ông cụ nổi tiếng cao cờ từ lúc thanh xuân. Thế mà thỉnh thoảng Khê lừa ông cụ, thắng được một vài ván, khiến ông cụ tức mình phá ước lệ buộc phải kéo dài cuộc chơi hàng giờ! Nhà tôi sợ Bích Khê ngồi lâu mệt,nên sau mấy hôm, lén lấy dấu mất bàn cờ.
Tôi có mấy bộ thơ Đường (Cổ Xụy, Quán Châu, Hợp Tuyển) và đã phiên âm cùng dịch nghĩa đen độ năm sáu trăm bài. Khê rất ham thích đọc. Những lúc ông cụ Thuần Phu đến mà không tìm thấy bàn cờ, thì Khê đem thơ Đường ra thảo luận. Ông cụ ghiền thơ Đường em – em ghiền cờ. Cho nên đã đến là không về gấp được.
***
Khê thú thật cùng tôi:
- Tôi xem thơ Đường rất ít. Tôi chỉ được những bài Tản Đà trích dịch đăng ở các báo chí. Tôi thường nghe thơ chữ Hán của các nhà cách mạng tiền bối nước ta. Nay đọc những bài thơ Đường anh phiên âm tôi thấy thích thú quá. Nhưng có nhiều bài tôi không nhận thức hết ý nghĩa. Cụ Thuần Phu dường cũng không lãnh hội thấu đáo những chỗ tinh diệu của thơ Đường?
Tôi đáp:
- Cụ Thuần Phu, học lực uẩn tạ. Song cũng như các nhà nho chuyên về thơ cử nghiệp, cụ nặng bên qui luật hơn bên tâm hồn và chỉ ưng thưởng thức vị trong vị chớ ít chịu lắng lòng theo “tiếng đàn ngoài giây tơ”. Não quí vị ấy rất thực tế, cho nên những gì quí vị không thấy được bằng mắt, không rờ được bằng tay, không nghe được bằng tai, không nghĩ được bằng trí... quí cụ đều cho là hoang đàng và nhất định không chấp nhận. Thơ Đường thực trong mơ, mơ trong thực, biến hóa như nhân vật trong Liêu trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. Cứ “ngang ngay sổ thẳng” thì làm sao đi vào cõi tinh diệu được. Phải đi vào thơ Đường bằng trực giác mới biết rõ chân vị, bằng không thì chỉ thấy vẻ đẹp ở bên ngoài.
Thỉnh thoảng tôi đem những chỗ sở đắc về Đường Thi nói cho Khê nghe.
“Mùa Cổ Điển” của tôi lúc bấy giờ còn nằm trong bản thảo và Chế Lan Viên cũng chưa đề tựa. Nằm ở nhà Khê vừa xen thơ Đường, vừa xem những tập “Notes” của Chế Lan Viên ghi chép những lời của các thi hào Pháp nói về Thơ Thuần Túy, vừa đọc bản thảo “Mùa Cổ Điển”, Khê bảo tôi:
-Thơ “Mùa Cổ Điển” là “con la Việt Nam” do “con ngựa Đường thi phủ con lừa Tượng trưng Pháp” mà sanh ra.
Tôi cười:
- Phải nói là “con lừa Tượng trưng Pháp phủ con ngựa Đường thi” thì đúng hơn. Vì thơ tôi nằm trong lòng Đường thi lâu ngày, còn thơ Tượng trưng Pháp chỉ “gần gũi một đôi lần ngăn ngắn”.
- Theo anh thì thơ Tượng trưng Tàu và thơ Tượng trưng Tây khác nhau ở chỗ nào?
- Người thơ Á đông để lòng mình hòa đồng cùng cảnh vật. Người thơ Âu Tây bắt cảnh vật phải biến hóa theo lòng mình. Cho nên hình ảnh trong thơ Tượng trưng của Đông phương là hình ảnh thiên nhiên, hình ảnh trong thơ Tượng trưng Tây phương đều là hình ảnh do thi nhân sáng tạo hoặc biến chế. Thơ Tượng trưng Tây phương phong phú. Thơ Tượng trưng Đông phương thanh phú. Thơ Tây phương động. Thơ Đông phương tịnh. Thơ Tây phương đi sâu vào lòng người. Thơ Đông phương đi sâu vào lòng tạo vật.
Khê khen:
- Anh xem thơ chín quá
Tôi cải chính:
- Không phải chín. Tôi chỉ xem với “con mắt riêng” của tôi. Tôi biết rằng những bài thơ hay là những mảnh ốc xà cừ, mình phải tìm thưởng thức những màu sắc mà người ta chưa chỉ cho mình thấy. Đó chỉ là “hiện tượng” chớ đâu phải “chân như”.
Khê cười:
- Anh giỏi Đạo Phật không?
- Đức Thích Ca là Phật đã thành, tôi là Phật chưa thành. Như vậy Đạo Phật ở ngay trong mình chớ phải đâu ở nơi sách vở kinh kệ, mà bảo giỏi với dở.
Khê thích chí cười to:
- Sao anh lại nói “tôi” phải nói “chúng ta” chớ.
- Không phải tôi quên. Tôi nói “tôi” là vì sợ anh không chịu “thành phật” mà nhất định đòi lên “Thiên đàng” sanh ra sự níu kéo lôi thôi.
- Thiên Đàng và Niết Bàn, theo tôi là hai tên chỉ một chốn là Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa... là những con đường để đi tới chốn cực lạc và vĩnh cửu đó vậy.
- Quan niệm anh thật giống quan niệm Hàn Mặc Tử. Nhưng tôi “thấy”, Thiên Đàng, Cực Lạc, Niết Bàn là ba nơi khác nhau. Anh có theo Đạo Thiên Chúa mới được lên Thiên Đàng và một khi được lên đó rồi thì ở đó hưởng ơn phước đời đời. Còn Cực Lạc và Niết Bàn ai vào cũng được, miễn người đó giác ngộ chánh pháp. Và muốn vào Niết Bàn được dễ dàng thì nên tu hành để lên Cực Lạc trước. Một khi vào Niết Bàn rồi mà tự nguyện xuống trần thế để cứu độ chúng sinh thì được toại nguyện ngay. Niết Bàn cón có Hữu Vi Niết Bàn và Vô Vi Niết Bàn. Ở Hữu Vi Niết Bàn, nếu vì một niệm mà vô minh khởi, thì bị đọa tức khắc...
Khê cười:
- Đó là lời của “Phật đã thành” nói, hay của “Phật chưa thành” nói? Nhưng thôi, Phật nào cũng là Phật...
Rồi nhìn tôi một cách hóm hỉnh:
- Cái tướng anh mà thành Phật! Tôi ngại quá! Trong Nam nghe nói có những “ông phật sống”... Muốn thành Phật thì anh đợi chết rồi sẽ thành. Chớ còn sống mà thành như cái vị trong Nam kia, thì việc ấy xin đừng vậy.
Đoạn trở lại với thơ Đường luật. Khê nói:
- Anh đã thành công với “Mùa Cổ Điển”. Tuyệt tác là bài “Đêm thu nghe quạ kêu”. Nội bài đó, anh cũng đủ sống vĩnh viễn rồi. Nhưng vì sao anh lại làm bài đó?
Tôi bèn kể cho Khê nghe nguyên nhân (3). Khê than:
- Hèn chi tôi đọc thấy một nỗi buồn lành lạnh man mác. Tôi đã đọc nhiều thơ Ta thơ Tây, tôi cũng thường gặp nhiều bài có cái buồn của “Đêm thu...”. Nhưng cái buồn trong các bài thơ kia ban đầu thì đậm, nhưng đọc vài lần nó phai dần. Trái lại nỗi buồn trong thơ anh, ban đầu nhè nhẹ song càng đọc nó lại càng thấm thía và đi sâu mãi vào tâm hồn. Tôi không hiểu “tại sao?”. Nay anh nói rõ nguyên nhân, tôi có thể kết luận: nguồn cảm xúc nằm lâu trong tâm hồn mình chừng nào thì làm rung cảm tâm hồn người lâu chừng nấy, và mình rung cảm sâu đậm chừng nào thì làm cho người rung cảm sâu đậm chừng nấy.
- Bởi vậy làm thơ trước hết phải uẩn nhưỡng tâm tư rồi mới thôi xao từ điệu.
- Vâng, trái cây để cho chín mùi rụng xuống ăn mới thật ngon. Phải để cho “trái tâm tư” thật chín, chớ đừng hái trong khi mới chín tới. TrongTinh Huyết, xin thú thật, có nhiều bài tôi “dú ép”.
- Tập Đẹp đã gần xong chưa?
- Mới được chừng mười bài. Có một ít bài Đường luật nhưng không Đường như “Mùa Cổ Điển”. Thôi thể thơ này đã có anh lo, tôi không bận tâm đến nữa.
- Hàn Mặc Tử bảo tôi là người ôm giữ gốc tre làng.
- Tôi nghĩ khác: anh là con trưởng nam phảo lo việc “nối dõi tổ tông” và “giữ gìn ruộng hương hỏa”. Chúng tôi là thứ nam phải lo gây dựng sự nghiệp mới, thỉnh thoảng trở về từ đường xem anh có lén bán ruộng ông bà để mua quà tặng cho các nàng Tho Tân thời chăng, có sánh thêm được mụn con nào mặt mũi sáng sủa chăng. Chúng tôi không nên ở nhà. Anh lại không nên bỏ nhà đi. Ai có phần nấy... *
Một hôm, Nguyễn Tử Anh hỏi thăm Khê về cuộc tình duyên giữa Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm, vì biết Mộng Cầm là cháu ruột Bích Khê.
Bích Khê vụt nói:
- Cái thứ đàn bà!
Tử Anh vội la lớn:
- Ấy, ấy! Đừng nói dại mà bị ăn cơm tiệm với anh Tấn đó. “Đàn bà ba thứ đàn bà” kia mà!
Khê cười:
- Tôi nói “thứ đàn bà tình nhân”, chớ ai dám nói động đến “đàn bà vợ”.
Tôi chen vào:
- Hãy nói về Mộng Cầm đi. Nói xem tình Mộng Cầm đối với Tử có đúng như Tử nhận xét chăng.
Khê nói:
- Mộng Cầm quen với Hàn Mặc Tử đã lâu. Hai bên có thơ từ qua lại với nhau từ khi Tử còn làm sở Đạc Điền ở Qui Nhơn. Nhưng mãi đến lúc Tử vào Sài Gòn làm báo mới ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Mộng Cầm có đưa Tử đến gặp tôi một lần tại trường Hồng Đức. Lúc ấy tôi xem thường Tử lắm, nên chỉ nói chuyện qua loa vậy thôi. Mà Tử đến Phan Thiết vì Mộng Cầm, nên với tôi cũng chỉ đến thăm xã giao vậy thôi.
Tôi hỏi:
- Mộng Cầm có yêu Hàn Mặc Tử thật sự chăng!
Khê nổi cáu:
- Anh hỏi Mộng Cầm chớ sao lại hỏi tôi?
- Mộng Cầm ở đâu đây mà hỏi.
Khê bật cười, đáp:
- Không yêu mà chiều thứ bảy nào, tử cũng ra Phan Thiết để cùng Mộng Cầm đi chơi với nhau cho đến chiều chúa nhật hôm sau mới vào Sài Gòn. Hai bên giao tiếp thân mật với nhau ngót hai năm trời mà nếu không yêu nhau thì chỉ có gỗ đá.
Tôi đem kể cho Khê và Anh nghe câu chuyện “Đi chơi lầu Ông Hoàng gặp mưa, ngồi đụt dưới một tấm bia ở nghĩa địa Phan Thiết” mà Tử đã kể cho tôi nghe năm 1936 (4). Tôi không quên những chi tiết “ánh lửa cứ hừng lên rồi lại tắt, tắt rồi lại hừng. Đồng thời lại nghe tiếng rền, ầm ầm như tiếng thúng sắt lăn trên đường trải đá” trong “túp lều tranh xiêu vẹo tồi tàn ở cách tấm bia Tử và Mộng Cầm ngồi chừng vài ba mươi thước”.
Bích Khê nói:
- Tôi có nghe câu chuyện hai người đi chơi Lầu Ông Hoàng bị mắc mưa vào đụt nơi nghĩa địa. Song không biết rõ chi tiết. Vốn không có tánh tò mò nên không hỏi cặn kẽ làm chi.
Tử Anh hỏi:
- Không biết ánh lửa và tiếng rên kia do đâu mà ra?
Khê đáp:
- Nghĩa đại Phan Thiết, ma có tiếng!
Tôi nói:
- Tôi không tin là ma. Chiếc lều tranh xiêu vẹo tồi tàn của Tử, tôi e không phải là “lều tranh” mà là “lều lợp tole”. Trong lúc trời bị che trăng, Tử “trông gà ra cuốc”. Và dưới nền lều chắc có vài tấm tole rơi nằm ở đó. Trời mưa chớp giăng. Những tấm tole dưới đất phản chiếu ánh chớp lạch thành những ánh lửa hừng rồi tắt, tắt rồi hừng. Và gió mạnh làm lay động những tấm tole trên mái lều thành ra những tiếng mà trong lúc sợ sệt, tử nghe như tiếng thùng sắt lăn trên đường trải đá... Ngồi nơi bãi tha ma trong đêm mưa gió, Tử in trí rằng những hiện tượng kia do ma quỉ biến hóa để làm cho mình khiếp vía chơi.
Khê và anh gật đầu:
- Cũng có lý.
Rồi anh hỏi Khê:
- Lúc ấy anh đã thân với Tử chưa?
- Chưa. Tôi thân với Tử sau khi Tử mang bệnh ngặt nghèo. Mà tôi thân Tử vì yêu những bài thơ mới của Tử chớ không phải vì thương về bệnh. Rồi thơ và bệnh nhập lại thành một thứ keo thiêng liêng mỗi ngày mỗi gắn chặt hai tâm hồn lại với nhau.
Tôi ba lơn:
- Thấy đã có anh yêu Tử, Tử khỏi bơ vơ, nên Mộng Cầm mới giao Tử cho anh mà đi lấy chồng đó.
Khê liền nói một cách gắt gỏng:
- Con người như thế có đáng ghét không?
Tôi đáp:
- Không đáng ghét tí nào cả.
Khê trợn mắt:
- Anh cho việc Mộng Cầm đi lấy chồng là phải?
- Vâng.
Khê đứng phắt dậy, bỏ đi nơi khác. Tôi theo bỏ nhỏ:
- Sao nóng thế? Thảo luận đã nào.
- Còn thảo luận gì nữa? Anh chấp nhận những cái xấu, cái tệ của bọn phụ nữ!
Tôi cười:
- Vậy anh buộc mấy cô tình nhân của anh phải trung thành sống đời với anh ư?
Khê hơi dịu:
- Ai buộc được.
Tôi tấn công tiếp:
- Vậy nếu họ có chồng?
Khê làm thinh có vẻ suy nghĩ. Tôi ôm vai Khê dìu lại chỗ cũ:
- Anh quên chuyện “quạt mồ và vát vồ tháo sang” của Trang Chu rồi sao? Mà có lẽ anh cũng quên nốt rằng sanh mới say sưa cảnh núi, vụt bỏ núi xuống biển; mới say sưa biển đó, vụt bỏ lên chùa...
- Sao anh lại đem người sánh với cảnh?
- Anh nghĩ cảnh không bao giờ phụ người mà người còn phụ chúng như thế, huống hồ người với người đều là giống phụ phàng! Riêng về Mộng Cầm, tôi xin hỏi anh: Tử có trung thành hoàn toàn với nàng không mà bảo nàng phải hoàn toàn trung thành suốt đời với Tử?
- Ai bảo trung thành suốt đời? Chỉ nên đợi một thời gian lâu lâu một chút rồi sẽ có chồng cũng chẳng muộn gì. Sao vừa nghe Tử mặc bệnh nặng liền dứt tình như thế?
Tôi phá lên cười. Khê bực mình hỏi:
- Anh cười gì?
- Cười anh chóng quên. Bệnh Tử phát vào năm 1937. Nếu tôi không lầm thì Mồng Cầm “ở vậy” gần một năm sau mới ra đi lấy chồng kia mà! Huống hồ đã đi lấy chồng thì dù ở nán lại vài ba năm nữa rồi cũng đi. Như vậy có “ích lợi” chi cho đạo thủy chung? Mộng Cầm hành động như thế là thành thật với lòng mình và không muốn làm việc giả dối để mua tiếng tốt với đời. anh vốn thích người chân thật, sao lại bất bình một cách bất công như thế?
Khê ngồi làm thinh hồi lâu rồi bỏ vào giường nằm, vừa đi vừa nói.
- Người đời đã bạc, anh còn khuyến khích thêm!
Nguyễn Tử Anh và tôi nhìn theo Khê, mỉm cười. Rồi Anh bảo tôi:
- Chắc Mộng Cầm không thiết tha yêu Tử nên mới có thể đi lấy chồng một cách dễ dàng.
- Tôi đã từng đọc thư Mộng Cầm gởi cho tử. Nếu anh được xem bức thư nàng gởi cho Tử năm 1936 lúc anh Mộng Châu bị nạn mất ở Phú Yên, chỉ xem một bức ấy thôi, thì anh cũng có thể đo được mức thiết tha của tình yêu đôi bên... Mộng Châu là anh ruột Tử và Mộng Cầm tỏ ý muốn... Thôi nàng đã có chồng rồi, nhắc lại không hay ho gì... Xin cho qua... Có yêu cũng được, không yêu cũng được, yêu tha thiết cũng được, yêu không tha thiết cũng được, miễn có cái đinh là MỘng Cầm để treo những bức tranh tình của Tử cho thế gian xem là được rồi. *
Một hôm chúa nhật, cụ Trần Khắc Thành, Nguyễn Tử Anh và tôi đưa Bích Khê ra chơi Hòn Chồng.
Hòn Chồng là một cụm đá to lớn nằm nơi mé biển Cù Lao, cách Nha Trang chừng ba bốn cây số. Đó là một thắng cảnh của tỉnh Khánh Hòa.
Khắng khít thớt em nương thớt chị,
Vững vàng hòn cháu đỡ hòn ông.
Sóng xô đẩy mãi bền gan sắt,
Rêu buộc ràng thêm chặt giải đồng.
Đương nằm tựa đá nhìn nước nhìn trời cụ Thuần Phu, trần Khắc Thành ngồi dậy nói một cách thích khoái:
- Năm ngoái năm kia, bọn mình thường hưởng cảnh biển rộng trời cao ở Hòn Chồng. Nay có khác xưa một điểm là ông Bích Khê thế bà Liên Tâm. Cái thú của ông Tử Anh và của tôi không khác, chớ ông Tấn chắc khác?
Nói rồi cười ha hả.
Bích Khê liền chổi dậy vỗ vào đùi tôi:
- Đã định vô đây xem cho thấy mặt, thế mà hổm nay quên lửng! Sao không giới thiệu?
Liên Tâm là người Hương Bình, văn thái phong lưu, quen thân với tôi tại Nha Trang từ năm 1938. Sau vì hoàn cảnh bắt buộc phải ra Hà Nội, để lại một tập thơ nhan là “Sợi Tơ Lòng”.
Trong “Sợi Tơ Lòng” có một bài được Tản Đà và Hàn Mặc Tử tán thưởng là bài SỢI TƠ MÀNH:
Thành xa mấy bận trống sang canh,
Thổn thức mình riêng cảm nỗi mình.
Cao cả chưa đền ơn chín chữ,
Nặng nề thêm ngán nợ ba sinh.
Chòm hoa dưới nguyệt so le bóng,
Tiếng hát bên sông bận bịu tình.
Nhện báo tin gì sa trước mặt,
Gió đưa lăng líu sợi tơ mành!
Chế Lan Viên khen những câu:
Tỉnh mộng nằm ôn tràng mộng cũ,
Mong thơ lần giở xấp thơ xưa.
(Nhắn ai)
Nhớ chập chồng non mây sớm tối
Tình lai láng biển nước đầy vơi
(Lại nhắn ai)
Là “những câu thơ hay trong những câu thơ hay của Việt Nam từ xưa để lại”.
Tôi có trích một số bài gởi ra cho Bích Khê. Bích Khê liền gởi vào một bài đề là:
GỞI LIÊN TÂM NHỜ QUÁCH TẤN TRAO LẠI
Canh sương tiếng hát vẳng kia sông,
Thơ đẹp em đang ướp cạnh lòng.
Thưa chị đêm nay dường nhớ quá!
Đưa thư hồng nhạn biết mang không?
Một nhành mai trắng long lanh ngọc,
Đôi cụm sao vàng lớt đớt bông (5)
Muốn thấy người xa trong giấc mộng,
Khuya lơ còn tựa ở bên song.
Nghe nói Liên Tâm không còn ở Nha Trang nữa, Bích Khê liền hỏi tôi:
- Vậy 5 vần thơ của tôi “hồng nhạn”có mang đến cho nàng không?
- Có, vì lúc ấy “đường mây chưa có sấm sét”.
Đoán biết ý Khê muốn rõ tại sao Liên Tâm lại “thừa hoàng hạc”, Tử Anh đọc mấy câu trong Sợi Tơ Lòng:
Từ đây thân gái chữ tòng,
Ra đi ôm một tấm lòng anh theo.
Rồi nói:
- Ba chữ “một tấm lòng” viết hoa cũng được không viết hoa cũng được. Thật tình mà cũng thật khéo! Dường như tập Một Tấm Lòng của anh Tấn ra đời, số Thiên đình đã định, để làm quà tiễn biệt Liên Tâm!
Bích Khê thở dài:
- Cũng là theo chồng!
Cụ Thuần Phu cười hả hả:
- Chồng người ta không theo, bảo theo ai bây giờ? Theo Trường Xuyên nhà ta à? Đâu được!
Đoạn cất tiếng ngâm to:
Long trì liên!
Long trì liên!
Dệt gấm đã vương tơ Chức Nữ,
Vẽ mày còn mượn bút Trường Xuyên.
Lòng tài tử,
Ý thuyền quyên
Vì đồng bịnh,
Hóa tương liên.
Đa tình gần với Phật,
Không tục ấy là tiên.
Nỗi niềm ai biết, không ai biết,
Mây nước Cù Giang, Phạm Lãi thuyền.
Về nhà Khê đòi xem trọn tập “Sợi Tơ Lòng”. Tôi trao tập thơ cho Khê và nói:
- Đây là kết quả cuộc gặp gỡ của chúng tôi.
Xem xong, Khê giao lại:
- Nó mang khí huyết anh nhiều! Cốt cách của cha, tánh tình của mẹ. có nó một bên, thì nghìn dặm vẫn là tấc gang vậy.
***
Đọc xong “Sợi Tơ Lòng”, Bích Khê đòi xem tác phẩm của Yến Lan. Tôi trao tập “Bến My Lăng” do tác giả chép với bài tựa của Chế Lan Viên. Khê nói:
- Hàn Mặc Tử thường nói chuyện Chế Lan Viên cùng tôi, thêm nữa tôi đã đọc Điêu Tàn, nên biết rõ Chế. Còn Yến Lan thì tôi nghe tên.
Tôi đáp:
- Yến Lan và Chế Lan Viên đều ở tại thành Bình Định, Chế Lan Viên ở trong thành, tại Cửa Đông. Yến Lan ở ngoài thành, tại Chùa Ông, cách Cửa Đông chừng năm ba trăm thước. Hai bên thương yêu nhau như anh em. Cho nên đã biết Chế Lan Viên thì coi như cũng đã biết Yến Lan rồi vậy.
- Tôi biết Chế Lan Viên yêu tôi lắm. Vậy Yến Lan có yêu tôi chăng?
- Cũng như Chế Lan Viên. Nhưng tình Viên nồng nàn, bộc lộ, tình của Lan đằm thắm, lặng lẽ.
- Yến Lan phê bình tôi như thế nào?
- ý kiến của Lan cũng giống phần đông các bạn quen biết, trong đó có Viên và tôi là: “Bích Khê là con người động, là một cuộc đời luôn luôn đổi mới”.
- Thế thì đối với các anh, tôi chưa thành “cái quái” gì cả?
Tôi cười:
- Trừ Hàn Mặc tử đã được định luận, ai là người đã “được cái quái gì” rồi?
Khê làm thinh, ngồi lật xem “Bến My Lăng”.
Xem xong nói:
- Không đậm, cũng không sâu. Chỉ được cái man mác, cái mờ mờ, làm cho hồn người đọc hơi say say thế thôi. Không có gì đáng sợ.
Tôi lấy đưa cho Khê một số thơ của Lan mới làm:
- Đó là Yến Lan trước kia. Yến Lan bây giờ khác hẳn. Đừng khinh thường. Hãy đọc đi...
Khê đem vào giường nằm đọc.
Tôi đương lui cui sửa mấy chậu hường ở trước sân bỗng nghe Khê gọi inh ỏi. Tôi vào thấy Khê đã ngồi dậy, vẻ mặt hoan hỷ, hối tôi:
- Anh hãy ngâm cho tôi nghe bài này. Tôi ngâm không nên dáng nên hình tức quá!
Khê ngồi tựa vào mình tôi, cất tiếng khẽ khẽ ngâm theo. Đến đoạn thứ 5 này cao hứng, vỗ tay vào đùi tôi khen:
- Tuyệt!
Rồi hối:
- Ngâm tiếp.
Nhà thiêm thiếp khổ trong quầng nắng nhạt
Nhớ thương từ vườn chuối nuối vương dưa
Giấc trang tử đêm vầy theo hội hát,
Cuối đôi làng xanh xám dệt tơ mưa.
Khê chép miệng:
- Ý thông thường mà biến thành tứ rất mới. Đoạn thứ tư thứ năm biến những cảnh tầm thường trước mắt thành những cảnh tinh diệu của Thơ. Đoạn thứ sáu nầy, tác giả đã trở thành ông phù thủy gọi hồn người đã chết về với xóm làng xưa!
Ngâm tiếp:
Đây tôi sống trong xanh nghiêm thành thất;
Đèn lưu ly hao sáng mộng tràn đầy.
Lan can đổ xuống lần từng bậc bậc,
Lòng cuộn dần bậc bậc khói hương xây
Hồn tôi loảng trên bệ vàng thếp chảy,
Cùng hồn trưa quấn quít lấy giao lân.
Tám phương bạn chợp hàng mi mộng thấy
Thái bình trang vàng rộn lá thu phân.
Kiếp tòng bá có xanh vì xứ sở,
Chớ quăng mình thêm nức nở hồn tôi.
Không được sống xin cho cùng được thở
Vạn lý tình trong gió ngọt xa xôi.
Khê vỗ đùi:
- Thật là giàu sang!
Tôi thêm:
- Nội tâm của tác giả đã giàu sang mà ngoại cảnh của nơi tác giả sống cũng thật sự giàu sang. Hai ông bạn thành Bình Định, trưa nắng nực thường vào ngủ trong Hành Cung có bệ vàng, có giao lân, buổi mai buổi chiều thường lên lầu Cửa Đông có lan can xuống từng bậc bậc... Ai đã từng sống tại thành Bình Định, thì thấy rõ những cảnh trong Thơ của Yến Lan đều alf những cảnh có thực nơi thực tại khách quan. Tác giả đã thổi hồn mình vào cảnh vật và biến thành Thơ với nhịp rung cảm của lòng.
- Thật hay! Nhiều tứ mới lạ, nhưng vẫn giữ được phong cách Á Đông. Không ngờ Yến Lan tài đến thế.
Rồi ngồi nhỏm dậy:
- Tôi phải gặp anh chàng mới được.
Lại nói tiếp:
- Người Á Đông ăn những món ăn nấu theo kiểu Âu Tây dù ngon đến đâu rồi cũng chán. Rốt cuộc rồi cũng phải trở về cùng mùi vị Á Đông. Chung quanh anh bao trùm bầu không khí Á Đông, tài gì anh chẳng giữ được cốt cách Đường thi. Vào đây tôi thấy thoải mái quá!
Tánh Bích Khê rất bất thường, nhưng lòng rất chân thật, không bao giờ khách sáo, cũng không bao giờ dùng lời nói đầu lưỡi để làm vui lòng bất kỳ ai. Tánh lại hay giận hay gắt. Nhưng trong lúc giận lúc gắt đều có những cái dễ thương đi kèm, nên “đối phương” chịu đựng không đến nỗi khó.
Bích Khê định ở chơi cùng tôi lâu, một là để nhờ Lê Văn tân chữa bệnh, hai là đợi Yến Lan ở Hà Tiên về. Nhưng một hôm nói chuyện về Hàn Mặc Tử, Khê hỏi tôi:
- Anh đến thăm Tử, anh có sợ lây chăng?
- Cũng có phần sợ, nhưng không bao giờ tỏ ý dè dặt.
- Như vậy chắc không khi nào anh bắt tay Tử?
- Không bao giờ Tử đưa tay cho ai bắt cả. tử lại để riêng một chiếc ghế đẩu ở nhà ngoài, có khách đến chơi lâu, tử sai người nhà nhắc vào tiếp. Tánh tử rất thận trọng.
- Đúng thế. Nhưng tôi phá lệ. Khi ở Phan Thiết tôi ra thăm Tử mấy lần. Năm 1949, ở Thu Xà tôi vào thăm một lần trước khi tử đi Qui Hòa. Lần nào tôi cũng ngồi cạnh tử và lúc về cũng như lúc đến, tôi buộc tử phải đưa tay tôi bắt. Để an ủi tử mình phải tỏ cho tử biết rằng mình yêu tử triệt để.
- Anh không sợ lây ư?
- Đã thương yêu nhau mà còn sợ lây à?
- Thương yêu là một việc, sợ lây là một việc. và yên bạn sao bằng yêu mình?
Câu nói thật sống sượng! Nhưng trót ra khỏi miệng, bốn ngựa không còn theo kịp nữa rồi! Khê “hừ” một tiếng:
- Té ra lòng thương yêu bè bạn của anh có chừng mực!
Tôi hối hận và ngượng ngùng chữa lỗi:
- Anh nghĩ: bạn đã mang bệnh rồi, rủi mình lại mang bệnh nữa, thì có lợi gì cho tình thương yêu nhau? Bạn đã muốn giữ sức khỏe cho mình, thì mình cũng cố giữ lấy để có thể lo cho bạn bớt đau khổ phần nào chẳng hơn sao?
Khê nhún vai, bỏ đi nằm.
Đêm hôm ấy Khê đi ngủ sớm và sáng hôm sau dậy sớm, bảo tôi:
- Tôi cần phải ra Ninh Hòa thăm người bà con ít hôm.
Tôi biết Khê hờn tôi. Tôi tìm đủ cách để cầm chân. Khê có ý gắt:
- Tôi ra đó nhiều lắm là hai hôm rồi trở vào. Chuyện chi mà sợ dữ vậy?
Tôi đành phải để cho Khê đi.
Khê đi buổi sáng thì buổi chiều Yến Lan ở Hà Tiên ra. Tôi vẫn có ít nhiều hy vọng rằng Khê không nỡ giận mình mà bỏ ra về như thế. Nhưng hai hôm sau, tôi được thư Khê ở Ninh Hòa gởi vào cho biết rằng vì có việc cần nên phải về nhà gấp! Tôi rất buồn! Nhưng rồi Yến Lan gởi thư cho Khê, Khê phúc đáp vui vẻ. Trong thư không quên tôi. Sau đó tôi lại thường được thư Khê với lời lẽ vẫn thiết tha như trước.
Tôi mừng.
***
Từ 1941 trở về sau, Yến Lan và Chế Lan Viên thường ở Nha Trang. Những thư và thơ Bích Khê gởi vào Nha Trang đều gởi chung cho Lan, Viên và tôi. Nếu không có Viên, Lan ở Nha Trang thì tôi phải chuyển đến trú chỉ sau khi xem xong.
Trong năm 1941, Khê sáng tác được nhiều giai vận xuất sắc hơn cả bài “Xuân tượng trưng”.
Lúc này Hoài Thanh đương sưu tập tài liệu đặng viết quyển “Thi nhân Việt Nam”. Hoài Thanh có xin thơ và ảnh của Khê, Khê không cho ảnh, mà chỉ cho ba bài thơ chưa hành thế là “Duy tân”, “Nấm mộ Bích Khê” và “Giờ trút linh hồn”. Nhưng sau khi “Xuân Tượng trưng” ra đời và được Chế Lan Viên tán thưởng, thì Khê viết thư ra cho Hoài Thanh, yêu cầu nếu có in vào sách thì nên in bài nầy, vì là bài Khê thích nhất.
Mùa hạ năm 1942, Chế Lan Viên và Yến Lan ở Bình Định vừa đến Nha Trang, thì Trọng Miên và họa sĩ Phạm Tú (người đã vẽ bìa tập thơ Hàn Mặc Tử) ở Hà Nội vào Sài Gòn cũng ghé lại. Thật là “thiên tải nhất thì”. Bốn ông bạn và chủ nhà hợp thành “ngũ quỉ”. Không có “nhà chay” để phá, ngũ quỉ chiều chiều đem nhau xuống biển, và ngày chúa nhật dắt nhau ra Hòn Chồng, ngâm thơ Hàn Mặc Tử và nói chuyện bá nhăng. Nhớ đến Bích Khê, tôi viết thư và đánh điện tín ra Thu Xà mời khê vào để “thành lập đảng Lục Tặc”.
Chờ ngót một tuần nhật, không thấy Khê vào mà cũng không có thơ từ chi cả, anh em lần lượt từ giã Nha Trang. Trọng Miên và Phạm Tú vào Sài Gòn, Chế Lan Viên, Yến Lan về Bình Định.
Mấy tháng sau, tôi tiếp được thư Khê từ Huế gởi vào tin cho biết rằng bệnh phổi trở lại nặng, phải ra điều trị tại viện bài lao Pasquier. Mặc dù đã biết trước thế nào rồi cũng đi đến tình trạng đau đớn ấy,mà khi nhận được tin Khê, lòng tôi cũng không nén được đau thương! Bạn thân không mấy lăm người, mà đã hai người mắc phải chứng nan y! lại mắc phải hai chứng nặng nhất trong bốn chứng!!!
Tuy bệnh nặng, Khê vẫn làm thơ và viết thơ cho bạn.
Tằm xuân đến chết tơ còn vướng,
Đèn sáp thành tro lệ chữa khô!(6)
Thơ Khê sáng tác trong năm 1942 thường thường là những bài thư ngắn và ngậm chứa hương vị Á Đông. Được thưởng thức nhất là bài “Tiếng đàn mưa” làm theo thể song thất lục bát. (7)
Sau tám tháng điều trị, Khể trở về Thu Xà rồi ra nhà anh Lạc Nhân ở Bảo An Đông, tỉnh Quảng Nam, tịnh dưỡng.
Nhân có giáo sư Nguyễn Đình ở Nha Trang về thăm nhà ở Bảo An, Chế Lan Viên cùng đi Quảng Nam tìm thăm Khê. Vui mừng không xiết tả! Trong mấy hôm gần nhau, tình khăng khít như đôi tình nhân! Rồi chia tay, Khê khóc:
- Bao giờ gặp lại nhau? Có gặp nhau nữa không?
Về Nha Trang, Viên khóc cùng bạn:
- Anh Tử mang bệnh ngặt nghèo mà chết! Bệnh Khê cũng ngặt nghèo không kém bệnh Tử! Bọn mình lại toàn lũ nghèo túng, thương nhau chỉ biết lấy lòng tặng cho nhau!
Nhưng cũng có phần an ủi là Khê vẫn sáng tác được nhiều thơ hay.
Năm 1941 Khê soạn bài Ngũ Hành Sơn. Năm 1943 cao hứng soạn thêm một bài nữa, và sửa lại bài trước, đặt tên là bài “Tiền” để gọi bài sau là bài “Hậu”. Khê bảo rằng long bình sinh đã gởi hết trong hai bài, không làm thơ nữa cũng được. quả thật là hai bài thơ kỳ thú! Cùng với “Duy Tân”, “Xuân tượng trưng”, “Hàn Mặc Tử”, “Tiếng Đàn mưa”, “Nam Hành” làm “Đại hùng tinh” cho tập Tinh Hoa vậy.
Để cho Khê tin tưởng ở sự bất hủ của thơ mình, để Khê chắc chắc rằng thân dù yểu nhưng danh vẫn thọ, Chế Lan Viên định sẽ viết một bài biểu dương những cái hay cái đẹp trong thơ Khê và trong hồn Khê.
Tâm hồn Khê là một khối thủy tinh đa lăng, phản chiếu vào thơ, bảy sắc cầu vồng ở bao nhiêu mặt, trong bao nhiêu lúc. Phải có đôi mắt bao la như Hàn Mặc Tử, tế nhị và sâu sắc như Chế Lan Viên mới có thể nhận thức đầy đủ. Tinh Hoa không thể xuất bản được. Bạn bè tản mác mỗi người mỗi nơi, ý định của Chế Lan Viên cũng không thực hiện được!
Kế chiến tranh Việt Pháp bùng nổ!
Rồi Bích Khê qua đời:
Phạm Tú mất trước Bích Khê. Các bạn còn sống Chế Lan Viên, Yến Lan, Trọng Miên, vì đường giao thông bị lủng đoạn, không đến đưa đám Khê được. Còn tôi tản cư trong nơi hẻo lánh, mãi nửa năm sau mới được tin buồn! Bồi hồi, ảo não, tôi soạn 5 vần ngũ ngôn khóc Khê:
Ngắm vọi trời Thiên Ấn;
Cố nhơn ơi! Cố nhơn!
Bóng theo Hàn Mặc Tử,
Tâm gởi Ngũ Hành Sơn.
Danh vọng đài mây vút,
Anh ba biển sóng dờn.
Đã hay nghìn tuổi thọ,
Thương nhớ lụy đôi cơn.
Năm 1959, nhân Bộ Quốc Gia Giáo dục mời vào Sài Gòn nói chuyện về Hàn Mặc Tử (nói chuyện lại Hội trường Quốc Gia Âm nhạc ngày 15/11/1959) tôi gặp chị Ngọc Sương và ngỏ ý muốn viết về Bích Khê. Chị Sương cung cấp cho tôi một số tài liệu và cho mượn những xấp bản cảo chép tay mà chị còn giữ được.
Mùa xuân năm 1960, tôi bắt đầu viết. Vì cỉ có thể ngồi lâu trong những ngày chủ nhật, nên mãi đến đầu mùa hạ tôi mới viết xong có hai chương “Những quãng đời” và “những cuộc tình duyên” của Bích Khê.
Rồi cụt hứng!
Mãi đến mùa hạ năm nay, trong khi ngoài trời chộn rộn về việc ứng cử bầu cử Tổng Thống, Phó Tổng Thống và Thượng nghị Viện, tôi đóng cửa tiếp tục viết về Bích Khê. Viết thêm hai chương nữa: “Đời Thơ” và “Chút tình riêng”.
Và hoàn tất lúc đúng ngọ ngày 27 tháng 5 năm Đinh Mùi, tức ngày 4 tháng 7 năm 1967 tại Nha Trang, nơi nhà – dù xưa kia đã cùng Bích Khê nằm nghỉ mát.
Cách đây ngót 10 năm, tôi có dịp gặp và hầu chuyện là Lê Thị Ngọc Sương, chị ruột nhà thơ Bích Khê, trong dịp bà về quê với ý định cùng gia tộc xây lại nhà thơ họ và di dời mộ Bích Khê, người em thi sĩ mà bà xiết bao yêu thương từ những ngày hai chị em còn cắp sách đến truờng, về nơi gần nhà thơ họ hơn, đông vui hơn. Nhưng rồi ý định tốt đẹp này của bà Ngọc Sưong không thực hiện được bởi nhiều lý do, trong đó có lý do những người lãnh đạo ở tỉnh và ở xã hồi ấy tỏ ra rất ngần ngại, thậm chí nghi ngờ về nhân thân Bích Khê. Cơ sự cũng chỉ vì một câu chú thích trong một quyển sách dày khoảng 400 trang của ông Bùi Định, quyển Tìm hiểu các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Quảng Ngãi (1885 - 1985). Năm 1986 khi cuốn sách này được sở Văn hoá Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, ông Bùi Định có đến thăm và tặng tôi cuốn sách. Tôi cảm ơn và hầu chuyện ông về việc viết lách, chuyện gia đình... Cho đến khi tôi đọc sách, dòng chú thích mà tôi nhớ đại ý “Khoảng năm 1936, có một vài nhóm Trotskist hoạt động ở Quảng Ngãi, như nhóm Lê Quang Lương (Bích Khê) ở Thu Xà...”
Chỉ ngắn gọn vậy thôi không thông tin hay giải thích gì thêm. Lúc bấy giờ, tôi cũng chỉ nghĩ có lẽ ông Bùi Định dựa vào việc hồi đó Bích Khê có dịch (không xuất bản, có lẽ chỉ dịch một số đoạn) quyển hồi ký của nhà văn Pháp André Gide “Trở về từ Liên Xô”. Bích Khê là một trí thức, một nhà thơ Tây học, việc Bích Khê đọc hay dịch văn học Pháp, chịu ảnh hưởng của văn học Pháp, thậm chí hâm mộ hay sùng bái một nhà văn lỗi lạc như Gide cũng là chuyện bình thường. Có thể quyển hồi ký của Gide viết về chuyến thăm Liên Xô (hồi đó Gide là một nhà văn Pháp nhiệt tình ủng hộ Liên bang Xô Viết) đã khiến Bích Khê phải suy nghĩ về một số điều. Nhưng nếu từ đó mà cho rằng nhà thơ là đệ tử của Trotskit hay tham gia hoạt động ở nhóm Trotskit thì hơi võ đoán và gọi theo kiểu bây giờ là hơi ... chụp mũ. Dĩ nhiên, quyển sách của ông Bùi Định là tác phẩm của cá nhân ông, không phải một tài liệu chính thức, càng không phải cuốn lịch sử hay Đảng sử, nó chỉ có giá trị tham khảo. Rất tiếc là sau ngày chia tách tỉnh, một số người lãnh đạo mới của tỉnh Quảng Ngãi đã không bỏ công tìm hiểu về Bích Khê và gia đình ông, cũng không đọc thơ Bích Khê, mà thơ là “biên niên sử của tâm hồn” nhà thơ, mà chỉ dựa duy nhất vào một dòng ... chú thích trong một quyển sách, để từ đó tỏ thái độ e ngại, thậm chí phủ nhận đối vói một nhà thơ lẽ ra phải là niềm tự hào của người Quảng Ngãi, trong đó có cả những người lãnh đạo tỉnh. Tôi dám nói chắc, nếu không phải sinh ra ở Quảng Ngãi mà ở một tỉnh khác, có lẽ Bích Khê đã được tôn vinh hơn rất nhiều, ưu ái hơn rất nhiều. Ông xứng đáng được như vậy, không chỉ vì thơ ông, đĩ nhiên thơ ông là yếu tố quyết định cho sự tôn vinh ấy, mà còn bởi nhân cách của ông, lòng yêu nước của ông, và cả truyền thống yêu nước và cách mạng của gia đình ông. Bởi, gia đình Bích Khê đúng là một gia đình yêu nước và cách mạng. Ông nội Bích Khê là Lê Trọng Khanh, là người đỗ đạt, từng là tri phủ Phủ Lý (Hà Nam), nhưng ông đã từ quan về quê ở Nghĩa Hành (Quảng Ngãi) do tư tuởng bất hợp tác với Pháp. Trùm Việt gian, đại thần Nguyễn Thân hồi đó biết Lê Trọng Khanh là người có uy tín, có khí tiết nên dụ dỗ ông ra làm quan. Biết được dã tâm này của Nguyễn Thân, ông Khanh đã uống thuốc độc tự tử, quyết nêu cao tiết tháo, không đứng cùng phía với bọn bán nước. Cha Bích Khê là Lê Quang Dục (Nguyễn Thân bắt từ dòng con ông Lê Trọng Khanh không đuợc lót chữ “Trọng”, chẳng biết đó có phải là một cách trả thù?) Ông Lê Quang Dục cũng là một nhà nho học từ chối ra làm quan chỉ ở nhà dạy học, làm thơ, cam sống trong cảnh bần hàn. Bích Khê có bảy anh chị em, nếu tính cả mẹ của nữ sĩ Mộng cầm là con đời vợ trước của ông Dục thì là 8 anh chị em. Cả 8 người con ông Lê Quang Dục đều không có ai hợp tác với Pháp, không có ai là “đối tượng của cách mạng”. Ngược lại, rất nhiều người trong gia đình Bích Khê đã trực tiếp tham gia hoạt động trong các phong trào yêu nước và cách mạng. Chị ruột Bích Khê, bà Lê Thị Ngọc Sưong, người chị gân gũi và được Bích Khê yêu thưong nhất, người ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của Bích Khê, đã tham gia hoạt động trong phong trào yêu nước từ năm mới 17 tuổi, từ năm bà còn ngồi trên ghế nhà trường. Thoát ly gia đình ra Huế, tìm gặp cụ Phan Bội Châu lúc cụ bị an trí ở Bến Ngự, bà Sương đã được cụ Phan yêu thương và quý trọng nhận làm con nuôi, về sau, bà Sương kết duyên với nhà báo Lạc Nhân, thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Vợ chồng bà Ngọc Sương không chỉ là những người yêu nước trước năm 1945, là những người kháng chiến suốt 9 năm chống Pháp, mà sau năm 1954, ở lại miền Nam, gia đình bà vẫn là gia đình cách mạng, trực tiếp tham gia các hoạt động bí mật dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Sài Gòn. Thời Mỹ ngụy, bà Ngọc Sương đã bị bắt và bị đày ra Côn Đảo suốt 4 năm. con gái bà, sinh viên và sau này là nhà báo Thu An (sau giải phóng là vợ của Nghệ sĩ nhân dân Quốc Hương) cũng hoạt động tích cực trong phong trào sinh viên học sinh yêu nước và cũng bị đày ra Côn Đảo. Sau giải phóng gia đình và Ngọc Sương được công nhận là gia đình cách mạng và có công vói cách mạng. Anh ruột Bích Khê là Lê quang Khâm tham gia cách mạng từ sau năm 1945, đi tập kết, Lê Quang Hường, anh ruột Bích Khê cũng tham gia cách mạng sau Tổng khởi nghĩa. Con ông Lê Quang Khâm là Lê Quốc Ân hiện nay là chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty Dệt May Việt Nam. Ông Lê Quang Thuần, anh ruột Bích Khê, có 4 người con đi tập kết, trong đó có Giáo sư Lê Hoài Nam nguyên hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Vinh và đại học Sư phạm Quy Nhơn. Ông Lê Quang Hường, anh ruột Bích Khê có 3 nguòi con đi tập kết và đều thành đạt. Ông có một người con gái - chị Lê Phương Mai, ở lại miền Nam và tham gia hoạt động cách mạng từ trước giải phóng. Bà Lê Thị Khương, chị ruột Bích Khê, có con là Hoàng Đình Phu, một tướng lĩnh trong Quân đội nhân dân Việt Nam và đặc biệt có chị Hoàng Thị Các, một chiến sĩ hoạt động nội thành xuất sắc thời chống Mỹ, và mới đây đã xuất hiện trên VTV là một nhân vật trong chuyên mục “Người đương thời” của Tạ Bích Loan. Sinh thời Bích Khê không có vợ, con, nhưng gia đình Khê là một đại gia đình. Các anh chị, cháu Bích Khê kẻ còn người mất nhưng hầu hết đều tham gia hoạt động hoặc theo cách mạng, đều là “người đằng mình”. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình cổ truyền thống yêu nước, ghét và bất hợp tác với bọn xâm lược Pháp, với bè lũ tay sai Nguyễn Thân, Bích Khê là một nhà thơ, một người trí thức, luôn tìm tòi, khắc khoải, luôn hướng về cái đẹp của thơ, của con ngưòi, nhưng như thế không có nghĩa Bích Khê phải là một phần tử Trotskit gì đó, hay có những hoạt động gì ngược với xu hướng của cả gia đình. Việc Bích Khê trước khi mất còn nhờ người nhà đưa ra ngõ để được chào mừng đoàn biểu tình của nhân dân, chào lá cờ đỏ sao vàng, là một thể hiện lặng lẽ lòng yêu nước mà nhà thơ đã từng ấp ủ qua những bài thơ của mình, những bài thơ không chỉ đẹp mà còn rất nặng tình với quê hương xứ sở. Thơ Bích Khê đẹp và hồn Bích Khê sáng. Đó mãi mãi là một “dòng suối trong xanh” đúng như cái tên thi sĩ của ông.
Nguồn:
Tuần báo Văn nghệ (Hội nhà văn Việt Nam), Hà Nội, s. 38 (21/9/2002)
MỘT NGHI ÁN KHÔNG CÓ CƠ SỞ
Nguyễn Trung Hiếu
Cách hàng ngàn cây số, phương tiện đi lại không như bây giờ. Những năm đầu cách mạng, đường sá ở Quảng Ngãi bị đào xới, hiếm lắm mới có một chiếc xe đạp đòn dông cà tàng, còn là chân trần… cuốc bộ. Thế nhưng đã lần thứ tư, sau 42 năm cũng là lần cuối, tháng 8 năm 1988, nhà thơ Chế Lan Viên và nhà thơ Yến Lan, tôi được tháp tùng hai ông xuống tận Thu Xà, quê hương nhà thơ Bích Khê để viếng mộ ông.
Buổi chiều, mưa lất phất, âm u, chúng tôi có cảm giác rờn rợn, chừng như có thật “Trên mồ con quạ đứng im hơi”.
Nhà thơ Chê Lan Viên, trân trọng đọc bài giới thiệu của ông cho tập thơ Bích Khê, trên hai mưoi trang đánh máy có đoạn nói, Chế Lan Viên rất quý tài Nguyễn Nhuợc Pháp, Nguyễn Bính, nhưng so với Bích Khê, ông cho là “đỉnh núi lạ”.
Và theo chỗ tôi được biết, các văn nghệ sĩ khắp mọi miền đất nước rất quý Bích Khê - ngay cả trong kháng chiến chống Pháp, các ông Hoài Thanh, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh. Tế Hanh, Chế Lan Viên, tướng Nguyễn Sơn, Vân Đông, Yến Lan.., đã nhiều lần viếng mộ Bích Khê. Trong hòa bình, hầu hết các văn nghệ sĩ về Quảng Ngãi đều có kế hoạch thăm quê hương Bích Khê, như Nguyễn Huệ Chi, Thanh Thảo, Nguyễn Thành Long, Khương Hữu Dụng, Đào Xuân Quý, Cao Duy Thảo, Trương Quang Lục, Vũ Ngọc Liễn, Nguyễn Thế Vinh, Đường Ngọc Cảnh, Phan Huỳnh Điểu, Nguyễn Đức Toàn, Văn An, Đào Thế...
Ấy nhưng, ở Quảng Ngãi, đặc biệt chỉ Quảng Ngãi một vài vị chức sắc rất ngại nhắc tới tên tuổi Bích Khê, bởi ông Bùi Định, cán bộ lão thành cách mạng đã ghi trong sách của ông: “Bích Khê cầm đầu nhóm Tơ rốt kít”.
Tôi may mắn được gặp một số người cùng thời ông Bùi Định trong những ngày cướp chính quyền, tháng 8 năm 1945 ở Quảng Ngãi.
Nhà báo lâu năm nhất, đang sống tại khu 96 hộ, thị xã Quảng Ngãi - Trương Quang Lộc - ông tham gia cách mạng sau Nhật đảo chính hai ngày (11/3/1945) và ngay sau ngày Tổng khởi nghĩa, làm ủy viên Thường vụ Liên đoàn Văn hoá Cứu quốc, rồi Ủy viên Thường vụ Ban Trị sự Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác Quảng Ngãi, trước lúc nghỉ hưu là chuyên viên cao cấp Ban Tuyên huấn Trung ương, trên 50 tuổi Đảng, từng là học trò nhà thơ Bích Khê, năm 1939, trường Hồ Đắc Hàm, Huế.
Về ông Bùi Định, nhà báo Trương Quang Lộc cho biết: “Ông Bùi Định ở xã Đức Minh, Trương Quang Lộc ở xã Đức Chánh, cùng huyện Mộ Đức, hai xã cách khoảng bốn cây số và cách vạn Thu Xà thuộc ấy số, nếu đi tắt.
Xã Đức Minh có nghề trồng thuốc lá nổi tiếng Quảng Ngãi, nhưng rất nghèo. Ông Bùi Định ra làm thợ may ở cửa Bắc, thị xã Quảng Ngãi và hoạt động cách mạng rồi lấy vợ ở đó, sau bị Pháp bỏ tù. Những ngày cướp chính quyền, ông Bùi Định là một trong những thanh niên hăng hái, được chọn ra điều đình với quân Nhật để họ không tiếp tục tuần tiễu, quấy phá và giao nộp khí giới cho ta trước khi quân Đồng Minh tới giải giáp. Những năm ở tù, ông Bùi Định được anh em giúp đỡ và tinh thần tự học của ông cũng tốt nên biết đọc, biết viết, so hồi đó, vậy là khá.
Tháng 5 năm 1984, ông Bùi Định mang tập bản thảo của ông đến gặp nhà báo Trương Quang Lộc nhờ góp ý. Đoạn nói về nhà thơ Bích Khê, nhà báo Trương Quang Lộc giật mình, hỏi:
- Anh căn cứ tài liệu nào đây?
Ông Bùi Định trả lời chắc chắn:
Cơ sở báo cáo.
Nhà báo Trương Quang Lộc nhắc nhẹ:
- Anh xem lại cẩn thận, chứ theo chỗ tôi được biết là không phải vậy.
Ông Bùi Định chỉ gật, không nói gì, và cũng không lâu sau đó, sách của ông được tỉnh Nghĩa Bình cũ ấn hành.
Sau khi đọc tập sách “Tìm hiểu các phong trào yêu nước chông Pháp của nhân dân Quảng Ngãi (1885 - 1985) của ông Bùi Định, tôi mạo muội hỏi ông:
- Thưa cụ, Bích Khê cầm đầu nhóm Tơ rốt kít, tất phải có tổ chức, có người trong tổ chức đó, vậy những người đó mình xử lý ra sao, hành động và phương hại cụ thể lúc đó?
Như không cần suy nghĩ ông Bùi Định nói ngay:
- Các cậu lúc đó còn nhỏ, làm sao hiểu được tình hình.
Biết không thể “tay đôi” vói ông, tôi liền đi hỏi những nhân chứng khác.
Ông Hà Thái Bình, quân báo, bộ đội thời kháng chiến chống Pháp, nhà báo lâu năm nguyên phó Tổng biên tập báo Nghĩa Bình, trên 50 tuổi Đảng, hiện là thầy thuốc Bắc, hiệu Phục Sanh Đường, số nhà 524 đường Quang Trung, thị xã Quảng Ngãi, rất giỏi chữ Hán, cùng ở Thu Xà, gần nhà Bích Khê. Khởi nghĩa, ông Hà Thái Bình là trung đội phó tự vệ ở đó, biết khá rõ tình hình, và được tổ chức tin cậy, giao thêm nhiệm vụ kiểu như “mật báo viên” nên thường gần gũi các ông Trần cẩm Phiêu, tức Ba Phước, chủ nhiệm Việt Minh xã Thái Thú, nay là xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, Nguyễn Ngọc Vi, Chủ tịch Uy ban cách mạng lâm thời, Nguyễn Hơn, cán bộ Việt Minh. Ông Nguyễn Hơn là anh em chú bác ruột với Nguyễn Độ, cán bộ lão thành cách mạng trung kiên, vẫn khoẻ mạnh, gần 80 tuổi, cách vài ngày, ông Hơn vẫn đi xe đạp lên thị xã thăm cháu. Chính ông Hơn người trực tiếp bí mật vào nhà lao của Pháp ở Kontum, năm 1949, đưa ông Dương Bạch Mai trở về với chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Điểm lại cao trào cách mạng 1945, và các phong trào khác, đại diện Chính phủ Trung ương tại miền Nam Trung bộ, ông Phạm Văn Đồng nhiều lần về xã Thái Thứ, có cả cụ Huỳnh Thúc Kháng, đã khen Đảng bộ, Liên hiệp Hội Việt Minh và chủ nhiệm Việt Minh Trần Cẩm Phiêu là chững chạc, nghiêm túc, đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ Trung ương. Xã Thái Thú, đuợc công nhận là xã kiểu mẫu đầu tiên của khu 5.
Tháng 8 năm 1945, Quảng Ngãi, như một chảo lửa hừng hực khí thế toàn dân nổi dậy cướp chính quyền. Quân Nhật như gà phải cáo, từng tốp, từng tốp xe cam - nhông Nhật chở đầy lính và súng, nhưng không nhích nổi bởi sóng người, sóng cờ biểu ngữ cuồn cuộn từ nguồn chí biển, gươm, dao, giáo, mác, lao cau, tầm vông... tua tủa, cùng tiếng trông, mõ, xềng la ầm ĩ, cộng vói tiếng hô vang dậy đất, dậy trời ùn ùn kéo vào tỉnh lỵ, sào huyệt chính quyền thực dân: “Ủng hộ Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh”, “Việt Nam hoàn toàn độc lập muôn năm”...
Chính giờ phút thiêng liêng ấy, Bích Khê đã nhờ người nhà khiêng ông ra ngõ (ông bị lao phổi thời kỳ cuối - ngót mười năm lâm bệnh) để được chào đón ngọn cờ đỏ sao vàng.
Cái chi tiết này, báo chí Sài Gòn trước giải phóng, Quách Tấn và nhiều học giả đã nói. Nhà thơ Chế Lan Viên đôi lần cũng nhắc lại đúng vậy, nhưng rồi chỉ vài tháng sau, mùa đông, nhà thơ Bích Khê đã:“Từ giã anh em trước gió xuân”
Nói về Cách Mạng Tháng Tám, nếu không là người trong cuộc, cũng khó hình dung về sức mạnh triều dâng, thác cuốn của thời khắc ấy và cũng chẳng dễ hiểu những sơ suất ngoài ý muốn của đại cuộc, như trường hợp ông Lê Văn Hiến, sau này là Bộ trưởng Tài chính nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được trung ương cử vào công tác ở Quảng Ngãi, suýt nữa, chỉ một suýt thôi, đã bị hành hình, nếu không có người nhận ra ông là bạn tù trước đó.Đã là năm 1946 rồi mà những chuyến tàu Nam tiến dừng lại ga Quảng Ngãi, các chiến sĩ ta không dám xuống sân ga để dạo chơi vì nghe tiếng cách mạng Lê Trung Đình ghê quá (hồi đó tỉnh Quảng Ngãi gọi là tỉnh Lê Trung Đình).
Vạn Thu Xà, gần biển, sát sông Vực Hồng, ghe thuyền vào ra thuận lợi, sầm uất như một thị trấn ngày nay. Người Hoa ở đây khá đông, là nơi giao lưu buôn bán với Hải Nam, Hồng Kông, Ma Cao, Thượng Hải... bằng những ghe bầu lớn. Chính vì thế những ngày chuẩn bị tổng khởi nghĩa, Thu Xà được coi là điểm nóng thứ hai sau tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Và như thế, toàn bộ những người ít nhiều bị nghi có dính líu với Tây, Nhật, các đảng phái, cả những hướng đạo sinh... đều bị tập trung vào hai nơi và được canh giữ nghiêm ngặt: nhà Liên đoàn Vinh Thạnh, sát chợ Thu Xà và nhà Tiền hiền, nằm trong khuôn viên chùa Ông. Sau khi thiết lập được chính quyền, không quá tuần lễ, tất cả đều được tự do.
Ba con trai ông Lê Quang Hường, anh ruột Bích Khê: Lê Cao Sinh, Lê Cao Kỳ, Lê Cao Phong cùng trong đội Thiếu niên cứu quốc của xã Thái Thú, ngay cả những bạn là học giả thường lui tới, chơi thân vói Bích Khê, như Trần Dũ Khiêm, vừa nhà báo, nhà thơ sau này, Trần Dũ Lương, rất giỏi tiếng Pháp đều không nằm trong húi đó. Bà Ngọc Sương, chị ruột nhà thơ Bích Khê, cuộc mít ting lớn nào của xã bà cũng được mời ngồi ỏ hàng ghế danh dự. Ông Lạc Nhân nhà báo nổi tiếng, cánh tay đắc lực của cụ Huỳnh Thúc Kháng, thời làm báo Tiếng Dân, anh rể nhà thơ Bích Khê, vẫn được chính quyền lức đó rất trân trọng.
Không những thế, cả hai năm sau, số quân báo vẫn tiếp tục “lót” ở đó như ông Trương Thành, quê tỉnh Quảng Nam, ông Phan Xin, quê Phan Thiết, thủ môn bóng đá nổi tiếng ở miền Trung, ông Nguyễn Hơn ở vạn Cổ Lũy, cách Thu Xà 3km. Số này nằm trong tổ chức “Ban ánh sáng E.67 + 73”. Thòi đó làm như vậy quả là quá thận trọng chu đáo.
Ông Trương Thành sau là Trưởng ban Quân báo Liên khu 5, người chỉ huy cuộc vượt ngục của ông Dương Bạch Mai, ông Phan Xin là phó trưởng ban. Các ông giả là người buôn bán, tá túc trong các nhà người Hoa trước và một hai năm sau Tổng khỏi nghĩa.
Như vậy, việc ông Bùi Định nói căn cứ báo cáo của cơ sở, thì rõ ràng là không có cơ sở!
Họ hàng, bạn bè thân hữu nhà thơ Bích Khê đã nhiều lần có ý kiến về nỗi oan của Bích Khê trên một số tờ báo của Trung ương, trong đó tờ Văn nghệ Trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam. Giáo sư Lê Hoài Nam đề nghị xin được gặp chính quyền tỉnh, trình bày sự việc, quan điểm của gia đình và xin đối chất trực tiếp với nguời nào đã nói Bích Khê là Tơ rốt kít, nhưng đã rất nhiều năm, vẫn chưa hề có hồi âm!
Theo chỗ tôi được biết, có nhiều vị lãnh đạo rất thiện ý, nhưng ngại “xáp” vào việc vì còn đôi người vẫn hiểu Bích Khê theo sách của Bùi Định!
Tôi đã tìm gặp một số người với sự chân thành ở “cấp con cháu”. Có cụ nghe lọt và cho đó là việc hơi quá đáng, đôi cụ vẫn ầm ừ, chưa rõ thực hư. Vì thế, ngay con đường cửa Đông, thành Quảng Ngãi cũ có một đoạn ngắn, non non hai trăm thước, dân tự đặt tên là đường Bích Khê, đã tồn tại nhiều năm, nhưng do ý kiến một vài cụ, chính quyền phải thay là đường Nguyễn Du!
Dân nói vui: Ông Nguyễn Du nào lại ưng cái việc tranh đường, tranh đất chi với ông Bích Khê - nhà thơ hậu thế - mang tiếng, tội cho ổng!
Cái số nhà thơ Bích Khê quả thật là đen đủi đến nỗi có một cơ quan văn hoá ở thành phố Hồ Chí Minh trân trọng nhà thơ, đã tạc bức tượng đồng với nhã ý tặng gia đình làm kỷ niệm, nhưng không được đưa về Quảng Ngãi với lý do: địa phương của nhà thơ không đồng ý!
Dù sao, tôi vẫn tin nhà thơ tài hoa Bích Khê về sự trong sáng, độ lượng và sức mạnh “Tinh Huyết” của ông cứ thế vĩnh viễn- trường tồn cùng quê hương, dân tộc, như đã khắc trên bia mộ ông, dư nửa thế kỷ:
“Sau nghìn thu nữa trên trần thế
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi”.
Nguồn:
Tuần báo Văn nghệ (Hội nhà văn Việt Nam),
s. 37 (19/4/2002).
NƠI ĐÂY LÀNG CŨ BUỒN THU QUẠNH
Cao Chư
Có thế đấy là câu thơ là lượt người nào một lúc nào đó bỗng trong ngân ngân trong lòng một cách bâng quơ. Bích Khê không phải là “nhà thơ quê hương” như Tế Hanh, nhưng không phải quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của nhà thơ tượng trưng này lại không để lại dấu ấn gì trong thơ. Quê hương mỗi người chỉ một. Trong cuộc đời ngắn ngủi vỏn vẹn chỉ có ba mươi năm của mình, Bích Khê sống phần lớn ở quê hương. Viết hay không viết về quê hương là một chuyện, còn dấu ấn của quê hương dù vô tình hay hữu ý lưu lại trong cuộc đời và sáng tác của nhà thơ lại là một chuyện khác.
Trong sáng tác của Bích Khê, có một số bài dành cho quê hương với nhiều cảnh vật, nhiều giác độ khác nhau. Quê hương với ý nghĩa là “làng em”.
Nơi đây: làng cũ buồn thu quạnh
Anh có khi nào trở lại chưa
Ngày đi chậm lắm. Giòng sông biếc
Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa.
Nơi đây: thành phô/ đời ngưng mạch
Mâý nàng lai khách vẫn buồn mơ
Đường lên hội quán sương khuya xuống
Đâu mấy chàng trai rõi nhớ hờ?
Làng em vừa thực mà như vừa ảo, ảo mà thực. Và rất có nét riêng. Đó là làng Thu Xà hay Tiên Sà một thời vang bóng. Làng nằm ở vùng hạ lưu sông Trà Khúc với phù sa màu mỡ, tre trúc tươi xanh. Có cảm giác ngày đi chậm lắm có thế là do tiết thu trời không nắng và cũng bởi bóng tre trúc che phủ, và hơn cả là ở tâm trạng, ở lòng người. Có thể mùa thu chỉ là cái cớ để nhà thơ bộc lộ cảm xúc về làng quê. Cùng là nơi đây nhưng trên thì bảo là làng cũ buồn thu quạnh, dưới lại viết là thành phố đời ngưng mạch, Bích Khê không phải muốn làm cho người đọc phải nát óc suy nghĩ. Sự thực Thu Xà vẫn là nơi sầm uất nhất trong tỉnh Quảng Ngãi ngày ấy, với phố xá đông đúc, thuyền bè tấp nập, vốn là nơi mà những người Trung Hoa sang lưu chân buôn bán, người địa phương quen gọi là “phố khách”, còn Hoa Kiều thì gọi là “lai khách” hay “khách”, một kiểu gọi khá lịch sự. Thu Xà cũng có cả hội quán như thơ Bích Khê đã viết. Nhưng trải qua những cuộc bể dâu, Thu Xà đã dần sa sút. Cho nên đọc bài “Làng em” ta thấy Bích Khê tả thực hơn là siêu thực hay là tượng trưng. Nhưng vẫn có dấu vết của siêu thực. Đó chính là nhạc điệu, là nhịp điệu của bài thơ. Cũng là thơ bảy chữ, nhưng Bích Khê làm cho câu thơ khi thì có nhịp điệu chậm khi thì bỏ lửng bằng một câu hỏi, gợi tả rất đậm nét cái không khí buồn lặng của làng.
Đương thời cùng quê hương Quảng Ngãi với Bích Khê có nhà thơ Tế Hanh. Tế Hanh cũng viết về làng, nhưng bài “Làng tôi” của Tế Hanh lại rất thiên về bút pháp tả thực, ở đó hiện lên những nét cũng rất đáng yêu, nhưng tất cả đều mạch lạc, đều trực cảm, từ câu đầu đến câu cuối:
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
Nếu Tế Hanh nói trực tiếp là “làng tôi” thì Bích Khê gọi là “làng em” một cách gọi gợi thương và cấu tứ với hai câu hỏi bỏ lửng:
Anh có khi nào trở lại chưa
Anh có khi nào còn trở lại.
Không dám nói bài thơ nào hay hơn, nhưng rõ ràng “Làng em” gợi hơn, nhất là khi ta lẩm nhẩm một cách vô thức ngẫu nhiên đến những câu thơ nào đó của bài:
Tìm ngõ nhà em anh sẽ thấy
Khóm lan thơm nặng khí ưu phiền
“Làng em” có phần giống và khác với bài thơ nổi tiếng “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử. Cái giống nhau là cùng viết về một làng thôn, cùng dùng thể thơ bảy chữ và ngắt khổ bốn câu, “Đây thôn Vỹ Dạ” cũng gợi bằng những câu hỏi, nhưng nếu cái đẹp của thôn Vĩ Dạ là cái đẹp của ngày với “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”, với màu trắng sáng trong “áo em trắng quá nhìn không ra”, pha thêm chút mơ hồ sương khói, thì “Làng em” có vẻ đẹp buồn buồn lặng lặng của chiều, của đêm, của khóm lan, của tiếng dơi bay, của trăng sáng và bao trùm là cái đẹp của hồn người. Hàn Mặc Tử chừng như viết về thôn Vĩ Dạ với tư cách là khách, còn Bích Khê viết về Thu Xà với tư cách là chủ, tất nhiên.
Với Thu Xà, Bích Khê còn có bài “Về Thu Xà cảm tác” được xếp trong tập “Mấy dòng thơ cũ”, đúng là một bài đường luật thất ngôn bát cú chính hiệu, được viết hoàn toàn theo bút pháp tả thực, mô tả cái phố chợ đang hồi sa sút, cái sự bát nháo, cái nỗi lo đói kém, thuế xâu, công nợ. Lại có một bài đề là “Chùa ông Thu Xà” in trong tập “Tinh Hoa” là tập mà các thi hữu của Bích Khê cho là bút pháp đã già dặn. Nhưng lạ chưa, bên cạnh những bài thơ rất tượng trưng siêu thực như “Duy tân”, “Ngũ Hành Sơn”, ở đây ta lại bắt gặp một bút pháp tả thực pha một chút siêu thực, một chút khí vị của Đường thi:
Mây trắng bay về núi Thạch chưa
Chùa ông chim hót ở ngoài mưa
Ngồi trên gò mả nghe chuông vọng
Sắc cỏ thơm mùi kinh sách xưa
Quê hương cũng là Trên núi Ấn nhìn sông Trà cũng trong tập Tinh hoa:
Trà giang Thiên Ấn chuông gầm sóng
Vang tiếng ngàn năm đất Cẩm thành
Nghìn năm quả Ấn nằm trơ mốc
Một dải sông Trà chảy sậm xanh
Xót hồn cổ độ sông vài giọt
Xịch bóng tà huy nguyệt mấy canh
Nghìn dặm cố nhân đâu có tá?
Tiếng chim kêu lạnh đập trong cành
So sánh với nhiều bài thơ cùng viết về núi Ấn sông Trà (của nhiều tác giả khác), có thể nói bài này thuộc hàng hay nhất. Bài thơ có thể được viết khi nhà thơ dựng lều ở trên Thiên Ấn để chữa bệnh. Đứng trên “đệ nhất thắng cảnh” Quảng Ngãi trong xa ngàn dặm ngun ngút là nhớ đến cố nhân, nghe được cả tiếng chim kêu lạnh. Nỗi khát khao gặp cố nhân đâu chỉ là tâm trạng của riêng nhà thơ? Bài thơ nếu có chút tượng trưng đi nữa cũng không nhiều. Người ta hay nhấn mạnh đến chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Bích Khê, đúng là như vậy, nhưng xin đừng tuyệt đối hóa nó. Tả thực, siêu thực, tượng trưng hay gì gì khác đều có cái hay cái dở, mặt mạnh mặt yếu của nó. Hẳn Bích Khê cũng hiểu rỡ điều đó nên bên cạnh sự cách tân khá triệt để, nhà thi sĩ cũng cứ đều đều xài bút pháp cổ điển, thể thơ cổ điển ở một số bài, thậm chí hòa trộn, đan chen nó trong cùng một bài. Toàn bài Ngũ Hành Sơn có thể là tượng trưng, nhưng nhiều người bỗng quên rằng ở đầu bài lại là một bài thơ Đường thất ngôn bát cú nằm trước như một chapeau của một bài báo. Sự thành bại, hay dở trong những bài ấy tùy theo từng bài cụ thể, song điều ấy không có nghĩa là một sự ô hợp, thập cẩm. Vấn đề thành bại vẫn là ở cái tâm, cái tài, hay nói chữ nghĩa hơn là chính ở bản lĩnh, cá tính sáng tạo của bản thân nhà thơ. Học Tây học Tàu đều rất cần, học hàm học vị cũng nên có, nhưng cái cốt của mọi vấn đề là sức tiêu hóa của cái dạ dày, cái ta, cái tôi của chính nhà thơ. Gần đây nhà thơ Thanh Thơ có một bài viết rất hay Thơ có vần cũng cần tự do với ý nghĩa thơ không thể là của những người có tinh thần làm nô lệ. Thanh Thơ viện dẫn Nguyễn Trãi. Còn riêng tôi lại nhớ đến những câu thơ của Nguyễn Khuyến, chẳng hạn như câu:
Nghĩ mình mà gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng!
Đọc những câu thơ như vậy, ta quên mất rằng đó là những câu thơ có niêm luật rất chỉnh, nhưng sự thanh thoát của nó khiến ta không lưu ý đến niêm luật. Bích Khê cũng thế. Bích Khê đang làm thơ đường luật mà ta cứ ngỡ như thi sĩ đang chơi thơ tự do, là bởi chính sự thanh thoát. Sự tự do, hay nói cho cùng, là bản lĩnh, là bản thể tự do vốn có của nhà thơ. Nhà thơ không thể là nô lệ của những kẻ bề trên, đành thế, nhưng cũng không thể là nô lệ của niêm luật, thể loại hay trường phái. Cá tính sáng tạo của nhà thi sĩ sẽ không được phát huy nếu nhà ấy tự bó buộc mình trong một cái khuôn nào đó. Nói cách khác, với Bích Khê hay bất cứ một nhà thơ tài danh nào khác, thì bút pháp tả thực hay siêu thực hay tượng trưng chỉ là những công cụ để chiếm lĩnh và biểu đạt của nhà thơ. Tự thân các “phái” không giúp làm nên danh giá cho bất cứ một cá nhân nào, cái mà chỉ có cá nhân đó mới có thể làm nên.
Quê hương là “Làng Em”, là “Chùa Ông Thu Xà”, là “Về Thu Xà cảm tác”, là “Trên núi Ấn nhìn sông Trà”, nói cách khác là cái nhìn, cái cảm của Bích Khê về quê hương, nhưng những bài thơ trên gắn với địa danh cụ thể nên dễ nhận biết. Còn những chỗ nào quê hương mang dáng nét của nó vào thơ Bích Khê? Hỏi ra chính ở vườn nhà Bích Khê thuở ấy có một cây ngô đồng lãng mạn của ca dao và chắc hẳn nó đã hiện thân trong câu thơ mà Hoài Thanh cho là hay nhất trong thi ca Việt Nam:
Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mang!
Theo đó thì quê hương cũng là cái bầu không khí của tì bà:
Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm
Trăng đan qua cành muôn tơ êm
Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi
Hình như quê hương cũng phảng phất trong đàn mưa giàu nhạc điệu:
Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng
Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan
Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn
Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân
Và rất có thể những nét quê hương còn bàng bạc, mờ nhòa qua một số bài thơ tượng trưng, siêu thực của Bích Khê
Cũng như bao người khác, quê hương là nơi nhà thi sĩ hít thở bầu không khí của nó, hình thành nên hình hài cũng như nhân cách của nhà thơ, thành một con người đầy lòng vị tha, hơn thế, còn là đối tượng gợi hứng cho những bài thơ. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình Bích Khê từng ở Ngũ Hành Sơn, Huế, Phan Thiết, Hà Nội, nhưng nhà thơ lại sinh ra lớn lên và mất đi ở Thu Xà, một vùng quê tươi đẹp, khuất nẻo ở Quảng Ngãi. Đất và người quê hương hẳn có những dấu ấn, những ảnh hưởng nhất định trong cách cảm, cách nghĩ của Bích Khê là ta khó nhận biết, nhưng rất cần phải nhận biết. Nó hòa trộn trong thơ Bích Khê những từ ngữ gần như là phương ngôn Quảng Ngãi.
Như từ “đã nư”:
Tôi chợt ôm cô trong giấc mộng
Nút bao thanh khí, đã nư thèm
Như từ “khuya lơ”:
Muốn thấy người xa trong giấc mộng
Khuya lơ còn tựa cửa bên song
Các từ như vậy có sức gợi rất lớn. Người dân quê vùng đất Ấn - Trà thường có câu nói cửa miệng để chỉ những kẻ táo tợn coi trời bằng vung là “bán trời không chứng”, “bán trời không mời thiên lôi”, Bích Khê lấy đó làm điểm tựa để viết bài bán sầu:
Bán sầu chi đó tệ
Xưa đã từng có kẻ bán hoàng thiên
Người bán trời không chứng mới là phiền
Còn tôi bán hàng sầu tiền chẳng lấy.
Nơi đây làng cũ buồn thu quạnh. Nhà thơ đã đi nhiều nơi trong Nam ngoài Bắc để rồi quay lại quê cũ Thu Xà. Thì ra nhà thơ tiên phong trong lối thơ tượng trưng không nhất thiết phải ở chốn kinh kỳ mà có thể từ một làng quê xa xôi.
Cũng như truyền thống gia đình, học vấn, quan hệ xã hội, quê hương đã góp phần tích tạo nên một Bích Khê xuất chúng trong thơ, nhưng quê hương của Bích Khê cũng là một quê hương siêu thực. Nỗi đau của hình hài khiến nhà thơ như người không sống trong thực tại. Văn chương như một sự gặp gỡ, giúp nhà thì sĩ siêu thoát. Và ảo mộng hay ít ra nhìn trong những thời khắc ảo mộng. Thời khắc mà Bích Khê nhìn quê hương nhiều khi là lúc “khuya lơ”, là lúc “hoàng hôn trăng đã lên” với khóm lan thơm nặng khí ưu phiền, là lúc về đêm để nghe những nhành nhãn muộn cánh dơi lay. Quê hương với thiên nhiên và con người thoắt ẩn thoắt hiện trong thơ Bích Khê. Bích Khê không phải “nhà thơ quê hương” như Tế Hanh, những bài thơ viết về quê hương của Bích Khê cũng không phải đỉnh cao sáng tác của nhà thơ, nhưng với số ít ỏi thôi, những Làng Em, những Chùa Ông Thu Xà rồi Trên núi Ấn nhìn sông Trà cũng rất có giá, cũng đáng gọi là những bài thơ rất hay.
Nơi đây làng cũ buồn thu quạnh. Không thể quên rằng làng em được viết trong khi nhà thi sĩ đã nổi bệnh.
Em đang nổi bệnh trong phòng vắng
Tình đậm theo trăng sáng sáng đầy
Và rồi làng em cũng là nơi nhà thi sĩ tài hoa bạc mệnh nằm chờ đến khi trút hơi thở cuối cùng và những hình ảnh cây ngô đồng, trăng quê hương lại hiển hiện trong bài Đề Thơ Trước Mộ:
Thân bệnh: ngô vàng mưa lá rụng
Bút thần: sông lạnh ánh sao rơi
Sau nghìn thu nữa trên trần thế
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi
Hồn Bích Khê vẫn về trong bóng trăng Thu Xà với một tấm lòng vằng vặc với quê hương…
Nguồn:
Tham luận tại hội thảo Bích Khê 2006 tại Quảng Ngãi.
In trong cuốn: Bích Khê, Tinh hoa, Tinh huyết, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2008.
BÍCH KHÊ QUÊN QUÊN NHỚ NHỚ
Phạm Đương
Tháng Chạp. Đường về Thu Xà mùa này gập ghềnh giá rét. Cũng tháng Chạp 60 năm trước, trên chuyến xe ngựa muộn màng cuối ngày, Bích Khê đã trở lại quê nhà lần cuối với căn bệnh nan y. Tết Bính Tuất năm ấy (1946) ông ra đi vĩnh viễn, mãi mãi đừng lại ở tuổi ba mươi. Ông trẻ mãi với tuổi ba mươi thanh xuân đời mình. Thế nhưng những gì mà Bích Khê gửi lại cho hậu thế không hề ngắn ngủi như đời ông. Sáu mươi năm qua kể từ ngày Bích Khê tạ thế, người đời sau vẫn luôn nhắc đến ông với tất cả sự dè dặt kiệm lời vì sợ hệ lụy lẫn những ngợi ca tung hứng hết mực cao xanh. Đó là hạnh phúc lớn đối với một nhà thơ.
Cuộc hội thảo về thơ Bích Khê do Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp với Hội Văn học - Nghệ thuật Quảng Ngãi tổ chức vào hạ tuần tháng 2.2006 ngay tại Quảng Ngãi, quê hương ông, sẽ là cuộc trùng phùng hy hữu của nhiều thế hệ nhà thơ, nhà phê bình văn học chung quanh đời thơ Bích Khê cùng những “nghi án” mà ông phải gánh chịu suốt 60 năm qua. Nhiều bản tham luận mang tính học thuật cao của các bậc minh sư sẽ được trình bày tại hội thảo này. Vì vậy, tôi xin được nói về Bích Khê ở một khía cạnh khác.
Với người bạn lớn
Là kẻ hậu sinh nhưng có may mắn được tiếp cận với những trang bản thảo nhàu nhò ngay từ thời Sở Văn hóa- thông tin Nghĩa Bình làm tuyển tập cho Bích Khê (1988) do chính tay bà Ngọc Sương -- chị ruột nhà thơ trao gửi, lại được hóng hớt và hầu chuyện người bạn lớn của Bích Khê -- nhà thơ Chế Lan Viên, sau này lại có dịp thưa chuyện với bà Ngọc Sương ngay tại Quảng Ngãi, tôi xin ghi lại mấy chuyện nhớ nhớ quên quên về nhà thơ tài hoa nhưng bạc mệnh này qua ký ức những người thân của ông.
Còn nhớ, vào khoảng giữa năm 1987, sau “Đổi Mới” khoảng một năm, trên báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam có đăng bài “Hàn Mặc Tử - anh là ai?” của Chế Lan Viên. Bài báo gây một cơn địa chấn nho nhỏ trong làng văn thời bấy giờ. Vậy là những ý nghĩ thiên lệch về Hàn Mặc Tử lâu nay, giờ chính thức được ký gửi vĩnh viễn vào quá khứ -- một thứ quá khứ từng đóng đinh nhiều nhà văn trên cây thập tự của nó. Thực ra bài viết ấy chính là lời đề tựa của Chế Lan Viên trong tập “Thơ Hàn Mặc Tử” do Sở Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình xuất bản năm 1987. Lần đầu tiên, thơ Hàn được in khá đầy đủ với lời đề tựa “nhập đồng” của Chế Lan Viên do một Sở Văn hóa thông tin địa phương đứng ra tổ chức sưu tầm và in ấn. Hàn Mặc Tử không phải quê Quy Nhơn- Bình Định, song toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông lại gắn với vùng đất “quy tụ nhơn nghĩa” này. Vì vậy, tỉnh Nghĩa Bình thời ấy đã làm người lính tiên phong, trả lại chân giá trị cho các nhà văn trong tỉnh lâu nay bị khuất lấp bởi những lý do khác nhau, bằng việc xuất bản các trước tác của họ. Thời còn là tỉnh Nghĩa Bình, có một tiền lệ bất thành văn thế này: Hễ Bình Định có một “công trình”, ắt Quảng Ngãi cũng phải có! Xuất bản được thơ Hàn Mặc Tử, mặc nhiên phải xuất bản thơ Bích Khê! Ông Hồng Nhân, Giám đốc Sở Văn hóa-thông tin Nghĩa Bình thời ấy, lại là người Quảng Ngãi, cùng quê ngoại của Bích Khê, nên càng làm nhanh. Nhà thơ Chế Lan Viên dạo ấy đã yếu, song được tỉnh Nghĩa Bình mời làm tuyển tập Bích Khê, ông sẵn lòng ngay. Hơn 60 năm trước, lúc “Tinh hoa” đã xong bản thảo, Chế Lan Viên có nhận lời với Bích Khê rằng ông sẽ viết lời tựa cho tập thơ này, cũng như Hàn Mặc Tử viết tựa cho tập “Tinh huyết” trước đó. Tuy nhiên, hai cuộc chiến tranh liên tiếp đã khép lại lời hứa dạo nào. Vì vậy, khi hay tin Sở Văn hoa Thông tin Nghĩa Bình mời ông tham gia tuyển chọn để làm tuyển tập Bích Khê, Chế Lan Viên rất hào hứng hợp tác. Cũng là cái cách trả nghĩa cho bạn mình -- điều mà ông đau đáu suốt mấy mươi năm sống trên đất Bắc cũng như hơn mười năm sau ngày giải phóng miền Nam.
Bản thảo “Thơ Bích Khê” đã xong, còn chờ cái tựa. Chế Lan Viết chưa viết vội, dù những người tổ chức tuyển chọn thơ cho Bích Khê rất nóng ruột. Nhà thơ từ Sài Gòn làm một chuyến hành hương về Thu Xà để viếng mộ Bích Khê, cũng là để khơi thông mạch nguồn cảm xúc đã tích tụ mấy mươi năm trong ông. Theo Chế Lan Viên thì đây là lần thứ ba ông thăm bạn nhưng là lần thứ hai, ông viếng một nấm đất. Cũng đúng vào dịp tháng Chạp (Đinh Mão 1987) mưa phùn gió bấc. Đường về Thu Xà dạo ấy cũng gập ghềnh giá rét như chính cuộc đời của Bích Khê. Cũng như viết tựa cho Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên gần như vắt kiệt tinh túy của mình để đề tựa cho tuyển tập Bích Khê. Chưa có một nhà phê bình văn học nào trước đó, kể cả Hoài Thanh, viết về Bích Khê một cách thăng hoa như Chế Lan Viên đã viết trong lời đề tựa tuyển tập Bích Khê lần này. Tôi còn nhớ dạo ấy, nhà thơ đã gửi bằng thư bảo đảm lời đề tựa này về Sở Văn hóa-Thông tin Nghĩa Bình cho kịp đưa nhà in. Ông viết bằng bút mực tím, khoảng gần 20 trang trên giấy vở học trò. Tôi cùng Nguyễn Thanh Mừng (nhà thơ, hiện là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Định) phải “dịch” suốt một buổi chiều mới xong lời tựa này vì chữ viết của Chế Lan Viên là vô cùng khó đọc, văn chương của ông lại “lời lời châu ngọc” nên càng phải cẩn trọng hơn. Hai anh cử nhân văn chương “phải toát mồ hôi” mới hoàn thành “bản dịch” của nhà thơ. Sau này, cùng anh Hà Giao “chủ xị” làm tuyển tập Bích Khê, có ghé Bà Quẹo trong Sài Gòn để thăm Chế Lan Viên, tôi kể lại chuyện “dịch” trên và được ông hạ cho một câu làm tôi toát mồ hôi thêm lần nữa: “Hai cậu khá lắm, tôi cứ lo ngay ngáy, sợ đọc không ra chữ của tôi!”
Và với quê hương
Bích Khê sinh năm Bính Thìn 1916 tại làng Phước Lộc, một vùng đất trù phú ven sông Trà thuộc huyện Sơn Tịnh. Đây là quê ngoại của nhà thơ nhưng chỉ gắn với ông thật ngắn ngủi vì toàn bộ dấu chân tuổi thơ của Bích Khê được in lên mảnh đất Thu Xà, một thương cảng đồng thời là khu phố cổ khá sầm uất của người Minh Hương thế kỷ XVIII-XIX, nơi con sông Vực Hồng chuẩn bị đổ ra sông Phú Thọ rồi hòa vào biển Đông. Sinh ra trong một gia đình Nho học và yêu nước, ông nội Bích Khê từng cáo quan về dạy học rồi chọn cái chết cho mình để tránh can dự vào tội ác chống lại nhân dân. Bích Khê chịu ảnh hưởng khá sâu đậm về tư chất lẫn tinh thần dân tộc của những người thân trong gia đình. Bố của Bích Khê cũng là một nhà nho thanh cao. Ông có hai đời vợ nhưng đó lại là những mối tương duyên kỳ ngộ hiếm thấy. Hai người vợ của ông là hai dì cháu ruột! (bà dì mất rồi ông mới lấy cô cháu). Vì vậy, trong gia đình Bích Khê, hầu như ai cũng thuộc câu này: “Lúa đen đổ lộn trì trì/ Cháu lấy chồng dì kêu dượng bằng anh!”, Dù là hai “đời” nhưng tất cả những người anh em của Bích Khê đều có chung một hướng: Theo cách mạng đi kháng chiến. Do mất quá sớm nên Bích Khê chỉ còn kịp nhìn ngọn quốc kỳ của nước Việt Nam mới trước khi qua đời mấy tháng. Nếu còn sống, chắc chắn ông sẽ lên đường kháng chiến như lớp trí thức bạn ông cùng thời.
Phải dông dài một chút về truyền thống gia đình và hành tung của những người thân Bích Khê để nói rằng, những gì mà người đời sau gán cho Bích Khê bao nhiêu tình tội mấy chục năm qua là hết sức vô lý. Người không biết, nói nhảm đã đành, kẻ có chút ít hiểu biết, cũng a dua theo để gán tội cho ông. Bích Khê có rất ít bài thơ viết về quê hương của mình, song một khi làng quê ấy hiện hữu trong thơ ông, lập tức nó trở nên kỳ ảo đến không ngờ. Những câu thơ ông viết về Thu Xà về Chùa Ông hay về Thiên Ấn đều có một lực hút riêng. Nó luôn gây cho ta một nỗi ám ảnh khó tả. Một nhà thơ mà không đau đáu với quê hương mình, không gan ruột với nơi mình sinh ra, sẽ không thể viết được những câu thơ ám ảnh nhiều thế hệ đến như thế. “Ngày đi chậm lắm. Dòng sông biếc/ Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa”. Những lúc buồn, đọc câu thơ ấy, như muốn khóc được, nhưng không lụy ngã, mà đứng dậy. Thơ có thể dìu con người ra xa một bờ vực là như thế.
Cũng chính những ám ảnh do thơ ông mang lại nên người dân thành phố Quảng Ngãi đã đặt cho Bích Khê một tên đường. Đó bà con đường từ bến xe ngựa cũ, cạnh chợ Quảng Ngãi, dẫn về Thu Xà, quê hương nhà thơ. Có lẽ chưa ở nơi đâu trên đất nước mình, người dân lại đặt tên đường cho nhà thơ mà mình yêu quý như ở Quảng Ngãi. Là bởi, họ đã làm thay cái việc mà lẽ ra chính quyền phải làm. Tôi còn nhớ, hình như năm 1996, sau khi đặt lại toàn bộ tên đường cho thị xã Quảng Ngãi lúc bấy giờ, người ta đã âm thầm gạch tên Bích Khê ra khỏi con đường ấy và thế vào đó bằng tên của một nhà thơ nổi tiếng hơn: Nguyễn Du. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là trên những bức tường rêu phủ, trên những chiếc cổng lờ mờ màu vôi nhạt, người dân vẫn để nguyên cái tên nhà thơ mà mình yêu quý: Đường Bích Khê! Những người nắm giữ sinh mạng chính trị của kẻ khác thì luôn “đặt điều” cho Bích Khê, còn người dân của quê hương ông thì “đặt đường” cho nhà thơ! Đó là sự khác biệt lạ kỳ mà chỉ có Quảng Ngãi mới có thể xảy ra. Kỳ lạ đến mức, gia đình Bích Khê làm đơn xin dời mộ của ông về trong khuôn viên của nhà thờ, họ cũng không cho!
Không sao cả. Cũng may là họ đã không cho, để Bích Khê còn nằm với thập loại chúng sinh - bạn đọc của nhà thơ - nơi nghĩa trang sau lưng đường lên Hội quán Thu Xà quê ông. Đầu năm 1946, Bích Khê ký gửi: “Sau nghìn thu nữa trên trần thế/ Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi”. Sáu mươi năm sau, một cuộc hội thảo quy mô về thơ và cuộc đời ông được tổ chức ngay tại Quảng Ngãi. “Bóng nguyệt” mà ông kỳ vọng sẽ soi kỹ qua cuộc hội thảo này. Để biết, cái còn lại sau đám cháy, là khói bụi hay là vàng
Quảng Ngãi, tháng Chạp năm Ất Dậu 2005
RẰM CUỐI NĂM
Quách Giao
Qua khỏi bến đò, leo lên một con dốc cao bà Hai đã thấm mệt. Tuổi đã tám mươi nên sức khỏe yếu đi.. Ngồi nghỉ trên tảng đá bên đường, bà Hai nhìn xuống mặt biển mênh mông. Tiết trời tháng chạp năm nay khí hậu bổng nhiên se lạnh. Gió tự phương Bắc tràn về. Những cụm mai được lặt lá trơ trụi, như chịu lạnh để chuẩn bị cho hoa nở thịnh đón xuân về..
Hôm nay là ngày rằm cuối năm. Chùa Từ Tôn tấp nập khách thập phương. Nơi đây ngày rằm nào cũng đông khách .
Rằm tháng giêng, sau những ngày xuân hội dâng hương lễ Phật rộn ràng áo mới, niềm vui. Lễ rằm đầu năm được mang tên là rằm nguyên tiêu. Còn có tên là Thượng nguyên. Rằm tháng giêng các chùa thường tổ chức lễ hội Dược sư, chính quyền có tổ chức hội thơ Việt Nam.
Rằm nguyên tiêu trăng sáng trong. Khí trời tươi xanh mát mẽ. Thuở trước, các văn nghệ sĩ thường tự tổ chức với nhau đêm hội tụ ngắm trăng bình thơ. Bên chén trà thanh đạm những bài thơ tự tâm mình làm được đem đọc cho nhau nghe. Bây giờ các nhà thơ, nhà văn được chính quyền gởi thiệp mời trân trọng, và chủ đề được lựa chọn sẳn. Tha hồ đọc thơ. Có nhiều bài được làm tự thuở nguyên tiêu nhiều năm trước, nay thay đổi một vài từ cho hợp với tháng năm. Văn minh hơn có những bài thơ nói về trăng được điểm thêm vào vài danh từ nguyên tiêu, thượng nguyên cho trọn vẹn.
Rằm tháng hai còn tiếp nối những niềm vui của mùa xuân vui vẻ.
Rằm tháng ba chan hòa khí xuân muộn của tiết Thanh minh và lễ hội Đạp thanh
Rằm tháng tư là ngày Phật đản sanh. Lễ được chuẩn bị từ ngày mồng bốn cho đến ngày rằm. Hội được tổ chức qui mô: có xe hoa, thả hoa đăng v.v..
Rằm tháng sáu là ngày lễ lớn nhất của Phật giáo Nam tông.Theo kinh điển thì ngày nầy có 4 sự kiện quan trọng:
- Thứ nhất là ngày sinh của đức Phật,
- Thứ 2 là ngày đức Phật xuất gia,
- Thứ 3 là ngày đức Phật thành đạo
- Thứ 4 là ngày đức Phật triển khai pháp thuật thần thông.
Rằm tháng bảy là lễ Vu Lan, ngày xóa tội vong nhân và nhớ tưởng đến Mẹ. Còn có tên là Tết Trung nguyên
Rằm tháng tám là Tết của thiếu nhi thường gọi là Tết Trung thu
Tháng chín, có Tết Trùng cửu ( 9/9) ngày rằm cũng có tên là rằm trùng cửu.
Tháng mười có Tết Hạ nguyên còn gọi là Tết cơm mới. Rằm có tên là rằm tháng mười. Có nhiều nơi xem đây là ngày rằm lớn (rằm tháng giêng có siêng thì quải, rằm tháng bảy kẻ quải người không, rằm tháng mười, mười người đều quải). Còn có tên là rằm Hạ nguyên.
Rằm tháng mười một là một ngày rằm nối tiếp., chuẩn bị cuối năm.
Rằm tháng mười hai là rằm cuối năm còn gọi là rằm tất niên. Trước ngày rằm có ngày vía đức Thích Ca thành đạo (8/12) Đây là ngày rằm duy nhất là ngày hội tụ của các cụ già, Ngày các cụ ngồi quây quần bên nhau sau buổi cúng lễ. Bữa ăn cơm chay tất niên có mặt vị sư trụ trì. Trong bửa cơm các cụ chúc nhau lời mừng bình an cuối năm và hứa hẹn gặp lại nhau trong buổi rằm nguyên tiêu tức là rằm năm mới. Có thể trong những ngày xuân vì bận vui cùng con cháu nên không thể đi đến từng nhà thăm và chúc lẫn nhau nên các cụ nhân buổi lễ hội cuối năm này mà chúc tết nhau.Cuộc hội cuối năm xem có ai mất ai còn, ai mạnh ai yếu.
Hôm nay các cụ lắng nghe một câu chuyện văn chương giữa sư cụ trụ trì và một nhà giáo về hưu. Đó là chuyện nhà thơ Bích Khê từ giã cuộc đời vào ngày rằm tháng chạp năm Ất Dậu tức ngày 17 tháng 1 năm 1946:
Từ khi bệnh Khê tái phát, mặc dù sức yếu, Khê vẫn không nghỉ sáng tác vì những mong hoàn thành sự nghiệp văn chương trước khi buông xuôi tay. Những thơ văn Khê làm ra các bạn quen thân đến chơi chép dùm lấy. Nhưng từ ngày cuộc cách mạng quốc gia thành công, Khê không nhờ đến bạn:
- Để tập viết cho quen.
Ngoài xã hội cuộc sống tưng bừng rộn rịp. Lòng Khê cũng rộn rịp tưng bừng.
Nhưng một hôm đương ăn cơm bổng nghe tin Tạ Thu Thâu bị giết! Khê sửng sốt, hai hàng nước mắt chảy ròng ròng. Chàng bỏ đủa đứng dậy đi vào phòng:
- Sao người ta không trọng dụng nhân tài? Một nhân tài dày đạo đức như Tạ Thu Thâu mà người ta nỡ dang tay..!!
Rồi vật mình xuống giường úp mặt vào gối. Và luôn mấy tuần, nét buồn dàu dàu trên gương mặt Khê.
Sau một thời gian thương xót, ngao ngán, Khê trở lại tươi tỉnh, nói chuyện nhiều và viết lách cũng nhiều. Buổi hôm, buổi mai lại đem kinh A Di Đà ra đọc và mong được sớm về cõi Tây phương.
Ngày tháng qua trong êm dịu. Nhất dương đã sanh, ngày xuân sắp đến, Khê lo sửa soạn cho cái chết nhất định của chàng. Chàng thường cầm tay chị nói một cách vui vẻ và tin tưởng:
- Em sắp về quê hương cực lạc, hoa muôn thơm nghìn sáng và chim biết thuyết pháp tụng kinh.
Khê lại thường mời mẹ lại ngồi bên giường nói chuyện. Chàng luôn luôn nhắc nhở ơn sinh thành, luôn luôn ca tụng đức hy sinh của mẹ, nhất là trong mấy năm chàng mang bệnh ngặt nghèo. Thỉnh thoảng chàng kêu các cháu lên cho tiền và nô đùa cùng chúng..
Rồi tháng chạp đến. Mặc dù chánh thể đã đổi mới, các nhà thế tộc vẫn giữ lề lối xưa: có nhà đã bắt đầu sắm Tết.
Khóm hoàng mai ở trước sân đã lác đác nở và đưa lọt vào phòng Khê một mùi hương thanh thanh. Khê cho mời mẹ và hai chị thứ Sáu, thứ Tám đến. Chàng nói:
- Thưa mẹ con sẽ chết trong tháng chạp nầy, song chưa biết ngày nào. Chết không phải là mất. Xin mẹ và các anh, các chị chớ buồn.
Đoạn bảo người chị thứ Sáu lấy giấy bút để ghi lời di chúc. Chúc rằng:
- Khi chết không được khóc
- Chết xong liệm liền chôn liền
- Liệm rất đơn giản: một chiếc drap đắp kín thi hài. Một chiếc hòm váng tạp. Đám đi không trống không kèn.
- Bà con bạn bè đến phúng điếu, tiền bạc không nhận phải đem trả tận nhà.
- Ngày giổ không cúng cơm cá, chỉ một nén hương hay một lư trầm và một bình hoa.
- Tác phẩm chưa xuất bản, giao bản quyền cho vợ chồng chị Ngọc Sương.
Chị Ngọc Sương là chị thứ Tám và chồng là Lạc Nhân.
Người chị ghi xong, chép kỹ lại đưa cho Khê xem, Khê trao lại cho mẹ và căn dặn phải theo cho đúng. Rồi một tối cơm nước xong, Khê gọi mẹ vào, âu yếm kéo mẹ ngồi bên cạnh, siết tay mẹ mà thưa:
- Chỉ ba ngày nữa con sẽ không còn ở với mẹ. Đúng ngày rằm tháng chạp thì con chết. Khi nằm nhà thương Huế con có quen với một nhà sư chùa Phú Thọ, lúc ấy cũng nằm nhà thương như con. Thầy ấy hiện đã trở về chùa. Mẹ cho người xuống rước lên tụng cho con ba ngày kinh.
Nhà sư đến. Bàn thờ Phật đặt giữa nhà, bên cạnh phòng Khê. Khê nằm chắp tay lên ngực, lặng lẽ nghe kinh. Một quyển kinh tụng xong, nhà sư cùng Khê chuyện trò thân mật.
Đến ngày 14 Khê bảo mẹ:
- Mẹ sửa soạn cho con một bửa cơm mặn thật ngon..Ngày mai con ăn chay.
Qua ngày rằm Khê bảo nấu nước lá thơm tắm gội. Đến chiều Khê bảo chị dọn tất cả ly chén, thuốc men, không cho để một vật gì bên chỗ Khê nằm. Tối đến thưa cùng mẹ:
- Con còn ở với mẹ nửa đêm nay nữa. Ngày trăm tuổi già của mẹ, con sẽ về rước mẹ đi.
Cả nhà đều lo sợ buồn thương. Nhưng Bích Khê trông rất thản nhiên và tỉnh táo. Chàng nằm lim dim đôi mắt và chăm chú nghe kinh. Chốc chốc mở mắt nhìn đồng hồ với một nụ cười hiền lành và tin tưởng. Đến 11 giờ một cơn ho xé ruột người thân yêu. Cơn ho ngớt, Khê mở to đôi mắt đăm đăm nhìn đồng hồ. Đến 11 giờ rưỡi, Khê có vẻ ngạc nhiên “ủa ủa” lên mấy tiếng. Chàng ngạc nhiên vì có lẻ nghĩ rằng vì sao đã gần nửa đêm rồi mà mình chưa tắc nghỉ, có lẽ ngờ rằng dự cảm của mình không phải là linh cảm nên chắc sai.. Nhưng rồi chàng nhắm mắt lại, lặng lẽ nằm nghe kinh.
Ngoài tiếng đọc kinh, trong nhà không một tiếng nói, tiếng động. Không ai ngủ được và trên mặt người nào cũng có vẻ buồn lo. Ai nấy thỉnh thoảng cũng đưa mắt trông vào phòng Khê nằm. Chợt người nuôi Khê chạy ra hốt hoảng nói nhỏ:
- Chao ơi, tôi vừa thấy một làn ánh sáng xanh dờn từ nơi giường cậu Chín bay xẹt lên nóc nhà, làm tôi lạnh cả người.
Cả nhà liền chạy vào phòng Khê, nhưng không thấy chi cả. Ngọn đèn dầu chong leo lét và Khê nằm im lìm nghe kinh. Bà cụ khẻ hỏi con:
- Con có thấy mệt lắm chăng?
Khê mở mắt âu yếm nhìn mẹ
- Trong người con thấy khỏe lắm. Con cần ngủ một tí. Mẹ hãy đi nghỉ đi.
Thấy vẻ mặt bình tỉnh của con, nghe lời nói bình tỉnh của con, bà cụ yên tâm cùng người nhà trở ra phòng ngoài. Nhưng mọi người đặt lưng chưa ấm chiếu, thì người nuôi liền gọi cho biết rằng Khê đã tắt thở rồi!
Lúc bây giờ gần đúng 12 giờ khuya, ngày rằm tháng chạp năm Ất Dậu, tức 17 tháng 1 năm 1946.
Tiếng kinh đọc lớn thêm. Nhưng tiếng nức nở phải dồn vào lồng ngực vì phải theo đúng lời trối của Khê để cho hồn Khê siêu thoát. Nhưng khi đã đậy nắp quan tài rồi thì tiếng khóc than không còn có thể ngăn được nữa..
(Trích Đời Bích Khê của Quách Tấn)
Chuyến đò đưa các cụ qua bờ êm đềm lướt trên sóng nước. Cõi đời vô thường còn lại không bao lăm mà trong lòng các cụ vẫn chứa chan tình cảm với cảnh nước mây này: cây, đá tươi thắm dưới mái chùa Từ Tôn.
Nguồn:
ninhhoa.com
NHÀ THƠ BÍCH KHÊ XỨ QUẢNG
TRONG VÒNG TAY CỦA THI HỮU
XỨ BÀN THÀNH CỦA BÌNH ĐỊNH
Lâm Bích Thủy
Theo sự hiểu biết hạn hẹp và qua những bức thư của bác Quách Tấn gửi cho ba tôi (nhà thơ Yến Lan), tôi đọc thấy, xin chia sẻ để các bạn hiểu thêm về “cái nôi thơ” mà người đời thường tâm đắc “Bình Định là đất võ mà ẩn chứa trong mình những bí ẩn về văn chương”.
Có một bức thư trong số nhiều bức, bác Quách Tấn viết rằng:
“Nha Trang lập xuân 1988
Chú Yến Lan,
Cách đây 1 tuần tôi có gởi ra chú 1 bức thư nói về Trường thơ Bình Định. Chú nên cho ông Thu Hoài biết rằng không có Trường thơ Bình Định, chỉ có Trường thơ loạn của Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan mà thôi! Trường thơ này không thể thành Trường thơ Bình Định được. Bình Định chỉ có một nhóm gồm 4 thành viên mà các bạn yêu thơ do Trần Thống ở Kiên Mỹ đại diện, gọi là Bàn Thành Tứ Hữu. Nhóm thơ gồm có: Hàn, Chế, Yến, Quách. Bốn bạn này mang tên một con vật trong bộ Tứ Linh. Hàn là Rồng, Chế là Phụng, Yến là Lân, Quách là Rùa. Đó là cách so sánh lý thú và khá phù hợp với tính cách từng người. Lại một điều lạ nữa, tuy nhóm giao du rất rộng, nhưng không mở rộng, trước sau chỉ có bốn người. Khi Tử mất thì Bích Khê thế vào"
Tôi đã viết một bài nói về nhóm thơ Bình Định vừa vui vừa nói lên được phong độ và sắc thái của thơ Tiền chiến Bình Định. Đó là từ 1930 đến 1945, từ 1945 đến 1985 trừ Tử và Khê đã mất, kẻ còn lại đều hoạt động đều đặn.
Bích Khê và Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử là Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 1912 mất vào ngày 11.11. 1940; quê Quảng Bình, nhưng sống và qua đời tại Qui Nhơn, Bình Định. Đã xuất bản tập thơ “Gái quê” 1936
Bích Khê sinh ngày 24.3.1916 tại xã Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ông là con thứ chín trong một gia đình nho học yêu nước, có ông nội là Lê Trọng Khanh đỗ Cử nhân năm Tự Đức thứ 21 (1868), làm quan đến chức Viên ngoại lang Viện cơ mật.
Năm 1935, khi còn ở Phan Thiết, Hàn Mặc Tử quen cô cháu gọi Bích Khê bằng cậu. Từ sự đam mê thơ Tử, cô đem khoe với cậu và ngược lại lấy thơ cậu cho Tử xem. Ban đầu, người này đọc thơ người kia, không ai phục ai. Đến khi, đọc “Hương thơm và mật đắng” của Tử thì Bích Khê đã thốt lên:“Hàn Mặc Tử đã đi trước ta quá xa, đây hẳn là thiên tài!”.
Còn Tử, đầu năm 1938 được Bích Khê gởi tặng ba bài thơ “Thi tứ”, “Ảnh ấy”, “Thời gian” liền nhận ra ở Bích Khê một tài năng thơ hiếm thấy, khiến người đọc đê mê da diết. Hàn liền biên thư để khích lệ bạn làm được bài nào gửi ra bài ấy. Song, Hàn thất vọng, vì không chọn được bài nào trong số đó, bèn trả lại kèm thư chọc quê Khê, cốt để bạn tự ái mà viết hay hơn.
Quả nhiên, sau khi đọc thư Hàn; Bích Khê trút giận vào các tập thơ, xé nát không chút luyến tiếc. Cơn giận lui, Bích Khê tự thách thức: “Trong sáu tháng sẽ trở thành một thi sĩ phi thường, bằng không, sẽ không bao giờ làm thơ nữa”. Nhưng, chỉ ba tháng sau, một khát vọng sống, khát vọng yêu và khát vọng thi ca đã làm cho nguồn thơ vô tận từ trái tim Bích Khê tràn ra đầu ngọn bút. Ông hoàn tất đúng như ý nguyện; mỗi chữ, mỗi câu thơ đều thể hiện tình yêu đôi lứa mạnh như bom tấn; chân thật mà lãng mạn, mãnh liệt mà không sáo rỗng, mang sắc thái của dòng thơ mới, rất lạ và độc đáo. Áng thơ chất chứa cả tinh huyết, dung mạo của ông qua bao đêm miệt mài, vì thế ông phờ phạc, tóc ở thái dương bạc trắng! Ông gửi vào cho Hàn. Quả nhiên, sau khi ngốn hết tập thơ, Tử không có chỗ nào để chê bạn được nữa. Bằng sự trân trọng và ngưỡng mộ, Hàn viết lời tựa tập thơ: “Một bông hoa lạ nở hương, thứ hương quí trọng thơm đủ mọi mùi phước lộc”. Sau đó Hàn giới thiệu Bích Khê với nhóm “Tứ Linh”.
Bích Khê đến với Hàn lúc Hàn đang mang căn bệnh quái ác, nhưng Tử không thấy mặc cảm với Bích Khê, vì Khê đối xử với Hàn quá ư triều mến, chân thành: như nắm tay, ôm choàng bạn mỗi khi gặp Tử. Một cử chỉ không thể có, ngay cả với người thân trong gia đình, làm mềm lòng Tử.
Thật tiếc! đôi bạn tài hoa và nặng tình ấy, gần nhau chưa tới ba mùa xuân thì Tử bị gom vào nhà thương Qui Hòa. Thương nhớ bạn, Bích Khê viết bài “Hàn Mặc Tử” được bác Quách Tấn và chú Chế cho là giai tác. Bài thơ chưa kịp đến an ủi Tử, thì Bích Khê nhận hung tin Tử qua đời. Thơ nhớ thành thơ điếu bạn.!
Bích Khê Với Quách Tấn
Năm 1941, qua giới thiệu của Tử, Bích Khê đến Nha Trang tìm gặp bác Tấn. Duyên cớ gì mà mới gặp lần đầu hai người như đã biết nhau từ lâu. Nhà bác Tấn lúc đó là điểm hẹn văn hóa; các văn sĩ tứ xứ, ai đến đây nghỉ chân đều gửi lại Trường Xuyên (bút hiệu Q. Tấn) văn, thơ và bản thảo. Vì lẽ đó, Bích Khê đã lưu lại đây một thời gian dài để nghiền ngẫm, nghiên cứu và giao lưu cùng bạn văn chương…
Từ nơi này, Bích Khê đã tiếp thu những tinh hoa của thơ Đường nhờ bác Tấn, nhà thơ đường cuối cùng của thế kỷ XX ở đất Việt. Và cũng từ nơi này Bích Khê tiếp cận cả nền văn học Đông-Tây-Kim-Cổ. Đặc biệt hầu như toàn bộ những tác phẩm của Hàn, Yến, Chế đã xuất bản, đều có trên giá sách nhà này. Tuy bệnh tình hành hạ nhưng Bích Khê gắng lưu lại để nghiền ngậm và mong gặp những người mà Hàn đã giới thiệu.
Bác Tấn rất nặng lòng với Bích Khê. Nhìn Bích Khê lâm bệnh hiểm nghèo, ông lặng lẽ đi tìm thầy, tìm thuốc về nhà chửa cho bạn. Ít lâu sau, thấy bệnh mình không giảm, ông sợ phiền bạn nên tạm biệt để về quê. Bác Tấn khuyên ông hãy ở lại thành phố chửa khỏi bệnh rồi hãy về, nhưng Bích Khê vẫn một mực từ chối.
Thời loạn lạc đến, bác Tấn tản cư về Trường Định. Ít tháng sau thì nhận được tin Bích Khê qua đời, thương bạn bác viết:
Ngắm vội trời Thiên Ấn
Cố nhơn ơi cố nhơn
Bóng theo Hàn Mặc Tử
Tâm gửi Ngũ Hành Sơn
Danh vọng đài mây vút
Anh Ba biển sóng dồn
Đã hay nghìn tuổi thọ
Thương nhớ lụy đói cơn.
Bích Khê Với Chế Lan Viên
Năm 1937, Chế Lan Viên nổi tiếng trong cả nước với tập thơ “Điêu tàn”. Bích Khê sửng sốt thốt lên rằng “cậu bé này quả nhiên là một thần đồng”, ông tìm cách gặp Chế.
Người ta bảo thơ Chế và Khê giống nhau; có cùng tâm thức và thịnh tình với các nhà thơ phương Tây như Valery, Bauderlaire, Edgar Poe.
Lúc Bích Khê đang điều trị ở viện bài lao Pasquier, hai nhà thơ Chế Lan Viên và Nguyễn Đình ra thăm bạn. Khi chia tay, Bích Khê buồn bã nói qua làn nước mắt: “Bao giờ mình gặp lại nhau nữa! mà chắc gì chúng ta còn có dịp để gặp lại ?!
Cuối năm 1943 Bích Khê gửi tập “Tinh hoa” vào Nha Trang, nhờ Chế đề tựa sẵn, chờ có tiền sẽ xuất bản. Chú Chế nhận lời, đọc hết tập thơ. Một cảm giác lạ như có dòng điện chạy qua sống lưng, cảm giác hiếm hoi ở Chế khi đọc thơ bạn, mà bấy giờ chú đã dành những lời châu ngọc để ca ngợi về tài thơ của Khê, đã viết sẵn lời tựa. Song, cuộc đảo chính của Nhật hất Pháp; chiến tranh bùng nổ; cảnh ly biệt, Chế đành gác lại.
Rồi, Bích Khê qua đời! món nợ với người quá cố đeo đẳng mãi trong Chế.
Đến năm 1987, bạn văn và gia đình Khê đã cất công tìm và tập họp di cảo của Bích Khê giao lại cho chú Chế. Nhờ vậy, chú đã hoàn thành việc mà Bích Khê ký thác hơn nữa thế kỷ qua…
Bích Khê Với Yến Lan
“Tiền và Hậu Ngũ hành sơn” là hai bài thơ nổi tiếng của Bích Khê được Chế Lan Viên đánh giá cao hơn bài “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp. Nhà thơ Nguyễn Đình chép được khi cùng Chế đến thăm Bích Khê tặng lại cho ba tôi, nhà thơ Yến Lan.
Xem thơ, ba tôi rất phục tài và mến mộ Bích Khê, ông mong có ngày gặp được bạn để tỏ tường.
Một chiều thu, ba tôi đang trầm tư trước tờ giấy kẻ ô vuông với những câu thơ đang làm dở. Đột nhiên, một thanh niên xuất hiện với chiếc túi nhỏ trên vai. Tuy chưa xưng danh, nhưng ông nhận ra người lữ khách giang hồ gầy guộc, nước da xanh, thoảng húng hắng ho là tác giả những vần thơ:
Kim, Mộc, Hỏa, Thổ lạy
Trên, dưới, đất, trời chầu
Ông mừng rỡ, đỡ túi trên vai bạn rồi, đưa vào gian nghĩa tự chùa, nơi trước đây đã gặp Hàn Mặc Tử và Nguyễn Công Hoan. Bích Khê lúc này trông rất mỏi mệt. Vì vậy ông chỉ ở lại với ba tôi vài ngày rồi cáo lỗi vào Nha Trang để tìm thầy chữa bệnh. Biết bạn đang mang bệnh hiểm nghèo (lúc đó bệnh lao là một trong ba loại bệnh khó chữa), ba tôi nghĩ chắc bạn cần giúp đỡ, nên sau khi tiễn bạn ra ga xe lửa, ông sắp xếp công việc ở chùa rồi vào Nha Trang để gặp bác Quách Tấn, bàn cách giúp Bích Khê.
Trên Báo Kiến Thức Ngày Nay số 206 ( 20.4.1996), bài viết: “Tiếng gọi đò trên Bến My Lăng” do Tô Đình Tuân thực hiện. Và trong bài “Từ Bến My Lăng phác thảo chân dung Yến Lan” của nhà văn Võ Văn Trực trên báo Văn Nghệ ra ngày 7/6/1991 có sự sẻ chia của ba tôi:
“Tôi quen Bích Khê khi anh lâm bệnh nặng. Lúc đó tôi dạy học cho trẻ em hàng xóm kiếm sống. Tôi thương Bích Khê và phục tài anh lắm. Tôi bàn với Quách Tấn đưa Bích Khê vào Nha Trang tìm cách nuôi nhau. Chúng tôi góp tiền thuê một nhà nhỏ ở phường Củi cho Bích Khê. Ở Nha Trang được một thời gian ngắn, Bích Khê bỏ ra đi, chúng tôi chia nhau tìm, nhưng không thấy. Sau đó, chính Nguyễn Đình đã vô tình gặp lại Khê. Bọn tôi, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình lại bàn đưa Bích Khê ra Huế chữa trị, an dưỡng. Về kinh tế tùy theo hoàn cảnh từng người giúp Bích Khê. Tôi chưa vướng bận vợ con, mỗi tháng góp 30đ, Chế Lan Viên phải nuôi cha mẹ già và hai chị, góp 10đ, Nguyễn Đình 20đ, Quách Tấn có vợ, con đông, góp 20đ. Chị Tấn đảm nhận việc thu rồi gửi ra tận viện Pasquier cho Bích Khê.
Một thời gian sau, tôi nhận được phong thư viết bằng bút chì. Ngoài bì thư đề: Kính gửi : Ông Yến Lan. Trong thư viết:
“Yến Lan! Mình rất cảm ơn cậu và các bạn đã chăm lo cho mình. Bây giờ mình không còn chịu đựng được nữa, mình đành vĩnh biệt cuộc sống, vĩnh biệt bạn bè!”. Ký tên: Bích Khê”
Sở dĩ tôi trích bài báo này để minh chứng bài viết của tôi là có cơ sở “nói có sách, mách có chứng,” vì trong hồi ký của bác Tấn không có từ nào nói về điều này. Mà đây là vấn đề rất nhạy cảm. Gia đình ông khá giả, bà con đông hà cớ gì các bạn văn của xứ Nẫu lại phải chăm lo, đóng góp để nuôi Bích Khê như đã kể trên. Ba tôi là người trọng danh dự, không nhận những gì không phài mình làm ra hoặc chưa làm mà kể công …
Và tôi tin ờ cha mình đã làm như lời ông tâm sự.
Nguồn:
Trích hồi ký: Về người cha thi sĩ, của Lâm Bích Thủy
http: // dutule.com. 23/6/2014
CÓ MỘT "PHỐ CŨ" VÀ MỘT "BÍCH KHÊ"
VEN SÔNG VỰC HỒNG
Hồ Nghĩa Phương
Tháng chạp tôi về thăm Thu Xà, một buổi chiều đông tôi thẫn thờ bên bờ sông Vực Hồng, nơi bến sông tiễn người đi và đón người mới đến, dòng nước xuôi về cửa Lở hoặc rẽ trái chảy ra cửa Đại. Bên kia sông là xóm Hà Khê ở giữa lưu vực sông Vệ, một ốc đảo tràn ngập phù sa nhưng ít bóng người.
Thu Xà có lịch sử hình thành rất lâu, là một trong những thương cảng sầm uất thời chúa Nguyễn như Phố Hội (Quảng Nam), nhộn nhịp thương nhân người Hoa đến an cư lập nghiệp. Người Hoa đã xây dựng ở đây những chùa chiền miếu mạo, những ngôi nhà cổ. Dấu tích duy nhất còn sót lại sau năm tháng chiến tranh là chùa Ông, hiện nay là di tích cấp quốc gia.
Nói đến Thu Xà, không một người dân nào ở Quảng Ngãi không biết là nơi nhà thơ Bích Khê cuối đời mất và chôn cất ở đây. Con đường làng quanh co rợp bóng tre để đến ngôi mộ ông, nếu không có người hướng dẫn ta sẽ đi lạc và cũng khó tìm ra ngôi mộ của ông giữa những ngôi mộ khác trong nghĩa địa. Đơn giản chỉ là tấm bia ghi tên tuổi, năm sinh, năm mất của ông, nó không khác mấy như những ngôi mộ khác xung quanh. Cuộc đời và sự nghiệp của ông để lại vỏn vẹn trong hai tập đã xuất bản: Tinh Huyết, Tinh Hoa và những bài thơ khác đang lưu giữ trong tộc họ.
Trước tháng 4.1975 do yêu mến thơ ông, người dân ở Quảng Ngãi đặt tên ông cho một con đường phía đông Thành cổ nay là đường Nguyễn Du, TP. Quảng Ngãi. Cách đây vài năm, sau Hội thảo cấp Quốc gia nhân 90 năm Ngày sinh Bích Khê, HĐND tỉnh đã ra nghị quyết đặt tên một con đường nối từ đường Lê Trung Đình đến ngã tư Ba La là đường Bích Khê. Nhà thờ tộc họ Lê hiện được xây dựng lại khang trang trên nền đất cũ, do sự đóng góp tự nguyện của gia đình bà con tộc họ Lê ở khắp trong nước. Trong nhà thờ có bàn thờ riêng và tượng bán thân của Bích Khê được đặt trang trọng ở một vị trí bên trái. Con cháu tộc họ Lê ở gần đó hằng ngày sớm hôm nhang khói ấm cúng.
Hướng đến 100 năm ngày sinh Bích Khê (24.3.1916 - 24.3.2016), Quảng Ngãi đã có kế hoạch chuẩn bị một số hoạt động như: Sưu tầm, tuyển chọn và biên tập thực hiện Tổng tập 100 năm Bích Khê; thiết kế và xây dựng vườn tượng Bích Khê tại khuôn viên nhà thờ tộc họ Lê ở Thu Xà; tổ chức liên hoan trình diễn thơ Bích Khê… Những hoạt động trên sẽ phục dựng những cống hiến của thi sĩ Bích Khê đối với sự nghiệp thơ ca nước nhà nói chung và là niềm vinh dự xứng đáng cho người con ưu tú đã làm rạng danh quê hương Quảng Ngãi.
Là kẻ hậu sinh, tôi đã đọc những sáng tác của Bích Khê và đã vô cùng khâm phục trước những thi ảnh, thi tứ, hình tượng, từ ngữ… mới lạ ông sử dụng trong thơ. Một trong những câu thơ tiêu biểu: “Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông…” đã nói lên sự tinh anh của tài hoa thơ ấy. Khó có thể nói có câu thơ của tác giả nào về mùa thu hay hơn câu thơ được trích trên của thi sĩ Bích Khê trong phong trào Thơ Mới.
Nguồn:
Báo Quảng Ngãi số ra ngày 13/3/2015
PHẦN III
DƯ LUẬN PHÊ BÌNH NGHIÊN CỨU
THƠ BÍCH KHÊ QUA THỜI GIAN
PHẦN III A
THƠ BÍCH KHÊ TRONG DƯ LUẬN BÁO CHÍ 1936-1945
DƯ LUẬN VỀ THƠ BÍCH KHÊ TRÊN SÁCH BÁO VIỆT TRƯỚC 1945
Lại Nguyên Ân
Về sáng tác của nhà thơ Bích Khê (họ tên thật: Lê Quang Lương, 24/3/1916 – 17/1/1946), lâu nay dư luận công chúng thường biết đến tập “Tinh huyết” – tập thơ duy nhất được xuất bản trong sinh thời tác giả (Trọng Miên xuất bản, nhà in Thụy Ký, Hà Nội, in xong 30/12/1939). Một số sáng tác khác của Bích Khê cũng đã được công bố, ví dụ trong tập “Thơ Bích Khê” (Chế Lan Viên, Hà Giao, Nguyễn Thanh Mừng biên soạn, Sở VH-TT Nghĩa Bình xb., 1988), hoặc tập Tinh hoa” (Lê Thị Ngọc Sương sưu tầm, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 1997).
Tuy nhiên, công chúng ngày nay đã cách xa thời Bích Khê sống và sáng tác trên nửa thế kỷ; họ có nhu cầu được các nhà nghiên cứu, sưu tầm cho biết ít nhiều về sự ra mắt, sự “trình làng” của nhà thơ này.
Nhân tham gia công việc chuẩn bị kỷ niệm 100 năm sinh nhà thơ Bích Khê, theo gợi ý của các bạn văn Quảng Ngãi, tôi đã giành thời gian khảo sát báo chí những năm 1930-40, mong tìm ra một số tác phẩm Bích Khê được đăng báo vào thời gian kể trên, đồng thời cũng tìm những dấu vết ảnh hưởng mà thơ Bích Khê đã gây ra, trên dư luận báo chí đương thời.
Kết quả là tôi đã tìm thấy những dấu vết tác phẩm Bích Khê trên báo “Tiếng dân” ở Huế, và trên tuần báo “Tiểu thuyết thứ Năm” ở Hà Nội; tôi cũng thấy tập thơ “Tinh huyết” của Bích Khê đã trở thành nguồn cơn của một cuộc và chạm ý kiến giữa Huỳnh Thúc Kháng, một địch thủ chung thân của thơ mới và Phan Khôi, người khởi xướng thơ mới.
Dưới đây là những thông tin chi tiết.
1/ THƠ (CŨ) BÍCH KHÊ TRÊN BÁO “TIẾNG DÂN”, HUẾ
Gợi ý đầu tiên cho tôi chính là dòng chú thích của Hàn Mặc Tử ở dưới bài đề tựa tập “Tinh huyết”: “Xem Tiếng Dân, ta thấy Bích Khê đã được hoan nghênh về thơ cũ (1931-1936)”.
Vậy là có thể tìm thơ Bích Khê trên tờ “Tiếng dân”.
“Tiếng dân” là tờ báo hoạt động theo kiểu nhật báo, tức là xuất bản 2 kỳ/tuần (vào thứ tư, thứ bảy) hoặc 3 kỳ/tuần (vào thứ ba, thứ năm, thứ bảy), đây là ấn phẩm của “Huỳnh Thúc Kháng công ty”, do Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) trực tiếp làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, tòa soạn ở số 123 đường Đông Ba, Huế; ra số đầu tiên vào ngày 10/8/1927, và số cuối cùng vào ngày 24/4/1943.
Mỗi kỳ báo “Tiếng dân” thường gồm 4 trang khổ lớn (61x40cm) giành 2 trang ngoài (tr. 1 và 2) đăng tin tức và bình luận thời sự chính trị xã hội, 2 trang ruột (tr. 3-4) đăng quảng cáo và truyện nhiều kỳ (feuilleton).
Ngoài các tin tức và bình luận, trên “Tiếng dân” cũng có đăng tải các sáng tác văn học, có khi là truyện (văn xuôi tự sự), nhưng thường khi là thơ. Tôi thấy tòa soạn “Tiếng dân” mở mục “Vận văn” (= văn vần) để đăng thơ, suốt từ 1929 đến 1939; cuối năm 1939 thì tên mục này đổi là “Thơ”, nhưng cũng có lúc báo này lấy lại tên mục “Vận văn”. Có một điểm nhất quán, dù gọi là “vận văn” hay “thơ” thì báo “Tiếng dân” chỉ đăng thơ kiểu cũ, trước hết là thơ Phan Sào Nam, và hầu như không bao giờ đăng “thơ mới”.
Có một điều đáng tiếc là đã không có đủ bộ sưu tập “Tiếng dân” để khảo sát.
Ít ra, để tìm dấu vết đăng tải thơ Bích Khê, cần có đủ bộ sưu tập báo này từ 1931 đến 1936 (theo gợi ý từ ghi chú kể trên của Hàn Mặc Tử), nhưng tôi chỉ có thể khảo sát trên sưu tập “Tiếng dân” hiện có tại Thư viện Quốc gia (tại Hà Nội) các năm: 1930, 1940, 1941, các bộ sưu tập từng năm này cũng bị mất và rách khá nhiều. May mắn là tôi còn có sẵn từ mấy năm trước bản chụp sưu tập “Tiếng dân” các năm liên tục 1936-1939 (nhưng trang nào chụp mờ hoặc thiếu ở đây thì không có báo để đối chiếu lại).
Kết quả tôi tìm được các bài thơ sau, tất cả đều ký Bích Khê:
- Bài hát xuân của Nàng Thơ // Tiếng dân, s. 871 (13 Février 1936), tr. 1.
- Đêm khuya nghe chuông… // Tiếng dân, s. 906 (7 Mai 1936), tr. 1.
- Tết mùng năm tháng năm // Tiếng dân, s. 929 (2 Juillet 1936), tr. 1.
- Cùng bạn chơi Ngũ Hành Sơn, Quảng Nam // Tiếng dân, s. 937 (23 Juillet 1936), tr. 1.
- Bán thi // Tiếng dân, s. 954 (1er Septembre 1936), tr. 2.
- Giàu văn // Tiếng dân, s. 1442 (23 Décembre 1939), tr. 1.
(Theo lời dẫn của tác giả ở bài “Bán thi” người ta được biết tác giả Bích Khê đã từng đăng ở báo này năm trước /1935 ?/ một bài nhan đề “Bán sầu”)
Về thể tài, trong số 6 bài trên, có 3 bài theo thể luật Đường (Tết mùng 5 tháng 5 ; Cùng bạn chơi Ngũ Hành Sơn ; Giàu văn), 3 bài thuộc thể hát nói, tức ca trù (Bài hát xuân của Nàng Thơ; Đêm khuya nghe chuông; Bán thi).
Về sự phản xạ sau khi được đăng tải, có hai bài cho thấy rõ dấu vết.
Bài “Bán thi” đăng ngày 1/9/1936 thì chỉ trên một tuần sau (TD., 12/9/1936) đã thấy báo này đăng bài họa lại với ý tranh luận rõ rệt. Đó là bài ca trù nhan đề “Đáp bài Bán thi của Bích Khê”, tác giả ký tên 2 chữ, chữ đầu là Yểm, chữ sau không đọc được (vì chữ in sát lề báo, lấp vào gáy sách của bộ sưu tập). Sau đó, đến cuối tháng (TD., 29/9/1936) lại xuất hiện thêm bài họa nữa, ký X.T.T. (tức Xích Tùng Tử, một bút danh của chủ bút Huỳnh Thúc Kháng). Cả hai bài họa này đều tỏ ra dị ứng với diễn ngôn “Bán thi” của Bích Khê, dường như coi đó là hành vi ngông cuồng không nên có.
Suốt hai năm 1937-1938 trong mục vận văn của báo “Tiếng dân” tôi không thấy có bài nào của Bích Khê, trong khi vẫn có thơ của Q.T. (tên tắt này luôn kèm địa danh Nha Trang trong vòng đơn, có thể đoán chắc là Quách Tấn), đôi khi có thơ Lê Ngọc Sương… Phải chăng việc Bích Khê không có thơ đăng “Tiếng dân” hai năm này là hệ quả từ một vài va chạm do bài “Bán thi” gây ra?
(Như đã biết, một trong những mối liên lạc giữa Bích Khê với báo “Tiếng dân” chính là nhà báo Lạc Nhân /Nguyễn Quý Hương/, người bạn và về sau là chồng bà Lê Thị Ngọc Sương, chị của Bích Khê; đọc trên các sưu tập “Tiếng dân”, có thể thấy ông viết cho mục “Chuyện đời” của báo này từ giữa năm 1930 đến đầu năm 1938, là một trong vài ba cây bút chủ chốt của mục này /sau ông là Chuông Mai, Thạch Phi/; những năm 1936-37, qua “Tiếng dân” có thể thấy ông Nguyễn Quý Hương và bà Ngọc Sương hoạt động khá nổi bật trong phong trào Đông Dương đại hội ở Huế, vận động thảo thỉnh nguyện thư gửi lên phái đoàn của Mặt trận bình dân Pháp).
Đến cuối năm 1939, khi mục “Vận văn” trên “Tiếng dân” đã đổi thành mục “Thơ”, ta lại bắt gặp trong mục này thêm một bài của Bích Khê: bài “Giàu văn” (TD., 23/12/1939). Khẩu khí bài này rõ rệt là ngông, tòa soạn thấy điều đó, và đã cho ai đó đọc rồi có bài họa lại; tòa soạn cho đăng bài họa ấy ngay dưới bài của Bích Khê. Vậy là chính lúc đã đưa in tập thơ mới “Tinh huyết”, Bích Khê vẫn có thơ cũ đăng báo; đồng thời, ngay trong thơ cũ, dường như Bích Khê vẫn tiềm tàng khả năng xung khắc với giới tác gia thơ cũ.
2/ THƠ MỚI BÍCH KHÊ TRÊN “TIỂU THUYẾT THỨ NĂM”, HÀ NỘI
Nguồn tác phẩm thơ mới của Bích Khê trên tuần báo “Tiểu thuyết thứ Năm” là do nhà thơ Anh Chi sưu tầm và tái công bố từ 2002 (sưu tập:“Tiểu thuyết thứ Năm”, tác giả và tác phẩm”, Anh Chi sưu tầm, Hà Nội, 2002: Nxb. Văn học, tập 1: 772 tr. ; t.2 : 875 tr. 14,5x20cm); ngoài sưu tập đã in này, nhà thơ Anh Chi cũng đã cho tôi tham khảo bộ sưu tập “Tiểu thuyết thứ Năm” mà anh có, dưới dạng các bản chụp (photocopy) hoặc có một ít (gần 10 số) là báo gốc.
“Tiểu thuyết thứ Năm” thoạt đầu là tờ báo công khai của nhóm cộng sản thuộc Xứ ủy Bắc Kỳ, thư ký toàn soạn là Học Phi; ra được chừng 7 số (từ 18/3/1937 đến 01/5/1937) dưới dạng in li-tô; sau đó giấy phép ra báo này được bán lại cho nhóm khác và trở thành một tờ báo dân sự thông thường, tự xác nhận là tuần báo trào phúng và văn chương (Hebdomadaire satirique et littéraire), ra số 1 vào ngày 08/5/1937. Các chủ nhân mới của “Tiểu thuyết thứ Năm” là Đình Mai, rồi đến Lê Cường, chủ nhà in; chủ bút “Tiểu thuyết thứ Năm” có lúc là Bùi Huy Phồn, sau đó là Lê Tràng Kiều; tòa soạn đặt tại 88 phố Huế, Hà Nội. Một số tài liệu nói tuần báo này hoạt động đến đầu năm 1942, song hiện tài liệu chỉ có đến gần cuối năm 1939.
Đây là một trong những tờ báo hiện khá hiếm tài liệu; Thư viện Quốc gia (Hà Nội) hầu như không còn giữ được số nào. Những năm 1990, nhà thơ Anh Chi quen biết ông Phạm Văn Kỳ, được ông kể cho biết nhiều sự việc hồi ông tham gia biên tập tờ “Tiểu thuyết thứ Năm” và ông cung cấp khá nhiều tài liệu, đôi khi là các số báo gốc, nhưng thường thường là các bản chụp (photocopy) do bạn bè ông Kỳ chụp từ Thư viện quốc gia Pháp gửi về tặng ông. Từ các tài liệu này, nhà thơ Anh Chi đã biên soạn và đưa in bộ sách “Tiểu thuyết thứ Năm, tác giả và tác phẩm” kể trên.
Theo những kết quả sưu tầm kể trên, liên quan đến Bích Khê, ở “Tiểu thuyết thứ Năm” đã tìm thấy 5 tác phẩm, đều đăng năm 1939; ở đây tên tác giả được ký có lúc đến 5 từ: Bích Khê Lê Mộng Thu, có lúc chỉ 3 từ: Lê Mộng Thu, có lúc chỉ 2 từ: Mộng Thu.
Cụ thể :
- Trống giao thừa // TTTN, s. 19 (9 Février 1939) /ký Mộng Thu/
- Hoàng hoa // TTTN, s. 30 (11 Mai 1939) /ký Bích Khê Lê Mộng Thu/
- Thu // TTTN, s. 32 (25 Mai 1939) /ký Lê Mộng Thu/
- Thu // TTTN, s. 37 (29 Juin 1939) /ký Lê Mộng Thu/
- Gió lạnh // TTTN, s. 38 (6 Juillet 1939) /ký Bích Khê Lê Mộng Thu/
Ngoài ra, qua lời dẫn nhập của chủ bút Lê Tràng Kiều khi đăng bài “Hoàng hoa”, ta còn biết thêm: báo này từng đăng các bài “Tỳ bà”, ở một số nào đó trước số 30 kể trên, và sẽ đăng bài “Nghê thường” ở số 31 (hiện không có văn bản).
Đọc trực tiếp vào các bản chụp hoặc báo gốc “Tiểu thuyết thứ Năm”, ta còn biết một số chi tiết thú vị, ví dụ tuần báo “Ngày nay” của Tự Lực văn đoàn đã đăng lại bài “Hoàng hoa” của Bích Khê, với một vài chỗ bị sắp chữ lầm (“ngưng lưng trời” thành “ngừng lưng trời”, “eo mình” thành “co mình”). “Tiểu thuyết thứ Năm” vốn là nhóm kình địch với Tự Lực văn đoàn nên nhân dịp này Lê Tràng Kiều có cớ để châm chọc các nhân vật trong nhóm ấy. Chẳng hạn, thấy trên “Ngày nay” có bài thơ Lê Ta làm theo lối dùng toàn vần bằng, Lê Tràng Kiều liền lên tiếng, bảo rằng thơ Thế Lữ lúc này đã dở đi nhiều, có học theo lối thơ này của Bích Khê thì cũng chỉ thành anh thợ vẽ chứ không thể thành nghệ sĩ trong loại thơ này được! (L.T.K. – Một lời khuyên, TTTN, s. 32, ngày 25/5/1939)
Cũng trên “Tiểu thuyết thứ Năm”, ta thấy xuất hiện khá sớm khung quảng cáo tập thơ “Tinh huyết” đang in; vậy là tuần báo này quảng cáo rất sớm cho tác phẩm thơ mới của Bích Khê.
Ta biết, trong đời sống văn nghệ 1930-45, các nhà văn nhà thơ miền Trung thường đưa tác phẩm mình ra công chúng ở cả ba vùng, nhất là đưa đăng báo, in sách ở hai trung tâm là Hà Nội và Sài Gòn. Tại Sài Gòn và Hà Nội đương thời ấy có khá nhiều nhóm văn nghệ sĩ liên kết những tác giả đang sống ở thành phố với những tác giả đang sống và viết ở miền Trung. Liên hệ của Bích Khê với nhóm “Tiểu thuyết thứ Năm” thuộc dạng thức như vậy.
3/ TRANH LUẬN GIỮA 2 TỜ “TIẾNG DÂN” VÀ “DÂN BÁO” LIÊN QUAN ĐẾN TẬP THƠ “TINH HUYẾT” CỦA BÍCH KHÊ
Khoảng mươi năm trước đây, nhân đi tìm các tác phẩm đăng báo của Phan Khôi (1887-1959), tôi đã thấy tập thơ “Tinh huyết” của Bích Khê trở thành cái nguyên cớ cho một cuộc tranh cãi giữa Huỳnh Thúc Kháng và Phan Khôi xung quanh sự phát triển của phong trào thơ mới.
Sự thể là, vào năm 1941, Phan Khôi ở Sài Gòn, ký lại tên Thông Reo để viết mục “Chuyện hàng ngày” cho tờ “Dân báo” do Bùi Thế Mỹ làm chủ bút. Lúc này thơ mới đã giành vị trí chủ đạo trên thi đàn Việt Nam, đã hoặc đang được những nhà phê bình như Lê Tràng Kiều hay Hoài Thanh tổng kết. Tuy vậy vẫn có không ít người trong giới cầm bút đàn anh vốn là địch thủ "chung thân" của thơ mới, sẵn sàng tìm cách làm mất uy tín của nó.
Chính Phan Khôi cũng không ngờ có lúc sẽ bị họ lợi dụng. Đó là khi ông, dưới bút danh Thông Reo, viết bài chê trách tập thơ “Tinh huyết” (1939) của Bích Khê, tựu trung, ông không chấp nhận những sáng tác thơ được đan dệt bằng những gì mà ông gọi là "câu văn vô nghĩa".
"Phàm văn, khoan cầu hay đã, trước phải cầu cho có nghĩa. Phải có nghĩa đã, rồi sau mới nói đến hay hay dở. Nhưng hiện nay có một hạng văn sĩ, hình như họ chỉ cầu cho hay, còn có nghĩa hay không, họ không cần. Bởi vậy thường có những câu vô nghĩa trong văn họ mà có lẽ họ gọi là hay đó". Ông dẫn bài Hoàng hoa của Bích Khê và đặt những câu hỏi: “Lam nhung” là gì? “Xanh nhung” là gì? “Chim yên” là gì? “Xương cây” là gì? Chẳng có nghĩa gì cả".
Nhận xét này chính là bộc lộ quan điểm về sự viết văn nói chung của Phan Khôi mà ông cho là cần áp dụng cho mọi thể tài văn chương, kể cả thơ mới. Ông chỉ có thể quan niệm thơ ở dạng những sáng tác dù lãng mạn vẫn cần phải duy lý, trước nhất là duy lý về cú pháp, về ngữ nghĩa, như thơ Thế Lữ, Xuân Diệu. Ông không chấp nhận các sáng tác tượng trưng với những chất liệu siêu thực tại, nhất là với cấu trúc dường như “phi cú pháp” và ngữ nghĩa thì phi lý như thơ văn Bích Khê, Hàn Mặc Tử. Đấy là giới hạn quan niệm của Phan Khôi về thơ mới, và về văn học nói chung.
Nhưng những người kiên trì chống thơ mới lại hiểu, – nói đúng hơn là lợi dụng – phản xạ nói trên của Phan Khôi theo cách khác hẳn.
Bài viết trên đây của ông đã được các tác giả Minh Viên, Chuông Mai của tờ “Tiếng dân” ở Huế nhắc lại và bình luận như thể là Phan Khôi đã từ bỏ thơ mới, như là dấu hiệu sụp đổ nay mai của thơ mới! Sự loan tin và bình luận của báo “Tiếng dân” đã khiến Hoài Thanh, – lúc ấy đang ở Huế và đang viết thiên khảo luận “Một thời đại trong thi ca” và biên soạn cuốn tuyển “Thi nhân Việt Nam 1932-1941”, – cảm thấy bất thường, phải gửi thư cho Phan Khôi, nhờ đặt mua năm tờ “Dân báo”, lại lưu ý gửi cho từ số có bài bàn về thơ mới!
Trước tình thế ấy, Phan Khôi đăng liền hai bài báo, bài thứ nhất khẳng định: Báo "Tiếng dân" nói sai, tôi không hề công kích thơ mới, nhắc lại bài viết ký Thông Reo, tuy không thừa nhận đó là tên mình, nhưng nhấn mạnh rằng bài ấy chỉ công kích lối viết văn vô nghĩa mà thôi, chứ không hề công kích thơ mới. Bài thứ hai, sau khi đính chính báo "Tiếng dân", ông xác nhận, một lần nữa, thái độ của ông đối với thơ mới.
Tất nhiên, phái đả kích “thơ mới” không dễ bỏ rơi vụ việc; bài của Mính Viên khép lại vụ này chỉ níu lấy một điểm: dầu sao thì ông Phan Khôi dưới bút danh Thông Reo đã có một lần “công kích” tập “Tinh huyết” – một tập thơ mới, tức là ông đã một lần “công kích” thơ mới, dù sau đó đã lên tiếng cải chính!
Quả thật, rất ít khi người ta bắt gặp một nhà nghị luận lừng danh như Huỳnh Thúc Kháng lại bộc lộ thái độ cố chấp đến vậy, về chuyện thơ cũ/ thơ mới.
Nhân vụ việc này, ta nên nhìn hơi rộng ra một chút để thấy phái bài xích thơ mới những năm 1932-45 là khá đông đảo. Trước khi báo “Tiếng dân” lên tiếng rằng “ông Phan Khôi đã quay lại công kích thơ mới”, báo này cũng vừa hồ hởi tường thuật cuộc diễn thuyết của Nguyễn Tiến Lãng tại hội Quảng Tri ở Huế, ở đó diễn giả cũng một giọng miệt thị thơ mới. Tôi muốn đưa cả sự việc này của báo “Tiếng dân” vào chùm tài liệu về cuộc xung đột này.
Chùm tài liệu xung quanh đề tài này theo mốc thời gian, gồm:
1/ Thạch Phi: “Chuyện đời”: Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra… // Tiếng dân., Huế, s. 1590 (25 Juin 1941)
2/ Thông Reo: “Chuyện hàng ngày”: Một tai nạn của văn học // Dân báo, S.G., s. 605 (25 Juin 1941)
3/ Mính Viên: “Việt ngâm thi thoại”: Lời nói đầu // Tiếng dân, Huế, s. 1594 (9 Juillet 1941)
4/ Chuông Mai: “Chuyện đời”: Phải chăng đã dến ngày mạt vận của thơ mới? // Tiếng dân, Huế, s. 1595 (12 Juillet 1941)
5/ Phan Khôi: Báo “Tiếng dân” nói sai, tôi không hề công kích thơ mới // Dân báo, S.G., s. 627 (23 Juillet 1941)
6/ Phan Khôi: Sau khi đính chánh báo “Tiếng dân”: Ý kiến tôi đối với thơ mới // Dân báo, S.G., s. 628 (24 Juillet 1941)
7/ Mính Viên: Cùng ông Thông Reo và ông Phan Khôi trong “Dân Báo” về chuyện thơ mới: Nếu cho là sai thì điều “sai” đó không phải tự “Tiếng dân” // Tiếng dân, Huế, s. 1602 (6 Août 1941).
Ngoài ra, trên một vài tờ báo khác như “Tri tân” (Hà Nội), “Tràng an” (Huế), ta cũng thấy có đôi chỗ nhắc tới thơ Bích Khê, nhân những luận bàn về thơ mới.
***
Trên đây là toàn bộ kết quả khảo sát trên thư tịch hiện còn về thơ Bích Khê và ít nhiều dư luận về thơ Bích Khê trên báo chí tiếng Việt trước 1945.
Năm trên tôi có bài rao “bán sầu” được một ít anh em mua cho, nói cho phải, món hàng không đến ế. Hiện món sầu bán đã gần hết, lục trong cái kho “não” lại còn món hàng “thi”, cả cũ cả mới cũng khá nhiều. Nay tôi muốn bán nốt món [……] (1) đến, xin tính giá rất rẻ và các nhà đại lý xin biếu cả 99%. Vậy có bài hát rao:
Năm trên tớ đã bán “sầu”,
Món hàng khá đắt khách cầu khách mua.
Còn món “thi” cũng của chua,
Khách nào có thích, tớ cũng bán đùa làm quen.
Sầu đã bán thôi thi cùng bán nốt,
Mối thi sầu không cột lại làm chi.
Kìa như than, như khóc, như túy, như si,
Nào giọng đờn ai oán, nào giọt lệ lâm ly,
Rút cục lại “mốc xì” gì đâu có.
Rồng vẽ, lối xưa toàn những sáo,
Cua bò, thi mới chẳng thành câu.
Cũng rung đùi xưng Lý, Đỗ, Hàn, Tô,
Rõ bát xáo cổi quần mò không thấy cái.
Tớ trót đã cùng mang bệnh dại,
Từ nay toan đem bán lại cho đời.
Khách làng thi ai cần đến đồ chơi,
Tớ bán rẻ không lời và cho cả vốn.
Đời tranh cạnh xen thi vào càng lộn xộn,
Chẳng ích chi thêm hao tổn lòng người.
Để công phấn đấu với đời.
BÍCH KHÊ
Nguồn:
Tiếng dân, Huế, s. 954 (1er Septembre 1936), tr. 2.
(1) X.T.T. là viết tắt của Xích Tùng Tử, một trong các bút danh của Huỳnh Thúc Kháng.
Nghĩa hai câu chữ Hán : Vào đời cần là trang hảo hán mạnh mẽ rắn rỏi; Ở đời này không nên làm ông già than khổ. (lời giải của nhà giáo Trần Nho Thìn).
HOÀNG HOA
(lời dẫn nhập của Lê Tràng Kiều)
Chưa bao giờ, các bạn mến thơ yêu thơ đã được vừa lòng, đã được say sưa như bây giờ, khi giở những trang thân yêu của tờ báo thân yêu này, nó đã lần lượt trình bầy không biết bao nhiêu là tác phẩm giá trị:
Những vần mơ màng của Quỳnh Dao, những vần nhẹ nhàng của Anh Thơ, những vần trong sáng của Đỗ Huy Nhiệm,
Những vần diễm ảo của Thanh Tịnh,
Những vần thành thực và giản dị của Nguyễn Bính, Phạm Quang Hòa, tha thiết của Lê Thanh Xuyên,
Những vần dồi dào và huyền diệu của Xuân Khai,
Những vần đầy mộng ảnh đầy âm nhạc của Yến Lan (Yến Lan, ôi, trần đời làm gì có hai Yến Lan!)
Và những vần đặc biệt của Tchya, của Phạm Huy Thông, của Lưu Trọng Lư…
Mới đây, các bạn đã được say sưa, càng được say sưa hơn, khi nghe được tiếng đàn TỲ BÀ thần ảo ấy.
Hãy im! Tác giả TỲ BÀ, ông Bích Khê Lê Mộng Thu sắp cho ta nghe hai khúc đàn nữa, nó cũng như khúc TỲ BÀ rất êm rất nhẹ, có lẽ êm quá nhẹ quá.
Khúc HOÀNG HOA và khúc NGHÊ THƯỜNG!
NGHÊ THƯỜNG (đăng số sau) [1] sẽ mời các bạn, trong một đêm trăng ngời những châu báu ngọc ngà, cùng Nàng Thơ nhịp nhàng lên chơi trên cung Hằng, xem nàng Xuân Hương ngực để trần và xem khúc Nghê Thường của muôn Ngọc Nữ.
Nhưng hãy để những nàng Ngọc Nữ trên tiên cung đấy! Kỳ này, các bạn hãy theo khúc HOÀNG HOA, đưa tâm hồn đến với những người chinh phụ đang trông chồng nơi “ngàn khơi” kia!
Chiều đã xuống. Ta hãy lắng nghe…
LÊ TRÀNG KIỀU
Nguồn:
Tiểu thuyết thứ Năm, Hà Nội, s. 30, số Lính thủy II (11 Mai 1939), tr. 4.
MỘT LỜI KHUYÊN
Mấy bài thơ của Yến Lan, của Lê Mộng Thu, v.v. đăng ở T.T.T.N. ghép toàn bởi những tiếng bình thanh để cho thơ có một điệu riêng rất êm và rất nhẹ, đã được các bạn đặc biệt chú ý và rất nhiều bạn làm theo.
Trên Ngày Nay số vừa rồi, ta cũng thấy mấy vần dưới đây:
Mi anh đăm đăm trông đường khơi
Thương ai long đong ngoài chân trời
Lòng bâng khuâng sầu tình êm du
Như hơi xương (sic!) vờn qua cành thu
Mấy vần này của chính bạn đồng nghiệp Thế Lữ vậy. Đã lâu quá rồi, đã mấy năm nay rồi, Thế Lữ không làm thơ nữa, hay có làm nhưng mà làm rất dở, và gần đây, hồi Ngày Nay ra số đặc biệt Tết, Thế Lữ cũng chỉ có làm mấy câu đề bức “tranh phụ bản”, nhưng những câu “đề tranh” ấy chỉ là mấy câu rất tầm thường, rất sáo – cái sáo của những ông đồ Hàng Ngang – tưởng rằng không phải là thơ nữa. Đến nay những vần thơ của Yến Lan và Lê Mộng Thu đã gõ mạnh vào óc Thế Lữ và làm Thế Lữ lại nẩy ra được mấy dòng trên này.
Nhưng mấy dòng trên này tiếc thay vẫn lại dở và không hơn gì thơ “đề tranh” của ông trước kia. Có lẽ Thế Lữ cũng biết thế nên đã nhũn nhặn nói là của một người bạn Lêta (!) chứ không phải của chính Thế Lữ vậy.
Ta phải nhận rằng những tác phẩm như của Lê Mộng Thu đó cũng như một tác phẩm của nhà họa sĩ ưa vẽ toàn màu nhạt mà bức vẽ vẫn nổi bật lên được. Nhưng, nếu một anh thợ vẽ tồi lại cũng bắt trước (sic!) vẽ bằng toàn những màu ấy thì bức tranh đã không hòng có một giá trị gì mà cũng không trông được nữa. Ông Thế Lữ chỉ là anh thợ vẽ sau này thôi. Ông đừng nên làm, hoặc chưa nên làm những vần thơ khó khăn ấy, đừng nên làm những việc trên sức mình. Đó là điều thành thực tôi khuyên ông vậy.
L.T.K.
NGÀY NAY IN LẦM
Hai bài thơ của Yến Lan và Lê Mộng Thu mà báo Ngày Nay số vừa rồi trích đăng lại, có hai chỗ:
1/ “Màu ngưng lưng trời”, in lầm ra ngừng
2/ “Chim Yên eo mình”, in lầm ra co mình
Sự lầm lộn như thế có hại nhiều cho bài thơ hay, bạn đồng nghiệp nên cải chính lại cho đúng. (1)
T.T.T.N.
Nguồn:
Tiểu thuyết thứ Năm, Hà Nội, s. 32 (25 Mai 1939), tr. 8
Chú thích
(1) Hai đoạn thông tin trên, ký L.T.K. tức Lê Tràng Kiều; ký T.T.T. N. tức tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết thứ Năm, lúc này do Lê Tràng Kiều là chủ bút.
Những chữ ở báo gốc viết sai chính tả (so với chính tả chữ Việt ngày nay), người sưu tầm giữ nguyên, chỉ ghi trong vòng đơn (sic!) để lưu ý điều ấy.
GIÀU VĂN
Ông có nghèo tiền mặc kệ ông,
Ông giàu bạc vạn mớ văn ngông.
Dồn vô một mớ no đầy bụng,
Dùng đến ngàn thu cũng chả lưng.
Mốc nhỉ, phơi cho thiên hạ thấy,
Hứng lên, xổ hết vạn người trông.
Còn gì dám bảo ông nghèo nhỉ ?
Phụng múa oanh ca cắc cắc tùng !
BÍCH KHÊ
Nguồn :
Tiếng dân, Huế, s. 1442 (23 Décembre 1939), tr. 1
NGÔNG
(nhân đọc bài trên)
Trần ai ai lại dám bì ông,
Nghèo bất nhưng giàu cái tánh ngông.
Rượu uống say mù còn rót mãi,
Thơ làm dở hoắc cứ ngồi rung.
Muốn xoay trái đất qua vòng ngược,
Nhưng sợ ông trời ghét tánh hung.
Danh lợi để ngoài tai mắt cả,
Bận lòng chăng nữa có non sông. (1)
THANH TRÚC
Nguồn :
Tiếng dân, Huế, s. 1442 (23 Décembre 1939), tr. 1
Chú thích
(1) Bài này đăng liền ngay dưới bài “Giàu văn” của Bích Khê, họa lại và tranh luận với bài thơ trên.
BÍCH KHÊ - THI SĨ THẦN LINH
(đề tựa tập thơ TINH HUYẾT)
Hàn Mặc Tử
Mồng tám tết năm ngoái (1938) tôi nhận được ba bài thơ của Bích Khê ở Phan Thiết gửi tặng tôi. Ba bài ấy đã làm cho tôi sửng sốt với cái khởi điểm của một thiên tài sắp sửa...
Tôi xin trích ra đây vài đoạn ở mỗi bài:
... Là mùa xuân và là mộng, là hương;
Là bao nhiêu rạo rực của lòng thương
Trong cát bụi như là trong xanh thẩm.
... của cỏ hoa chen rát rắm;
Của thời gian tàn tạ lẩn muôn đời;
Của mến yêu cay đắng đọng thơm tươi;
Là thi tứ, là đúc chung một áng
(THI TỨ)
Anh ghì lấy ảnh. Những đau thương
Thấm tận lòng anh khổ chán chường
Anh úp mắt vào dôi mắt ấy,
Rồi không ngăn được, lệ anh tuôn…
Nước mắt tràn trên đôi mắt ấy,
Nào hay anh khóc, phải em đâu!
- Đời mô em khóc vì anh khóc
- Cho lệ lòng anh bạc vẻ sầu!
Anh không rời nửa ảnh thơ ngây
Và trở nên người dễ khóc lây.
Anh khóc... mắt anh trong mắt ấy
Để rằng:
- Em khóc với anh đây!
(ẢNH ẤY)
Tôi với anh không biết nhau bằng mắt,
Nhưng hai tim đều lắng tiếng âm ty.
Với lệ máu cùng mờ xa muôn sắc,
Hai tim thôi đều yêu lỉm trong si!
(THỜI GIAN)
...............................................
Chừng ấy thôi, mà tài và tình hòa hợp một cách song toàn rung cảm người đọc đến da diết, tê mê.
Suốt trong một năm 1938, tôi hết sức khích lệ chàng, mong mỏi ở chàng một thi sĩ xuất sắc, cao cường.
Cái hy vọng của tôi sốt sắng quá, nóng nảy quá, đã một lần đưa tôi vào sự thất vọng chán chê và tức bực. Gần cuối năm ấy, chàng gửi ra cho tôi nhiều thơ, mà tôi chẳng lựa được bài nào cả.
Tôi gửi trả lại chàng kèm với bức thư mà tôi đã dùng rất nhiều lời khiêu khích mỉa mai (cốt làm cho chàng tức). Quả nhiên chàng giận run người lên và vội trả lời, thề với tôi rằng: Trong sáu tháng sẽ trở nên một thi sĩ phi thường, bằng không sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến làm thi sĩ nữa.
Ngờ đâu sự hằn học của chàng đã bật nảy thiên tài của chàng ra. Không đợi đúng sáu tháng, chỉ trong vòng ba tháng thôi, chàng đã viết được một tập thơ, viết bằng máu huyết tinh tủy và châu lệ, và tất cả say sưa, đắm đuối của một hồn thi sĩ.
***
Ra đời...
Một bông lạ nở hương, một thứ hương quí trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc.
Ta có thể sánh văn thơ của Bích Khê như đóa hoa thần dị ấy.
Và đem ra phân chất, ta sẽ thấy thơ chàng gồm có ba tính cách khác nhau:
1. Thơ tượng trưng,
2. Thơ huyền diệu,
3. Thơ trụy lạc.
Lối tượng trưng và huyền diệu ngời ánh như màu sắc của Paul Valéry, cho ta thấy thi sĩ đã chịu ảnh hưởng nhiều của tác giả tập thơ “Charmes”. Nhưng chịu ảnh hưởng với một tài trí thông minh, khiến người đọc chỉ biết phục thiện mà không dám chê. Vẫn biết tài bắt chước mô phỏng, ai cũng có thể làm được. Song le nếu không phải một chân tài, sự mô phỏng sẽ trở nên vụng về sống sượng. Và vì thế ta mới bảo trái lại là bắt chước được như người đã sáng tác ra, hoặc có giá trị tương đương, hoặc xuất sắc hơn, là một sự khó khăn vậy. Bích Khê là người có tài, có sẵn cái tài đã lâu, chỉ gặp cơ hội phát triển, là bao nhiêu anh hoa đều tiết lộ ra cả.(1)
Sự phát triển bồng bột quá, đồi dào quá, sẽ đưa linh cảm chàng đến một địa hạt siêu thần hơn; thơ chàng cũng như hồn chàng, sẽ qua hết những không khí nhiệm màu, bay cao đến tột cùng của Nước Trời hay chìm đắm xuống đáy sâu Địa Ngục.
Sự điên cuồng ấy uyên nguyên ở một thiên tài, và ở một phần của “Đau Khổ”. Chàng là người đã “sống”. Những tình cảm sâu xa dù là ở cõi tiềm thức đi nữa, cũng đã hơn một lần nảy nở rồi... Tình cảm càng giàu sang bao nhiêu, tâm hồn chàng càng thanh thoát bấy nhiêu. Tư tưởng vì thế nhiều khi biến đổi bất thường, tin tưởng đó rồi lại ngờ vực liền. Với thời gian, trí tuệ sẽ tiến hóa, đi tới một mực quá khích, lay chuyển hết các sợi giây thần kinh trong người thi sĩ, xô đẩy thi sĩ đến những bờ bến xa lạ của cảm giác, đắm chiều sa ngã vào sự khoái lạc của thần hồn cũng như của thể xác. Ở những miền thú vị chưa khai phá, thi sĩ sẽ nhờ sức trụy lạc đưa đẩy tới. Là vì luôn luôn, thi sĩ khát khao hoài vọng cái mới cái đẹp, cái gì rung cảm hồn phách chàng đến tê liệt, dại khờ, dù là cái đẹp ấy là cao cả hay đê tiện, tinh khiết hay nhơ bẩn, miễn là có tính chất gây nên đê mê, khoái lạc. Tới đây, ta nhận thấy văn thơ của Bích Khê nhuộm đầy máu huyết của Baudelaire, tác giả tập Les Fleurs du Mal. Thơ lúc ấy sẽ ham thích hết sức những cái gì thanh cao, như hương thơm nhơn đức của vì á thánh, hay say mê điên dại cái gì hết sức tội lỗi mà người thế gian chưa từng phạm tới...
***
Bây giờ đây, mời các vị vào chơi vườn nghệ thuật của chàng. Trước hết, ta hãy đến khu vực Tượng trưng.
Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu...
Với những cảnh trí, sự vật rất tầm thường, hơn nữa, tội lỗi, nhuốc nha, rùng rợn mà chàng, trái lại thấy ở những chỗ ấy là cao siêu, là nhơn đức, là thơm tho, khoái lạc cả... Những bài như Sọ người, Khách sạn, Tranh lõa thể, Trái tim, Đồ mi hoa, v.v. đã đưa đến cho ta những sự nhận xét rõ rệt. Thí dụ bài Sọ người. Ta không kịp rùng rợn với mảnh óc trắng trơn, với hàm răng như tinh, thì thi sĩ đã vội bảo ta đấy là bình vàng chén ngọc chứa bao chất ngọt ngào say dại, uống đến ngất người đi cả thủy thơm cả não mát…
Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng!
Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương!
Ôi bình vàng! Ôi chén ngọc đầy hương!
Ôi hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng!
Ôi thần tình! Người chứa một trời thương.
Người yên tịnh nhưng người đi muôn dặm
Máy thu thanh hòa âm nhạc thơm tho!
Miệng yêu kiều mơn ánh sáng say no!
Nguồn trinh tiết gây hồng tươi xanh thắm!
Bầu sữa người êm mát vạn sầu lo.
Cái sọ người không còn là cái sọ người nữa. Mất hết cả ghê rởn của sự chết, sự hãi hùng tàn phá của thời gian đối với sự vật. Để còn lại hình ảnh của khối mộng, của buồng xuân, của hồ nguyệt. Trước kia, thối tha, nhơ nhớp bao nhiêu, thì bây giờ lại thơm tho, sạch sẽ, đến muốn cắn vào hàm răng trắng dẻ, muốn nút hết chất gì ngọt ngọt ở miệng, chất gì mát mát ở mắt, ở hai lỗ lủng, hai cái hố sâu hoắm.
Ở Sọ người, cũng như ở Tranh lõa thể, sự trần truồng dâm đãng đã nhường lại cho ý vị nên thơ, của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết. Quả nhiên là một sự khong khen thanh tao quá đến ngọt lịm cả người và cả thơ:
Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ,
Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
Trực giác của thi sĩ mạnh quá đến nỗi thấy nhan sắc lên hương, thấy cả sóng nghê thường đương nao nao gợn, và so sánh hai hàng nước mắt trong trắng của Nàng là hai chiếc đũa ngọc. Và thấy mái tóc u huyền xinh như một mùa thu mươn mướt, thi nhân bảo đấy là đêm đang ngủ mơ...
Nếu chẳng phải là một nghệ thuật siêu thần, thi nhân làm sao đưa đến một nguồn sống phong tình mà thanh khiết cho giai nhân? Để có cái ma lực huyền diệu cám dỗ được ngũ quan của người trần...
Sự say mê, tìm kiếm những nguồn hoan lạc vô biên đã dần dần đẩy thi nhân vào bờ bến của huyền diệu. Ở đây, sự mường tượng của thi nhân lại dồi dào hơn nữa, người ta chỉ gặp toàn âm thanh đương ngã ngớn, với muôn thứ xạ hương bay lẳng lơ trong lồng nhạc, trong khi có hằng hà sa số là ánh hào quang va vào hồn hoa, chạm nhằm không khí lạ. Không có sự say đắm nào ở phương xa, hay sự mong nhớ nào cách biệt mà không đến đây để sum vầy, gây nên cảnh tượng đoàn viên của một mùa thơ, mùa trăng bát ngát.
Ở địa hạt Huyền diệu, ta thấy thi nhân chú trọng về âm thanh và màu sắc. Trong khi nói đến nhạc, thi nhân nghĩ ngay đến những cung cầm chơi vơi, âm điệu rung động cả không gian. Và bởi mê man với sự “nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương”, thi nhân đã sáng tạo được rất nhiều bản ca thần tình diễm ảo. Và nhạc lúc bấy giờ cũng không còn là nhạc nữa. Nó đã bay ra hương, ra hoa, ra thơm, ra mát, ra ngọt, ra ngào, ra gì mê tơi, run rẩy, hay âm thầm nức nở, lanh lảnh như giọng cười, mơn man như ân tình đòi hỏi...
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Buồn lưu cây đào xin hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.
(TỲ BÀ)
Đây là cả một trời yêu thương da diết, một trời tương tư, một trời âm hưởng, buồn não buồn nê:
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông
Thi nhân kéo ta đi lướt thướt trong cõi u hoài đằm thắm từ những bản đàn xôn xao hồi hộp như Tỳ Bà, Mộng Cầm Ca, Hoàng Hoa, sang qua một thế giới hào quang, nảy cho ra nghe một điệu nhạc hiền hậu và ngọt ngào vô cùng đến tê cả lưỡi và hàm răng:
Ô! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc,
Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơmói
Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương;
Màu trăng không gian như gờn gợn sóng.
Từ ở phương mô nhạn mang thơ về,
Đàn thơ cơ hồ lên cung âm điệu.
Đây giây trinh bạch khóc mướt trong mơ;
Đây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ?
Ô! Côi lầu mây ánh gì kim cương,
Áo nàng thơ ngây nao nao nghê thường.
Thơ bay! Thơ bay vô bàn tay ngà,
Thơ ngà ngà say! Thơ ngà ngà say!
Nàng ơi! đừng động… có nhạc trong giây,
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trời mây;
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,
Ô nàng tiên nương! Hớp nhạc đầy hương.
(NHẠC)
Đấy là một lối sáng tạo, bỏ vần ở chữ thứ tư (vần giữa) ta đọc đến những câu:
Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương;
Đây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ?...
Thơ ngà ngà say! Thơ ngà ngà say!...
Ô nàng tiên nương! Hớp nhạc đầy hương.
Phải chăng ta nhận thấy sóng âm thanh xao gợn, nổi trôi, lên xuống như muôn hoa lá bị cơn gió lùa. Lời thơ rất thanh, ngào ngạt những tình ý say sưa, mát mẻ, phổi ta, tim ta, hồn ta, nở nang ra, háo hức một mối lương duyên kỳ ngộ.
Tác giả khéo dừng hơi (césure) và hạ vận ở chữ thứ tư, làm cho câu thơ nửa như riêng tây, nửa như thuận hòa.
Chưa hết đâu! Thi sĩ Bích Khê vốn là tay sành âm nhạc, đã nghe quen tai những bản đàn tây như valse, menuets, sérénade, marche... đã từng lĩnh hội và thiệp liệp đến thể cách của văn thơ Thái Tây, nên am hiểu một cách thông minh những lối sáng kiến từ điệu...
Và đây là một đoạn thơ phảng phất như âm điệu bài “Réversibilité” và “Harmonie du soir” của Baudelaire, hay bài “Féerie” của Valéry:
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của gương hồ im lặng tợ bài thơ.
Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nằng nặng
Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ.
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của hồn thu đi lạc ở trong mơ...
(MỘNG CẦM CA)
Âm thanh là một nửa tinh thần, anh hoa của thế giới Huyền Diệu. Còn một nửa khác phải là màu sắc phương phi của khí thiêng hun đúc, rạng rỡ cả một trời lưu ly, mã não, trân châu. Hình như, đã lâu lắm, chàng thi nhân có cái ý niệm bao quát, tân kỳ, đem mình ví với một thiên tượng luôn luôn ấp ủ những khói mây huyền ảo. “Chaque être un ciel qui fabrique indéfiniment des nuées”. Tôi ráp gần lại câu nói của Edmond Jaloux, tác giả L’Oiseau-Lyre để biểu thị cái ước mơ vô hạn của một linh hồn khát khao vàng ngọc của Nước Trời cao cả.
Màu sắc, như ta đã thấy trong các thi phẩm đông tây đều gồm có hai tính cách:
1. Màu sắc cụ tượng,
2. Màu sắc trừu tượng.
Màu sắc cụ tượng thì lộ nguyên hình bằng bản chất của nó, như gấm, như hoa, mà ta rờ được, nắm được với đôi tay (palpable), còn màu sắc trừu tượng là thứ gì nửa thực, nửa hư, nghe, thấy, biết mà không làm chủ được nó, ví dụ: ánh sáng, hương thơm, nhạc vui, không gian, thanh khí...
Màu sắc cụ tượng rất dễ tìm, dễ kiếm, trái lại màu sắc trừu tượng rất khó sáng tạo, vì đây là cái đẹp của thơ, và phải có con mắt của thi nhân, của một kẻ siêu phàm, thoát tục mới nhận thấy cái đẹp thiêng liêng, phép tắc ấy, và mới thấu triệt hết tinh hoa của nó. Với màu sắc trừu tượng, thi nhân có cái công phu làm cho trở nên cụ tượng. Nghĩa là có thể nắm được một nạm hào quang, lùa không gian vào vạt áo, dồn kinh cầu nguyện về phương Nam, cho hai tiếng sáo đuổi nhau là là…
Bắt cái vô hình trở nên hữu hình, khiến cái chết trở nên sống, cho vật câm không còn là câm nữa.
Đấy là tất cả nghệ thuật và trí tưởng tượng phi thường của thi nhân, nếu thi nhân là một thiên tài!
Bích Khê đã tỏ cho chúng ta thấy chàng xứng đáng với hai thiên tài ấy:
Ô cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm!
… Một bàn chân ve vuốt một bàn chân!
Mát làm sao! mát rợn cả châu thân.
Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực.
Ôi! Thớ thịt có đàn lên cung bực
(BÀN CHÂN)
Bên những chữ cụ tượng cặp mắt, bàn chân, châu thân, ngực, thớ thịt, rất tầm thường không gợi cho ta được một sự rung động tân kỳ nào cả, mà thi sĩ đã khéo đưa cho chúng một nguồn cảm giác tinh thần khiến đôi mắt ngời sắc kiếm, bàn chân được ve vuốt, châu thân mát rợn lên và thớ thịt lại có đàn lên cung bực.
Và đây là những màu sắc mầu nhiệm mà trí người thường không tạo ra được:
Lầu ai ánh gì như lưu ly?
Nụ cười ai trắng như hoa lê?
Thủy tinh ai để lòng gương hồ?
Không gian xà cừ hay san hô?
(NGHÊ THƯỜNG)
Ở khu vực tượng trưng và huyền diệu, ta đã ngợp với màu sắc chan chói, no ớn với nhạc hương dịu dàng, bây giờ ta hãy sang chơi địa hạt Trụy lạc. Ở đấy GIây thần kinh và gân huyết ta rung động say mê bởi những làn khoái lạc của xác thịt nóng, thơm, ran ran lên cả người:
Ta vồ người như một miếng mồi ngon;
Miệng ngậm hờn riết chặt lấy môi son;
Mắt đổ lửa lườm qua làn sóng sắc...
Tôi giật nẩy rồi cười lên sặc sặc,
Hai tay cào đôi vú trắng như bông...
(XÁC THỊT)
Ở địa hạt dâm cuồng này, ta thấy thi sĩ Bích Khê hoàn toàn là Baudelaire. Vì trong tác phẩm chàng, gợi dục tình thì ít, mà làm cho người ta ghê rởn đến gớm guốc cái cảnh trần truồng khả ố thì nhiều.
Tới đây, ta tưởng là đi đến chỗ tận cùng của vườn hoa nghệ thuật, nhưng không, chàng còn mở rộng biên giới để cho ta thấy chàng là một thi sĩ Đông phương rất “tàu” mà lời thơ chàng nhuộm đầy màu sắc của các thi gia đời Đường:
Mộng trắng phau phau, vót cung nga:
Xuân Hương! Người ngọc, máu say ngà!
Nhấn dây tơ loạn, - buồn lơi lả,
Đờn phất hương trăng nẩy điệu ra...
(MỘNG)
Thơ Bích Khê đủ các vẻ tài tình, nghệ thuật của thơ chàng là nghệ thuật một tay trường trải, rất lão luyện tinh thông niêm luật tho Đường.
Nhưng, thơ chàng rồi đi đến đâu, một khi đã lên cao chót vót?
Sau khi đã chán chê tất cả những khoái lạc của xác thịt, đã ớn ê với phong vị trăng, hoa, gái, rượu..., thi sĩ bây giờ như đã tự giác ngộ, tự thấy tâm hồn mình thanh sạch quá chừng và đâm ra ghê rởn những điều tội lỗi... Thi sĩ liền nâng thần trí lên với Trời để ca ngợi cái nhân đức sạch sẽ. Tìm mãi cái đẹp không thấy, vì tất cả mọi sự ở thế gian đều tầm thường cả, thi sĩ mới nhận ra rằng, chỉ có cái gì đời đời, cái gì hằng sống (éternité) mới thỏa mãn được nỗi khát khao thương nhớ vô hạn của thi sĩ.
La douleur dit: passe et finis!
Mais toute joie veut l’éternité,
Veut la profonde éternité.
(NIETZSCHE)
Cho nên thơ chàng sắp bay sang thế giới huyền bí để đi đến chỗ tuyệt đích là: Tôn giáo. (2)
Có say khướt mới đào muôn tứ ngọc;
Có điên rồ mới hớp ý trăng sao;
Có dâm cuồng mới dâng cả lên cao,
Nơi chu lưu một nguồn thơ bất tuyệt,
Nơi trí người tạo ra rồi xóa hết,
Nghiễm nhiên người là Chúa tể vô biên.
HÀN MẶC TỬ
Nguồn:
Tinh huyết, Trọng Miên xuất bản, Hà Nội, 1939, tr. V-XIX.
Chú thích
(1) Xem Tiếng Dân, ta thấy Bích Khê đã được hoan nghênh về thơ cũ (1931-1936) (nguyên chú của Hàn Mặc Tử)
(2) Xin hiểu nghĩa chữ ấy với tất cả tinh thần của nó. (nguyên chú của Hàn Mặc Tử)
ĐỀ BẠT “TINH HUYẾT”
Hoàng Trọng Miên
Tôi yêu Baudelaire đắm đuối, say sưa Hồ Xuân Hương sôi nổi, thì Bích Khê tuông ra những lời nóng hổi, mê man nhủ cùng tôi chung một tâm tình thơ ngây ngất.
Đêm qua mộng thấy Hồ Xuân Hương, nay tôi nhận được một bản đàn thơ xốn xan đầy máu lệ tinh tủy nói đến nàng.
Vừa mơ địa ngục, tai tôi liền nghe điệu nhạc u trầm, đồng vọng cõi âm ty.
Những lời thơ bi thương, trụy lạc hiển hiện ra những hình ảnh nhuộm màu đỏ sẫm, u huyền, ánh ngọc, tê ngời bắt tôi ngừng thở lắng hồn ấp ôm. Hơi hám kỳ dị, nồng nàn tẩm vào những giòng tinh huyết sầu hận, kêu rêu thấm thía lòng tôi như hương vị rượu nồng mê ly, áo não. Và dư âm xao động, run rẩy tận đáy hồn.
TINH HUYẾT vang dội một nỗi đau khổ tuyệt vọng phủ qua màu sắc trụy lạc ồ ạt như muốn chảy tràn vào đường gân, mạch máu của tôi.
Bích Khê phô bày trần truồng những cơn ham mê, khoái lạc bão táp cuồng loạn trong tâm hồn, xác thịt ra trên mặt giấy trắng tinh, nên nhiều vần điệu dính đầy máu tủy.
Sắc dục bay tỏa trong thơ chàng mãnh liệt, mùi hương nồng đượm tài hoa. Những đau đớn, tuyệt vọng, oán hận, điên cuồng nung nấu máu huyết chàng tràn ứ ra những lời thơ ham mê, khát khao bồng bột, chói rực lạ thường.
Nhưng đứa con cưng của địa ngục trong khi đắm đuối hồn vẫn ngước mắt nhìn trời, ước ao cao cả, thiêng liêng. Và nguồn cảm hứng đã khơi mạch thơ ở những cái gì sáng láng, thanh cao. Ở đây tôi thấy Bích Khê chịu ảnh hưởng của Hàn Mặc Tử, thi sĩ đau thương, huyền diệu.
Nhạc và lệ, đẹp và dâm, cuồng và ánh sáng, Bích Khê hòa hợp thành một giòng tinh huyết tân kỳ.
Tôi yêu thơ hết tận cả hồn, cả phổi, cả tim và máu huyết. Tôi say mê đắm đuối, điên cuồng vì thơ.
Ôi, những lời đau khổ, những lời yêu thương, những lời điên dại, tôi đổi hết đời để trìu mến, say sưa...
Bích Khê đã là một trong những thi sĩ tôi yêu.
TRỌNG MIÊN
Nguồn:
Tinh huyết, Trọng Miên xuất bản, Hà Nội, 1939, tr.107-108.
SỰ TRỤY LẠC CỦA VĂN CHƯƠNG :
VĂN CHƯƠNG VÀ LUÂN LÝ
(trích)
….. Bây giờ chúng ta hãy xem qua các hàng sách của chúng ta. Những truyện như “Người đàn bà trần truồng”, “Khi chiếc yếm rơi xuống”, “Tắt đèn” hay “Sự động cỡn của người đàn bà”, v.v., những thơ như “Tinh và huyết”, chỉ xem qua cái nhan đề như thế cũng đã thấy rõ cái phong trào của văn chương ta ngày nay. Lợi dụng những điều của xác thịt để quyến dũ độc giả thanh niên. Mà những sách ấy được thiên hạ hoan nghinh một cách đặc biệt. Nào trai nào gái, những học sinh, những người thanh niên các công sở đua nhau mà xem những sách ấy, cốt yếu để đọc những mẩu tả cảnh về các cuộc ái ân, những buổi đào đĩ.
Nếu các độc giả là những người đã trưởng thành, đã có lịch duyệt với cuộc đời, thì cái ảnh hưởng các sách ấy không hại gì cho lắm. Nhưng đối với học sinh, con trẻ, thì thật là một tội lỗi rất lớn. Các văn chương ấy có thể coi là “Văn chương trụy lạc” dù viết hay đến đâu cũng vậy.
Phó Xuyên HÀ XUÂN TẾ
Nguồn:
Tràng An Báo, Huế, s. 496 (29.3. 1940)
BÁO TIẾNG DÂN NÓI SAI,
TÔI KHÔNG HỀ CÔNG KÍCH THƠ MỚI
Phan Khôi
Báo Tiếng dân gần đây có hai bài trong hai số tiếp nhau tuyên bố lên rằng ông Phan Khôi, là tôi, đã bắt đầu công kích lối thơ mới. Tôi thấy mà rất lấy làm ngạc nhiên. Tôi không hề có khi nào phản đối lối thơ mới cả, cũng chưa từng bắt đầu nghĩ đến việc ấy, sao người ta lại hô lên như vậy?
Tôi là người đề xướng ra thơ mới, vì bài Tình già của tôi ra đầu hết; nếu lui một bước, tôi không chịu nhận lấy cái danh người đề xướng thì ít nữa tôi cũng là một người trong những người đề xướng thơ mới, há có lẽ nào mới giáp mười năm mà tôi đã quay lại nó mà phản đối hay sao?
Sợ cho anh em trong làng thơ mới không rõ đầu đuôi, tin lời báo Tiếng dân rồi chưởi tôi là thằng phản phúc, nên cực chẳng đã tôi phải viết bài nầy đính chánh, -- đáng thương hại cho ngòi bút của tôi cứ luôn luôn là đính chánh.
Trong số 1594 báo Tiếng dân viết rằng: “Ông Phan Khôi trước có hùa vui viết thơ mới một đôi bài … nay thấy trong làng thơ mới của bọn trẻ có lắm bài vô nghĩa, trong Dân báo ông Thông Reo (hiệu ông Phan Khôi) có bài dưới mục “Chuyện hằng ngày” (số ra ngày 25/6/1941) cho thơ mới là một cái tai nạn của văn học, xem đó đủ thấy giá trị thơ mới ngày nay là thế nào”.
Đoạn đó ở trong “Lời nói đầu” của Việt ngâm thi thoại đăng ở số báo nói trên, dưới ký là Minh Viên.
Tiếp số sau, 1595, ra ngày 12/7/1941, nơi mục “Chuyện đời”, Chuông Mai viết: “Nhà túc học và tay đàn anh trong làng báo là ông Thông Reo (tức Phan Khôi) trước kia giữa phong triều thơ mới, nhớ như ông có viết một bài về cái đề “mua sò trên xe lửa” … Nhưng (1) mới đây ông kinh hoảng mà la lớn: “Một tai nạn trong văn học” (bài nầy trong Dân báo ra ngày 25/6/1941) trong bài nầy ông chỉ vạch những câu vô nghĩa trong thơ mới rất là rành rẽ. Xem đó đủ thấy trưng triệu đổ sụp của thơ mới. Chuông Mai rất biểu đồng tình với … bạn Thông Reo mà hô lớn rằng: Xứ ta còn sản xuất thứ thơ mới là một điều vô phúc cho làng văn nước nhà”.
Xem đó, bạn đọc thấy Tiếng dân nói rõ ràng rằng tôi cho thơ mới là một tai nạn của văn học và Chuông Mai tỏ ý muốn cùng tôi đánh đổ thơ mới. Mà nói như thế, báo Tiếng dân lấy chứng cứ ở đâu? Chỉ lấy ở bài đăng dưới “Chuyện hằng ngày” trong Dân báo của Thông Reo.
Thông Reo, báo Tiếng dân nói là hiệu của tôi, điều đó rất là vô lý, tôi không nhận. Tuy vậy, cho đi rằng Thông Reo tức là Phan Khôi nữa, thì cũng nên xem lại thử bài ấy Thông Reo nói những gì.
Nguyên văn bài ấy ra ngày 25/6/1941 dưới mục “Chuyện hằng ngày” trong Dân báo là như vầy:
MỘT TAI NẠN CỦA VĂN HỌC
(đó là cái đề)
Nền văn học Việt Nam mới gầy dựng lên vài chục năm nay, đến nay bỗng dưng gặp một tai nạn lớn. (lược và đoạn không quan hệ) Cái tai nạn gì thế? Chẳng có gì lạ, chỉ là viết văn không nghĩa. (lại lược một câu)
Phàm văn, khoan cầu hay đã, trước phải cầu cho có nghĩa. Phải có nghĩa đã, rồi sau mới nói đến hay hay dở.
Nhưng hiện nay có một hạng văn sĩ, hình như họ chỉ cầu cho hay, còn có nghĩa hay không, họ không cần. Bởi vậy thường có những câu vô nghĩa trong văn họ mà có lẽ họ gọi là hay đó.
Một tập thơ xuất bản đã lâu, nhan là Tinh huyết, tác giả là Bích Khê, mà đến ngày nay tôi mới đem ra chỉ trích cũng hơi muộn. (lại lược một câu).
Một bài đề là Hoàng hoa trong có những câu như vầy:
Lam nhung ô! Màu lưng chừng trời,
Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi.
Vàng phai nằm im ôm non gầy,
Chim yên eo mình nương xương cây.
“Lam nhung” là gì? “Xanh nhung” là gì? “Chim yên” là gì? “Xương cây” là gì? Chẳng có nghĩa gì cả. (lược bỏ nhiều câu ở dưới vì đều thế cả)
Không hơi đâu mà kể cho hết cái vô nghĩa của họ … Họ điên chăng? Nếu thế, chỉ có người điên mới hiểu mà thôi.
Coi như trên đó, Thông Reo có hề công kích thơ mới không? Nếu Thông Reo có công kích thơ mới thì tôi cũng xin nhận là tôi − Phan Khôi − có công kích thơ mới.
Không hề! Thật là không hề! Thông Reo chỉ công kích sự viết văn vô nghĩa mà thôi, chứ có hề công kích thơ mới đâu?
Nguyên văn, Thông Reo nói: “Cái tai nạn gì thế? Chẳng có gì lạ, chỉ là viết văn không có nghĩa”.
Thông Reo nhận cho sự viết văn không có nghĩa là một tai nạn của văn học.
Thế mà đến báo Tiếng dân, báo ấy nói rằng: “Ông Thông Reo (hiệu ông Phan Khôi) cho thơ mới là cái tai nạn của văn học”!
Thế là Tiếng dân nói sai. Tôi xin cải chánh.
Nguồn:
Dân báo, Sài Gòn, s. 627 (23 Juillet 1941).
Chú thích:
(1) Đoạn nầy vì tôi có bỏ bớt nguyên văn nên có thêm một vài chữ cho chạy ý, như chữ “nhưng” này (nguyên chú của Phan Khôi)
SAU KHI ĐÍNH CHÁNH BÁO TIẾNG DÂN:
Ý KIẾN TÔI ĐỐI VỚI THƠ MỚI
Phan Khôi
Cũng trong ngày cho đăng bài đính chánh mấy lời sai lầm của báo Tiếng dân ở một số trước, tôi có nhận được thơ của người bạn ở Huế, ông Nguyễn Đức Nguyên, bút tự Hoài Thanh, gởi mua một năm Dân báo mà dặn rằng phải bắt đầu gởi cho ông ấy từ số nào có bài bàn về thơ mới.
Việc riêng của giữa hai người với nhau, xin lỗi ông Hoài Thanh cùng bạn đọc nữa, tôi đem nói vào đây là vì chính nó có sự quan hệ: Bởi báo Tiếng dân nói sai nên ông Hoài Thanh mới có chỗ hiểu lầm.
Trong Dân báo lâu nay, ở dưới tên ký của người nào cũng chẳng hề có bài nào luận về thơ mới cả. Thế thì sao ông Hoài Thanh lại bảo bắt gởi từ số có đăng bài ấy?
Tôi chắc rằng bởi ông ấy thấy hai bài trong báo Tiếng dân mà tôi đã nói đến trong số trước, rồi tưởng rằng gần nay trên Dân báo chắc thế nào tôi cũng có bài phản đối hay công kích thơ mới, cho nên Tiếng dân mới cứ theo mà thuật lại. Thế rồi, theo ông Hoài Thanh nghĩ, tôi từ trước là người có chưn trong làng thơ mới, sao nay lại trở mặt toan “bỏ làng”? Nghĩ thế rồi ông nhứt định đòi cho được số báo ấy để xem thử cái luận điệu của tôi ra sao.
Hôm nay, đọc bài đính chánh của tôi đã ra trước và bài nầy, ông Hoài Thanh, cùng hết thảy bạn đọc nữa, đều hiểu rằng tôi chưa hề công kích hay phản đối thơ mới; tôi chỉ công kích sự viết văn không có nghĩa mà báo Tiếng dân nói sai đi. Tôi nói sự viết văn vô nghĩa là cái tai nạn của văn học mà Tiếng dân lại thuật lộn rằng ông Phan Khôi nói thơ mới là cái tai nạn của văn học!
Chỉ có vậy mà sanh chuyện!
Vả tôi chỉ trích những câu vô nghĩa trong tập Tinh huyết của Bích Khê; tập Tinh huyết dầu có là thơ mới đi nữa, báo Tiếng dân cũng không được phép cứ theo đó mà nói rằng tôi công kích thơ mới. Cái lẽ ấy cực kỳ dễ hiểu. Cũng như khi cụ Huỳnh Thúc Kháng nếu có chỉ trích những câu vô nghĩa trong một bổn tiểu thuyết nào, tôi há có thể vin theo đó mà nói cụ công kích lối văn tiểu thuyết hay sao?
“Thơ mới là cái tai nạn của văn học” -- báo Tiếng dân nói ông Phan Khôi nói như thế, -- tôi đọc tới mà ngẩn người ra, vì tôi không hề nói như thế, tôi không hề phản đối hay công kích thơ mới.
Vậy thì ý kiến tôi đối với thơ mới như thế nào, luôn tiện tôi cũng nên bày tỏ ra ở đây.
Chữ “mới” trong cái danh từ “thơ mới”, có người cho là lạm, không xứng đáng, vì nó không phải mới gì, nó lấy nguồn ở thơ cổ phong hay từ khúc mà ra. Dầu vậy, cái danh từ ấy cũng thành lập được. Vì cái thể thơ như của Thế Lữ, Xuân Diệu, xưa nay chưa có ai làm nhiều, mà bây giờ có, thế là chúng ta nhận cho nó thành một thể được rồi.
Thể thơ ấy phần nhiều dùng tám chữ làm một câu. Hoặc giả sau nầy không gọi là “thơ mới” nữa mà gọi là “thơ bát ngôn”, như ngũ ngôn, thất ngôn đã có rồi, cũng chẳng có gì trái với nguyên lý của văn học cả, cũng chẳng có gì làm hại, kêu bằng tai nạn cho văn học cả. Thế thì việc gì mà người ta yểm ố nó, cự tuyệt nó cho đành? Ai công kích thơ mới, tôi dám bảo người ấy chỉ tỏ mình ra là hẹp lượng và thiếu sự thấy xa biết suốt.
“Ông cứ việc mà đánh đổ thơ mới đi, rồi sau nầy thơ mới nó cũng cứ đứng vững và phát đạt như thường” − Câu nói ấy bất luận ra từ miệng người nào, sau đây vài ba mươi năm, nó sẽ được truyền tụng như câu của một nhà thiên văn học ngày xưa: “Mặc dầu các ông phản đối cái thuyết địa viên, trái đất cũng cứ việc quay và quay chung quanh mặt trời!”
Chắc lắm, không hồ nghi gì nữa, cái lẽ nó phải như thế. Sau tứ ngôn, ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát gián thất, thêm một thể nữa gọi là “bát ngôn” làm giàu thêm cho văn học Việt Nam mà không trật ra ngoài con đường rầy tiến hoá, thì là sự chúng ta nên hoan nghinh, chứ lại điên gì mà yểm ố và cự tuyệt?
Lý thuyết thì như thế, mà cứ xem hiện trạng thì chính tôi cũng nhận thấy vài ba năm nay thơ mới đã ra nhiều và nhảm lắm.
Cái nhảm đó là do vài bốn kẻ tuổi trẻ, kém học thức mà lại tưởng mình có thiên tài, rồi cứ thuận mồm ngâm vịnh bừa đi. Một vài kẻ có những ý tứ lời lẽ quá nông nổi và non nớt như những bài đăng trên các báo về mục “Vườn thơ”; một và kẻ cố ý đặt cho mắc mỏ, tưởng thế là hay, chẳng dè thành ra vô nghĩa, như tập Tinh huyết đó. Đã thế rồi còn có một vài kẻ tự coi mình là đàn anh, như ông Hàn Mặc Tử, theo mà tưng bốc, − chính ông ấy đã tưng bốc tập Tinh huyết, là thứ thơ không có nghĩa, lên chín từng mây! Như thế bảo thơ mới còn biết kiêng nể ai mà không đâm ra nhảm?
Ấy thế mà đừng lo. “Sông có khúc, người có lúc” thì văn học hay là thơ cũng có thời kỳ của nó. Thời kỳ nầy chỉ là một thời kỳ hỗn độn của thơ mới, nó phải đi cong quanh một lúc rồi trở lại theo đường thẳng mà tiến lên, làm vẻ vang cho nền văn học của chúng ta cho mà xem!
Sao mà dám chắc thế?
Vì một thể thơ đã sản xuất được những bài như của Xuân Diệu, của Thế Lữ thì không có thể nào nửa chừng bỗng tiêu diệt đi được, chết đi được, tha hồ cho ai ra sức đánh đổ nó, đang tay bóp cổ nó!
Nguồn:
Dân báo, Sài Gòn, s. 628 (24 Juillet 1941).
NHÂN ĐỌC “THI NHÂN VIỆT NAM”
CỦA HOÀI THANH VÀ HOÀI CHÂN
(trích)
Kiều Thanh Quế
[….]
Trong số các nhà thơ có tên trong quyển Thi nhân Việt Nam, tuy cũng có người đáng lẽ không nên liệt vào -- và đọc họ bao nhiêu lần tôi cũng không có được cảm giác nào rõ rệt cả -- nhưng có hai thi sĩ làm tôi bực tức nhất là: Hàn Mặc Tử và Bích Khê. Cái chết của Hàn Mặc Tử đã ồn ào lắm. Và các nhà phê bình không phải đã khen thơ Hàn Mặc Tử một cách vu vơ. Nhưng nhà thơ ấy đã đưa ra nội một Ave Maria! cũng đủ làm mất hết thiện cảm của tôi rồi.
[…..].
Đến Bích Khê mà Hàn Mặc Tử hết lời khen tặng trong bài tựa tập Tinh huyết, tôi rất lấy làm lạ sao tác giả Thi nhân Việt Nam, đã viết được những trang thật giá trị, lại cũng thiếu sáng suốt như Hàn Mặc Tử mà bảo rằng: “Tôi đã gặp trong Tinh huyết (của Bích Khê) những câu hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam. "Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng, / Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông".
Hai câu ấy có hay vào bậc nhất không, khỏi nói tất ai cũng biết nó may ra chỉ đọc nghe được mà thôi.
Đã hết đâu! Đối với bài Duy tân tác giả Thi nhân Việt Nam, còn dám bảo: “Tôi đã đọc không biết mấy chục lần bài Duy tân. Tôi thấy trong đó những câu thật đẹp”.
Xin tìm một vài câu thật đẹp ấy:
… Vì hình dung những sắc mát non tơ,
Như mặt trời lọc qua khóm liễu, một
Hoàng hôn…
Trong ba câu thơ ấy, tôi thấy Bích Khê làm một cái liên cước (enjambement) sai luật thơ Pháp.
Theo luật thơ Pháp, phàm muốn làm liên cước, người ta chỉ được phép nối liền câu thơ trên với câu dưới bằng một động từ (verbe) với một túc từ (conplément), hay bằng một chủ từ (sujet) với một động từ, như trong hai câu thơ này của Trần Huyền Trân:
Tôi nghe xa lắm làn mây trắng
Rời bóng kinh thành lững thững đi
(Giao thừa)
Cái liên cước của Bích Khê lại nối liền một quán từ (article) với một danh từ (nom): chữ một trong câu thứ hai là quán từ nối liền với hoàng hôn trong câu kế là danh từ. Rõ ràng Bích Khê không hiểu luật thơ!
Thơ của Bích Khê, Hàn Mặc Tử đầy tưởng tượng. Nhưng các hình tượng, do óc tưởng tượng của hai ông tạo ra, rời rạc, vấp váp và rơi như lá vàng buổi chiều thu!”
[………..]
Nguồn:
- Tri tân, Hà Nội, s. 134 (tháng 3/1944)
- Trích theo sưu tập Tạp chí Tri Tân (1941-1945). Phê bình văn học, Trịnh Bá Đĩnh và Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm biên soạn, Nxb. Hội Nhà Văn, H., 1998, tr. 186-188.
PHẦN III B
DƯ LUẬN VỀ BÍCH KHÊ NHỮNG NĂM 1945-1975
----------------------
NHỮNG KHUYNH HƯỚNG
TRONG THI CA VIỆT NAM 1932-1962
(trích)
Minh Huy
Chương I. Hai nhà thơ lý thuyết: Hàn Mặc Tử và Bích Khê
Năm 1939, đề tựa tập thơ tượng trưng đầu tiên trong thi ca Việt Nam, tập “Tinh Huyết” của Bích Khê, Hàn Mặc Tử viết: “Với những cảnh trí, sự vật rất tầm thường, hơn nữa, tội lỗi nhuốc nhơ, rùng rợn, mà thi nhân trái lại thấy ở những chỗ ấy là cao siêu, là nhân đức, là thơm tho, khoái lạc...
Thí dụ cái sọ người. Ta không kịp rùng rợn với mảnh óc trắng trợn, với hàm răng trắng như tinh, thì thi sĩ đã vội bảo ta đấy là bình vàng, chén ngọc, chứa bao chất ngào ngạt, say dại, uống đến ngất người đi cả tủy thơm, cả não mát... Cái sọ người không còn là cái sọ người nữa. Mất hết cả sự ghê rợn của sự chết, sự hãi hùng tàn phá của thời gian đối với sự vật. Để còn lại hình ảnh của “khối mộng”, của “buồng xuân”, của “hồ nguyệt”. Trước kia thối tha nhơ nhớp bao nhiêu, thì bây giờ lại thơm tho, sạch sẽ, đến muốn cắn vào hàm răng trắng dẽ, đến muốn rút hết chất gì ngon ngọt ở miệng, chất gì mát mẻ ở mắt, ở hai lỗ hũng, ở cái hố sâu hoắm”.
Những dòng chữ trên trình bày một thẩm mỹ quan hoàn toàn khác với cái thẩm mỹ quan của Thế Lữ trong “Mấy vần thơ” (1935) và của Xuân Diệu trong “Thơ Thơ” (1938).
Nghệ thuật ở đây không còn là sự phô diễn liên miên của cái tôi “bề ngoài”, cái anh anh, em em như trong thi ca lãng mạn. Nghệ thuật ở đây tìm đến lãnh vực siêu hình, nó đi tìm “bề sâu” của cái tôi, “bề cao” của sự vật; nó là nghệ thuật “luyện kim thi ca” (alchimie poétique) như Baudelaire đã nói: “Người cho tôi bùn của người, tôi sẽ làm bùn đó thành vàng”.
Nghệ thuật thi ca theo Hàn Mặc Tử, sẽ làm cho những cái thối tha, nhơ nhớp nhất thành thơm tho, ngon ngọt; nghệ thuật ở đây sẽ làm cho cái tầm thường thành cao siêu. Người ta tưởng như nghe lời ca vẻ đẹp (Hymme à la beauté) của Baudelaire trong “Les fleurs du mal”.
Hỡi cái đẹp! Hỡi con quái vật vĩ đại khủng khiếp và chất phác!
Dầu ngươi đến từ trời hay từ địa ngục đến, điều đó có hề chi,
Miễn sao con mắt, nụ cười và bàn chân của ngươi mở ra cho ta chiếc cửa
Cửa vô tận mà ta mến yêu và chưa hề biết đến(1)
Ba năm trước khi đề tựa “Tinh Huyết”, Hàn Mặc Tử đã báo hiệu khuynh hướng tượng trưng với bài thơ “Tình quê” (1936), một bài thơ ghi lại các sự vật chung quanh một cách mờ ảo như để đưa ta vào giấc mơ buồn một cách đẹp đẽ, thần tiên:
Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về
Mây chiều còn phiêu bạt
Lang thang trên đồi quê
Gió chiều quên ngừng lại
Giòng nước luôn trôi đi
Ngàn lau không tiếng nói
Lòng anh dường đê mê
Cách nhau ngàn vạn dặm
Nhớ chi đến trăng thề
Dù ai không mong đợi
Dù ai không lóng nghe
Tiếng buồn trong sương đục
Tiếng hờn trong lũy tre
Dưới trời thu man mác
Bàng bạc khắp sơn khê
Dù ai trên bờ liễu
Dù ai dưới cành lê
Với ngày xanh hờ hững
Cố quên tình phu thê
Trong khi nhìn mây nước
Lòng xuân cũng não nề. HÀN MẶC TỬ (Gái quê: Tình quê)
Nhưng phải đợi đến khi bái tựa “Tinh Huyết” và tập “Tinh Huyết” ra đời thì cái thẩm mĩ quan của khuynh hướng tượng trưng trong thi ca Việt Nam mới thành hình rõ rệt. Bài tựa “Tinh Huyết” như vậy, có thể xem là một “biến cố” trong văn học Việt Nam.
Bích Khê chú ý rất nhiều đến sự thay đổi của hình thức trong thơ. Ở điểm này, Bích Khê gần với Verlaine, nhà thơ tượng trưng, chủ trương trong thơ nhạc là trên hết; mà muốn có nhạc thì nên chọn các thể thơ có số âm lẻ như 5, 7, 9, 11; đồng thời Verlaine cũng chủ trương thơ không hùng biện (2)
Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới
Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong
Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng (3)
Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng
Trong vòm xanh. Màu cưới màu bình lặng,
Gây phương phi: chiếu sáng ngả sang mờ
Vì hình dung những sắc mát, non, tơ,
Như mặt trời lọc qua khóm liễu, một
Hoàng hôn - Ôi đàn môi, chim báu tớt:
Chữ biến hình ảnh mới, lúc trong ngâm,
Chữ trong vắt sánh nghệ thuật sầu câm
Đầy thẩm mỹ như một pho thần tượng… BÍCH KHÊ (Duy tân)
Bích Khê quan niệm điệu mới phải nhịp nhàng đầy âm nhạc, cho nên thơ Bích Khê có một nhạc điệu khác hẳn với thơ cổ điển và thơ lãng mạn. Ta thấy trong thơ Bích Khê nhiều chỗ ngắt hơi khác thường và cách choàng, cách thòng khác lạ làm cho câu thơ có một tiết điệu luôn luôn thay đổi.
Quan niệm thơ là “hạt châu trong” (4) chỉ là quan niệm của nhà thơ tiền tượng trưng Pháp Vigny. Còn quan niệm thơ là họa điệu của âm hưởng, của màu sắc và hương thơm là quan niệm của Baudelaire trong “Correspondances”. Tuy nhiên, đúng như tên của bài thơ, Duy tân đối với thi ca Việt Nam là một cuộc duy tân thực sự, có đường lối, có lý thuyết và (điều quan hệ hơn hết) sự áp dụng của lý thuyết đó vào thi ca. Chúng ta có thể lấy bài thơ “Xuân tượng trưng” của Bích Khê để minh chứng cho cuộc duy tân đó trong thi ca Việt Nam:
Hỡi lời ca man dại,
Điệu nhạc thở hơi rừng
Đêm nay xuân đã lại
Thuần tuý và tượng trưng
Nâng lên núm vú đồi
Sữa trăng nhi nhỉ giọt;
Bay qua cụm liễu phơi
Những cườm tay điểm hột
Sương. Phất phơ lau lách
Khe uốn mình giai nhân;
Đường non khéo điêu khắc
Những dáng hình khoả thân;
Lụa mây nẩy vàng chạm,
Tia ngọc bén màu ngân.
Chủ xuân đương triển lãm!
Lời ca như hạc theo
Gió lên. (Tình múa reo
Những điệu vàng châu báu,
Dường có con chim báu
Rỉa cánh trên ngai lòng)
Xoè xoè màu lông công
Vườn thơm khua sắc mát.
Rồng uốn vóc tùng cong,
Áo bạch mai khoát khoát
Môi đào chờ khoái lạc...
Hồn tôi như đỉnh hương
Bốc lên mình thánh giá!
Ý xuân mát đến xương
Ngậm tuyết phun lã chã! BÍCH KHÊ (Xuân tượng trưng)
Nghệ thuật “điêu khắc những dáng hình khỏa thân” của Bích Khê xui ta nhớ đến nghệ thuật của tạo hình trong thi ca Pháp chịu ảnh hưởng của Hy Lạp, đặc biệt hơn hết là ở Chénier, một nhà thơ rất giỏi tạo hình và tạo nhạc của thế kỷ 18.
Trong “Duy tân”, Bích Khê kết luận:
Thơ loã thể! Giai nhân tuần trăng mật,
Nữ thần ơi! ta nô lệ bên người! BÍCH KHÊ (Duy tân)
Và trong bài “Tranh lõa thể”:
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Bênh vực cho lối “thơ lõa thể” đó, Hàn Mặc Tử viết: “Ở đây, sự trần truồng dâm đãng đã nhường lại cho ý vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết. Qủa nhiên là một sự không khen thanh tao đến ngọt lịm cả người và cả thơ” (Tựa Tinh Huyết).
Cùng trong năm 1939, trước khi tập “Tinh Huyết” ra đời, đề tựa tập “Thơ điên” của mình, Hàn Mặc Tử đã giải thích ý nghĩa của thơ tượng trưng: “một cung đàn”, “một làn ánh sáng”, chứa đựng của thở là “vui, buồn, hơn, giận đến gần đứt sự sống”. Chưa bao giờ trong thi ca Việt Nam lại có một lối giải thích khác thường như thế. Nhà thơ mời ta và người bạn gái vào vườn thơ của người và từ “Thơ điên” (gồm có ba tập Hương thơm, Mật đắng, máu cuồng và hồn điên) đến “Xuân Như ý”, “Thượng Thanh khí”, “Duyên kỳ ngộ” và “Quần tiên Hội”, ta nhận thấy đúng như Hàn Mặc tử đã nói: “Vườn thơ của người rộng rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh”. Ta rùng mình khi nghe nhà thơ giải nghĩa:
“Tôi làm thơ?
Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng.
Anh sẽ thấy hơi đàn lả lướt theo hơi thở của môi tôi và chìm theo những sóng điệu nóng ran trút xuống bởi năm đầu ngón tay uyển chuyển.
Anh sẽ rung theo khúc ngân nga của tơ đồng, sẽ để mặc cho giai âm rền rĩ mãi không ngừng.
Và anh sẽ cảm giác lạ, nhìn không chớp mắt khi một tia sáng xôn xao tại có vì sao vỡ. Những thứ ấy là âm điệu của thơ tôi, âm điệu thiêng liêng tạo ra trong khi máu cuồng rền vang dưới ngòi bút.
Tôi làm thơ?
Nghĩa là tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên. Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng gào, tiếng rú... Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi?
Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống.
Thôi mời cô cứ vào...
Ánh sáng lạ trong thơ tôi sẽ làm cho gò má cô đỏ gấc. Và một khi cô đã vào là cô sẽ lạc, vì vườn thơ tôi rộng rinh không bờ bến. Càng đi xa, càng ớn lạnh...”
HÀN MẶC TỬ
Hàn Mặc Tử còn có những ý muốn lạ lùng: mỗi lời thơ phải là máu vọt, là cân não của nhà thơ:
“Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt
Như mê man chết điếng cả làn da”.
Xét trên bình diện thế giới, thi ca cổ kim chưa bao giờ có một quan niệm quái dị như thế, và ghê gớm như thế. Edgar Poe cũng chỉ đến vậy là cùng. Thơ, theo Hàn Mặc Tử, chỉ là âm thanh, tiếp nối nhau, khi thì lả lướt khi thì quay cuồng chết điếng cả thân xác và linh hồn.
Ở Việt Nam trước Hàn Mặc Tử, từ 1932 cho đến khi tập “Đau thương” (1939) của Hàn Mặc Tử ra đời, (nhưng đến năm 1943 mới in thành tập) chưa bao giờ thi ca Việt Nam lại được quan niệm một cách khác thường và mới lạ như vậy. Đây là một thế giới đầy âm nhạc, riêng biệt, mung lung, mờ ảo.
Lạc vào trong thế giới kỳ lạ đó của vườn thơ Hàn Mặc Tử, người đọc sẽ chỉ gặp toàn là những cảm xúc ghê gớm do nhạc và hình ảnh gây nên lạ lùng, mãnh liệt.
“Làm thơ nghĩa là yếu đuối quá”, nhà thơ cảm thấy như bao nhiêu sức mạnh của mình, sức mạnh tinh thần và thể xác đều phung phí, đều dồn vào trong nhạc của thơ. Một nhà tâm bịnh học hay phân tâm học có thể giải nghĩa cho thơ Hàn Mặc Tử hơn một nhà khảo luận văn học, bởi vì Hàn Mặc Tử là một nhà thơ bệnh hoạn, một nhà thơ có cái nhìn khác lạ “nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền bí” vô cùng quái đản:
Nhớ khi xưa, ta là chim Phượng hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất,
Bay từ Đao Ly đến thời Đâu Suất,
Và lùa theo không biết mấy là hương.
Lúc đằng vân, gặp ánh sáng chận đường,
Chạm tiếng nhạc, va nhằm thơ thiên cổ,
Ta lôi đình, thấy trăng sao liền mổ,
Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao,
Trăng tan tành rơi xuống một cù lao,
Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ,
Ở ngôi sao ngước mắt ra ngoài bể,
Phong lưu ghê, sang trọng chẳng vừa chi!
Ta đắm say như đến chốn Phượng Trì... HÀN MẶC TỬ (Phan Thiết)
Hai nhà lý thuyết của khuynh hướng thơ tượng trưng thời tiền chiến gặp nhau ở nhiều điểm: trong thơ nhạc là trên hết, muốn có nhạc thì tiết điệu phải nhịp nhàng, lời thơ phải gợi ảnh; phải tạo hình và gợi cảm. Điều nên ghi nhận là cả hai cùng xuất thân ở trường thơ Đường (xem bài “Gõ bồn” dưới đây của Bích Khê) trước khi tiến đến tượng trưng.
Điểm khác nhau giữa Hàn Mặc Tử và Bích Khê là đức tin: Hàn Mặc Tử tìm nguồn thơ trong đức tin Thiên Chúa giáo thì Bích Khê gần Phật và lão Trang. Tuy nhiên, họ vẫn là bạn thân nhau thấm thiết và ảnh hưởng lẫn nhau một cách rõ rệt.
Bích Khê trong bài “Gõ bồn”, nói đến tao khách, hạc, phù vân:
Liêu trai trở lại, lánh vòng trần,
Ma Phật mơ hồ mộng với thân!
Mặt ngọc bên trời tàn bóng nguyệt,
Mình ta trước cửa thưởng hoa xuân,
Gõ bồn chẳng thấy ai tao khách,
Cách núi khôn tìm bóng cố nhân
Một tiếng trên không trong ác lặn
Hạc kêu bay lẫn đám phù vân. BÍCH KHÊ
Trong “Ave Maria”, Hàn Mặc Tử cho thơ là mầu nhiệm, thơ là linh giác, “kiến thần” và “thấu thị”, một sáng tạo “huyền bí”, không cần thời gian và không gian, thi sĩ nói đến phép lạ, sứ thần Thiên Chúa, nhưng giọng thơ vẫn vương vấn một chút gì của văn chương Phật giáo:
Bút tôi reo như châu ngọc đền vua
Trí tôi hớp bao nhiêu là khí vị
Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí
Và trong tay nắm một nam hào quang
Tôi no rồi ơn vũ lộ hòa chan;
Tấu lạy Bà, lạy Bà nhiều phép lạ
Ngọc như ý vô tri còn biết cả
Huống chi tôi là thánh thể kết tinh
Tôi ưa nhìn Bắc Đẩu rạng bình minh
Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới
Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi
Thơm nhường bao cho miệng lưỡi không khen
Hỡi sữ thần Thiên Chúa Gabriel
Khi người xuống truyền tin cho thánh nữ
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú
Người có nghe náo động cả muôn trời
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời... (Ave Maria)
HÀN MẶC TỬ
Có khi Hàn Mặc Tử cầu nguyện cho thơ được cao sang và trọng vọng:
“Lạy Chúa Trời tôi! Hãy ban cho tôi hằng hà sa số là ơn lành, ơn cả! Thơ tôi sẽ rất no, rất ớn, rất nư, trọng vọng như tài hoa, cao sang như nhân đức, chói chan vô vàn phước lộc”.
Điểm khác nhau giữa hai nhà thơ là hình thức.
Bích Khê quan niệm điệu mới phải nhịp nhàng cho nên thơ Bích Khê có những tiết điệu mới, có những chỗ ngắt hơi khác thường khi dài, khi ngắn, có những vần thật nghèo nhưng nhiều âm điệu:
Người họa điệu với thiên nhiên, ân ái
Buồn, và xanh trời. (Tôi trôi với bờ
Êm biếc - khóc với thu: lời úa ngô
Vàng... Khi cách biệt - giữa hồn xây mộ -
Tình hôm qua - dài hôm nay thương nhớ
Im lặng nhìn bông ý, lặng lờ lên
Những dáng hình thanh khí...) Giữa mông mênh
Đường nhiếp ảnh, sắc khua màu - Tiếng thở
Hỡi hội họa, đến muôn đời nức nở!
Ta nhịp nhàng ý nhị nhịp nhàng ta… (Duy tân)
BÍCH KHÊ
Riêng Hàn Mặc Tử không hề đi quá xa để trở thành “quá tây”. Thơ Hàn Mặc Tử, bắt nguồn trong Thiên Chúa giáo, vẫn giữ được cái bản chất Đông phương và nhờ đó đến được đỉnh của thơ tượng trưng với màu sắc thật dân tộc:
Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu,
Trời mơ trong cảnh thật huyền mơ
Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt,
Như đón từ xa một ý thơ.
Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,
Để nghe dưới đáy nước hồ reo;
Để nghe tơ liễu run trong gió,
Và để xem trời giải nghĩa yêu.
Hàng thông lấp loáng đứng trong tim
Cành lá in như đã lặng chìm.
Hư thực làm sao phân biệt được?
Sông Ngân Hà nổi giữa màn đêm.
Cả trời say nhuộm một màu trăng
Và cả lòng tôi chẳng nói rằng,
Không một tiếng gì nghe động chạm
Dẫu là tiếng vỡ của sao băng! (Đà Lạt trăng mờ)
HÀN MẶC TỬ
Chúng ta thấy trong những lúc tâm hồn tỉnh táo, nhà thư rung động chúng ta nhiều hơn trong những lúc điên cuồng rùng rợn, trong những lúc kêu gào thống thiết:
Cả miệng là trăng là trăng
Cả lòng ta vô số gái hồng nhan
Ta nhả ra đây một nàng...
Có lần chính Hàn Mặc Tử cũng đã viết: “Vẫn biết nghệ thuật chuộng ở sự tiến bộ, ở sự hoàn toàn từ hình thức đến tinh thần của một bài thơ. Song lẽ ra ta không nên quên rằng thơ ta là thơ quốc âm, ta phải giữ cái tinh thần Việt Nam của ta, hơn nữa, cái tinh thần Đông Phương mà sự rung cảm tâm hồn người ta là nhờ ở cái đẹp kín đáo, cái tình sâu sắc, cái buồn thắm thía...”
Chính “cái đẹp kín đáo, cái tình sâu sắc, cái buồn thắm thía” làm cho tượng trưng của Hàn Mặc Tử thành bất tử, chứ không phải cái điên cuồng đáng tởm làm cho ta ghê người, mệt nhọc.
Có một điều nên ghi nhận nữa ở Hàn Mặc Tử là thi ca tiên tri. Nhà thơ vượt lên trên thời đại đương thời, đứng trên cao nhìn xuống nhân loại trong đó chúng ta đang sống để mà truyền cảm với chúng ta qua những vần thơ “tiên kiến”, qua những tưởng tượng mà ngày nay đang sắp thành sự thực:
Ta bay lên! Ta bay lên
Gió tiễn đưa ta đến nguyệt thềm
Ta ở trên cao nhìn trở xuống
Lâng lâng mây khói huyện hương đêm.
HÀN MẶC TỬ
Với Hàn Mặc Tử và Bích Khê, một thi ca tượng trưng Việt Nam đã đến một cao độ tuyệt vời, đến một nơi thật cao siêu và khả kính, mà cho đến ngày nay chưa một nhà thư tượng trưng tiền và hậu thế chiến nào có thể vượt đến được.
Chương II. Những nhà thơ tượng trưng
Trong thời tiền thế chiến, ngoài hai nhà lý thuyết của thơ tượng trưng là Hàn Mặc Tử và Bích Khê, chúng ta có thể ghi nhận các nhà thơ Bình Định là những nhà thơ luôn luôn bị mùa thu và trăng vàng ám ảnh: Yến Lan, Vhees Lan Viên và những nhà thơ khác không cùng một quê hương: Phạm Hầu, Đoàn Phú Tứ.
Với bài thơ “Vọng hải đài”, Phạm Hầu đã tỏ rõ khuynh hướng tượng trưng của mình. Đây là sự hòa điệu của âm thanh (thêm son từng đôi gót vân hài) của màu sắc (một sắc không bờ trên biển xa) và của hương thơm (lòng xiêu xiêu hồn nức hương mai).
Chẳng biết trong lòng ghé những ai?
Thềm son từng đội gót vân hài
Hỗi ôi! Người chỉ là du khách
Giây phút dừng chân vọn hải đài.
Cơn gió nào lên có một chiều
Ai ngờ thổi tạt mối tình kiêu
Tháng ngày đi rước tương tư lại
Làm rã chân thành sắp sửa xiêu
Trống trải trên đài du khách qua
Mây ngày vơ vẩn, gió đêm là
Muôn đời e hãy còn vương vấn
Một sắc không bờ trên biển xa
Lòng xiêu xiêu, hồn nức hương mai
Rạng đông về thức giấc hoa nhài
Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận
Chẳng biết xa lòng có những ai?
PHẠM HẦU
Thơ Đoàn Phú Tứ mang nhiều daus vết của khuynh hướng tượng trưng trong bài “Mầu thời gian” :
Trăm năm tình cũ lìa không hận
Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng
Duyên trăm năm đứt đoạn
Tình một thuở còn hương
Hương thời gian thanh thanh
Màu thời gian tím ngát
ĐOÀN PHÚ TỨ
Nhóm “Xuân Thu Nhã Tập” gồm có Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Hạnh, Xuân Sanh, tuy làm được nhiều chuyện nhưng không còn để gì lại trong tâm trí của những người yêu thơ tượng trưng ngoài một vài câu thơ đẹp như:
“Đáy đĩa màu đi nhịp hải hà”
Muốn có nhiều nhạc và nhiều tiết điệu, thơ tượng trưng thường là hai lối thơ có số tiếng lẻ, thơ 5 tiếng và thơ 7 tiếng. Với Yến Lan thì hình thức thơ tượng trưng thường là thơ 8 tiếng. Vần tréo của thơ 8 tiếng làm cho câu thơ 8 tiếng có nhạc điệu êm đềm:
Thành Bình Định nương mây và cậy nguyệt
Đường chờ xe, sông nước ước mong thuyền
Tịch dương liễu không biết mình đương biếc
Tương tư trời, tượng tự nhạc triền miên...
YẾN LAN
Tác giả “Điêu tàn” (1937) không có bệnh mà rên rỉ, không phải học Chế mà dựng lại “non nước giống dân Hời” nên tuy thơ có tạo hình nhưng nặng nề, u uất không thành thật và không gợi cảm như thơ của Bích Khê:
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông
BÍCH KHÊ
Thu đến đây chừ, mới nói răng?
Chừ đây, buồn giận biết sao ngăn?
Tìm cho những cánh hoa đang rụng
Tôi kiếm trong hoa chút sắc tàn! (Thu)
CHẾ LAN VIÊN
Thơ Chế Lan Viên không hẳn là tượng trưng mà là một lối thơ lãng mạn có khi tầm thường, vẩn đục.
Người ta tưởng phải sắp Xuân Diệu thời tiền thế chiến vào danh sách những nhà thơ tượng trưng bởi vì Xuân Diệu đã say mê các nhà thơ tượng trưng Pháp:
Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine
Hai chàng thi sĩ choáng hơi men,
Say thơ xa lạ, mê tình bạn,
Khinh rẻ khuôn mòn bỏ lối quen.
Những bước song song xéo dặm trường,
Đôi hồn tươi đậm ngát hoa hương,
Họ đi, tay yếu trong tay mạnh,
Nghe hát ân tình giữa gió sương.
Kể chi chuyện trước với ngày sau;
Quên ngó môi son với áo màu;
Thây kệ thiên đường và địa ngục!
Không hề mặc cả, họ yêu nhau.
XUÂN DIỆU
Nhưng vì:
“Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ”
nên thơ Xuân Diệu chỉ có thoáng không khí tượng trưng của Verlaine và Rimbaud mà thôi. Huy Cận cũng vậy. Nguyễn Vỹ tuy viết: “Nhà văn An Nam khổ như chó” và tuy đã nói lên với khá nhiều chán nản và mỉa mai về cuộc đời của nhà văn, nhà báo thời tiền thế chiến:
Chứ như bây giờ là trò chơi,
Làm báo làm bung chán mớ đời!
Anh đi che tàng một lũ ngốc,
Triết lý con tiều, văn chương cóc!
Còn tôi bưng thúng theo đàn bà,
Ra chợ bán văn, ngày tháng qua!
NGUYỄN VỸ
nhưng Nguyễn Vỹ lại gần với tác giả của “Jadis et Naguère” trong bài thơ hai tiếng “Sương Rơi”:
Sương rơi
Nặng trĩu
Trên cành
Dương liễu...
Nhưng hơi
Gió bấc
Lạnh lùng
Hiu hắt
Thấm vào
Em ơi,
Trong lòng
Hạt sương
Thành một
Vết thương!...
NGUYỄN VỸ
Thơ là nhạc. Lời thơ là lời nhạc, cố tranh với nhạc, chập chờn mờ ảo.
Về nội dung, thơ tượng trưng không đề cập đến đề tài xã hội, chính trị (5) mà chỉ chấp nhận những đề tài tam tình và nhiều nhất là đề tài thiên nhiên:
“Người họa điệu với thiên nhiên ân ái”
Nhà thơ có khuynh hướng lãng mạn là Lưu Trọng Lư đã sáng tác một bài thơ tượng trưng rất nổi tiếng vừa diễn tả thiên nhiên, vừa diễn tả nỗi lòng bâng khuâng của người cô phụ:
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?
(Tiếng thu 1937)
LƯU TRỌNG LƯ
Trong thời hậu thế chiến, thi ca tượng trưng đã trải qua hai thời kỳ: thời kỳ bế tắc (1945-1954) và thời kỳ phục hưng (từ 1954 đến nay).
Trong suốt 9 năm chiến tranh, thi ca tượng trưng cơ hồ như bị bóp nghẹt vì mọi cuộc chiến tranh đều phản lại với tinh thần thi ca thuần túy. Tuy nhiên thỉnh thoảng người ta cũng được đọc một vài câu thơ tượng trưng khá hay chẳng hạn như đoạn thơ sau đây (mà chúng tôi quên mất tên tác giả):
Thâm khuê ý thức chong đèn lạnh
Mặt nguyệt tâm tư tròn vẹn gương
Chiếc én thành son chưa đẩy cánh
Nét đau xanh liễu chửa buông tường.
Từ sau 1954, cùng với thái bình, người ta thấy xuất hiện nhiều nhà thơ tượng trưng có tiếng như Quách Thoại, Cung Trầm Tưởng chịu ảnh hưởng của Verlaire và Rimbaud, Đông Hồ, Mặc Thu, Lý Quốc Sỉnh, Nguyễn Huyền Không chịu ảnh hưởng của Tỳ bà Hành (6) và thơ Đường (7), Đoàn Thêm, Xuân Phụng chịu ảnh hưởng của Mallarmé, Valéry...
Quách Thoại từng đóng vai nhà lý thuyết về thơ tượng trưng. Lý thuyết này chung qui cũng đề ra sự “hợp tấu” của màu sắc, âm thanh và mùi hương trong một hình thức mới mẻ:
Ái tình giao tay làm khối lượng
Nghệ thuật nằm trong kiến trúc
Phảng phất lời lẽ một làn hương
Tâm linh bỗng nhiên thành vũ trụ vô lường
Thực tại bao trùm bởi ảo tưởng
Đâu biết màu xanh hay chính ấy âm thanh.
(Hợp tấu)
QUÁCH THOẠI
“Một làn hương... đâu biết màu xanh hay chính ấy âm thanh”. Ta tưởng nghe lạ lời “Hợp tấu” của Baudelaire (8)
Không lý luận, thơ Cung Trầm Tưởng chính là nhạc của thơ tượng trưng, mặc dù những ý tưởng trong thơ Cung Trầm Tưởng mang nhiều dấu vết của thi ca hiện sinh:
Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia ly.
CUNG TRẦM TƯỞNG
Thơ tượng trưng của Nguyễn Huyền Không là thi ca tình yêu đượm vẻ thiêng liêng, siêu hình của Phật giáo. Nhà thơ định tìm sự yên tỉnh trong tâm hồn sau khi đã yêu đương tha thiết nhưng...
Những tưởng hiên thiềng im tiếng khóc
Thôi xưa ngỏ hẹn chẳng trăng nguyền
Lần xâu ngày tháng theo xâu ngọc
Giăng vướng, than ôi, mái tóc huyền.
NGUYỄN HUYỀN KHÔNG
Những “điên đảo cũ” đã hiện lên, khói lửa “cảnh yêu tà” đã dựng dậy, nhà thơ đành trở về với phù thế của chúng ta:
Lòng dượi sụp quì van lạy Phật
Xin về nẻo trước bước điêu linh
Tơ duyên còn rối trong tơ tóc
Kiếp trước chưa thâu trọn lưới tình.
NGUYỄN HUYỀN KHÔNG
Đến “Vườn Mây” (1961) của Đoàn Thêm thì thơ tượng trưng Việt Nam tiến đến một thời kỳ mà ta có thể so sánh với thời kỳ Mallarmé trong thi ca Pháp. Nhà thơ cố gợi cho được cái mùi hương trong thi ca, làm cho người đọc thơ như cảm thấy mùi hương ấy (9)
Khoác áo mùa thu biếc
Đi về lối đẫm sương
Trao xuân tùy gió lộng
Cho cỏ bén mùi hương…
(Giấc Mơ Bồng Đảo)
ĐOÀN THÊM
Nửa giấc đời khuya lay bóng sử
Tắt mơ buông ý lặng giờ xanh
Đêm nay hương ngát, đồng ngân điệu
Nghĩa sống rung mây nở mộng lành…
(Chung Linh)
ĐOÀN THÊM
Thơ Đoàn Thêm có “hậu”: kết cuộc bao giờ cũng tốt đẹp, cũng êm đềm. Đó là một đặc điểm của các nhà thơ cổ điển thuần túy.
“Tôi còn đi xa nữa”, đó là tâm sự của nhà thơ. Chúng ta vui mừng mà gặp được một hồn thơ “dài hơi” có thể góp phần to lớn để đưa thi ca tượng trưng đến một nơi cao đẹp.
Vả chăng các nhà thơ lỗi lạc nhất của thế giới hiện nay hầu hết há chẳng từng chịu ảnh hưởng rất nhiều của thi ca sau tượng trưng Pháp sao?
Chúng ta có quyền lạc quan về sự tiến triển của thi ca tượng trưng Việt Nam.
Sau 9 năm im hơi lặng tiếng, thi ca tượng trưng đang vươn mình chỗi dậy. Chúng ta chào mừng sự hồi sinh của khuynh hướng “thi ca thuần túy”, một khuynh hướng gồm có nhiều thi tài mà “thơ diễn tả bằng tiếng như là một sáng tạo của cái đẹp do tiết điệu: quyền tối thượng để phê phán nó là thẩm mỹ quan. Thi ca chỉ có với tri giác và ý nghĩa đạo đức những tương quan gián tiếp... Nó không có một tương quan gì với bổn phận và sự thật”(Edgar Poé, Principe de la poésie 1850). Quan điểm sáng tác thi ca nói trên của Poé hình như cũng chính là quan điểm sáng tác của các nhà thơ tượng trưng Việt Nam.
Nguồn:
Những khuynh hướng trong thi ca Việt Nam (1932-1962), Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1962, tr.114-139
Chú thích
(1) Que tu viennes du ciel ou de l’enfer, qu’importe, / O Beauté! Monstre esnorme, effrayant, ingesnu! / Si ton oeil, ton souris, ton pied m’ouverent la porte,/ D’un infini que j’aime et n’ai jamais connu?
(2) De la Musique avant toute chose / Pour cela préfère l’Impair.../ Prends l’Esloquence et tords-lui son cou. -- Verlaine
(3) Hãy chú ý đến điệp ngữ và vần trong (rime intérieure) của câu thơ này: vẫn gieo giữa tiếng thứ ba (trong) in tiếng thứ 8 (lòng).
(4) Poésie! Ô Trésor, perle de la pensée! -- Vigny
(5) Một số người nghĩ rằng mục đích của thơ là giáo dục một điều gì đó, khi thì nó phải tăng cường lương tri, khi thì nó phải hoàn mỹ phong tục, khi thì nó phải chứng minh một điều gì hữu ích. Thơ... không có mục đích gì khác hơn là chính nó” (Baudelaire)
(6) Lệ ai chan chứa hơn người?/ Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh (Tỳ Bà Hành)
(7) Thơ Đường cũng rất tượng trưng như “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu, nhiều bài đường thi của Lý Bạch, Đỗ Phủ (Xem “Đường thi và khuynh hướng cổ điển”. Sắp in).
(8) Les parfums, les couleurs et les sons se respondent.
(9) Thơ Mallarmé cố gắng tạo mùi hương: “D’une essence ravie aux vieillesses des roses”
NHẠC VÀ HỌA TRONG THƠ BÍCH KHÊ
Đinh Cường
Nếu nói nhạc và họa có liên lạc mật thiết với thơ, thì trong thơ Bích Khê những tính chất ấy in đậm rõ rệt nhất. Thơ Bích Khê có thể đứng vào dòng thơ tượng trưng, trong đó gồm có đủ những chất huyền diệu và trụy lạc.
Hàn Mặc Tử đã ví thơ Bích Khê như một đóa hoa thần dị, một thứ hương quí trọng thơm đủ mọi mùi phước lộc.
Hoài Thanh ghi: “Tôi đã gặp trong Tinh Huyết những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam:”
“Ô! hay buồn vương cây ngô đồng!
Vàng rơi! Vàng rơi thu mênh mông!”
(Thi nhân Việt Nam - trang 237)
Cũng nên nhắc đến hai nhà thơ mà Bích Khê đã ít nhiều chịu ảnh hưởng là Baudelaire (1821-1867) tác giả “Les Fleurs du Mal” (1825) mà Rimbaud đã gọi là “Nhà tiên tri,Vua thi sĩ, một vì Chơn Chúa “Le premier voyant, Roi des Poètes, Un Vrai Dieu) và Paul Valéry (1871-1945) tác giả tập thơ “Charmes” (1922).
Nhưng “chịu ảnh hưởng với một tài trí thông minh, khiến người đọc chỉ biết phục thiện mà không dám chê. Vẫn biết tài bắt chước mô phỏng ai cũng có thể làm được, song le nếu không phải một chân tài, sự mô phỏng sẽ trở nên vụng về sống sượng”.
(Hàn Mặc Tử - tựa Tinh Huyết, trang VIII)
Với Tinh Huyết tập thơ làm bằng tim, óc, thịt và máu, cũng những ý tưởng thanh cao và tội lỗi. Bích Khê yêu một thể thơ trụy lạc và nghệ thuật đi đến chỗ thắm chín tuyệt đích. Thơ Bích Khê ví như cái cầu vồng, đi từ mầu trắng bâng khuâng đến mầu gay gắt ray rứt, điên cuồng, chỉ khi nào hiểu mới thấy được những mầu kia.
Bích Khê đã phát ra một rung động mới mẻ (un frisson nouveau), thường dùng những biểu tượng (symboles) đã diễn tả - những hình ảnh và những ý tưởng khác lạ có đủ ma lực gợi ra hay làm sáng tỏ đối tượng. Ta hãy nghe Bích Khê bày tỏ sự trần truồng một cách rất thanh tao:
Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ,
Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
(Tranh lõa thể - Tinh Huyết trang 41)
Thi sĩ họa với tiếng, tìm góp mùi hương vào trong nhịp và chữ. Với những hương, những sắc, thi sĩ dùng các biểu tượng “đũa ngọc” để ví với hàng nước mắt, “tuyết” là da nàng, thi sĩ còn thấy nhan sắc lên hương và nhìn mái tóc đen mướt u huyền mà tưởng chừng như đêm đang ngủ mơ. Bài thơ có đủ vẻ huyền diệu, cám dỗ được ngũ quan ta. Và thi sĩ tận hưởng những phong vị của Nhạc, Hoa, Trăng, Sắc một cách thanh khiết, vô tội.
Ngoài hình ảnh tân kỳ, biểu tượng đặc sắc, thơ Bích Khê còn hay về nhạc điệu. Bích Khê coi nhạc điệu là một yếu tố cần thiết trong việc truyền cảm. Bích Khê đã dùng những vần, những tiếng có âm thanh phù hợp với ý để ạo ra một âm điệu thần tình. Mơn man ta như một điệu đàn ngọc, một nỗi buồn rất Đông phương trong bài Tỳ bà:
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Buồn lưu cây đào xin hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông(*)
(Tinh huyết, trang 25)
Lời thơ êm như nhung, buồn tẻ như hoàng hôn, đằm thắm, phát từ những khúc đàn cổ như Lạc Mai Hoa, Hoàng Hoa, Trường hận ca. Cả một trời yêu thương buồn da diết. Nhang âm nhạc vốn là tiếng nói chung, nên Bích Khê lại sành cả những điệu đàn Tây phương nữa. Bài Nhạc dưới đây với vần ý thật mới:
Ô! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc,
Những cánh hồng đơm, - những cánh hồng đơm
Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương;
Màu trăng không gian như gờn gợn sóng.
Từ ở phương mô nhạn mang thơ về,
Đàn thơ cơ hồ lên cung âm điệu.
Đây giây trinh bạch khóc mướt trong mơ;
Đây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ?
Ô! Côi lầu mây ánh gì kim cương,
Áo nàng thơ ngây nao nao gnhee thường.
Thơ bay! Thơ bay vô bàn tay ngà,
Thơ ngà ngà say! Thơ ngà ngà say!
Nàng ơi! đừng động… có nhạc trong giây,
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây;
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,
Ô nàng tiên nương! Hợp nhạc đầy hương.
(Tinh huyết, trang 28)
Tác giả cho ta nghe từng âm thanh trầm bổng, xôn xao, lời thơ mát mẻ và hơi thơ lướt thướt như những bản đàn của Schumann, Beethoven, Liszt...
Và trong bài “Mộng cầm ca” có đoạn:
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của gương hồ im lặng tợ bài thơ.
Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nằng nặng
Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ.
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của hồn thu đi lạc ở trong mơ...
(Tinh huyết, trang 24)
Những chữ lặp lại rất đạt, âm điệu phảng phất như âm điệu nhạc valse trong bài “Harmonie du Soir” của Baudelaire:
Voici venir les temps où vibrant sur sa tige
Chaque fleur s’évapore ainsi qu’un encensoir;
Les sons et les parfums tournent dans l’air du soir.
Valse mélancolique et langoureux vertige!
Chaque fleur s’évapore ainsi qu’un encensoir;
Le violon frémit comme un coeur qu’on afflige
Valse mélancolique et langoureux vertige!
Le ciel est trisle et beau comme un grand reposoir”.
(Les Fleurs du Mal, trang 158)
Nhờ có nhạc điệu, thi sĩ đã truyền sang tâm hồn người đọc một cách dễ dàng, cho nên Bích Khê còn là một nhạc sĩ. Ngoài âm thanh ra, Bích Khê còn làm sáng tỏ đối tượng bằng màu sắc hoặc trừu tượng hoặc cụ thể. Khi thì huyền mơ diễm ảo, khi thì âm u chói chang.
Bích Khê yêu cảm sắc đẹp thắm chín của đàn bà, những âm điệu êm trong cùng những cơn mê ám kỳ dị. Bích Khê đã nói lên những sự thật vĩnh cửu qua tâm hồn mình. Đem những cái nhơ bẩn, những tiếng nói câm kết thành Tình, thành Nhạc; khiến cái vô hình trở nên hữu hình. Bích Khê đã bày tỏ một cách độc đáo, không giống phần đông mọi người, như Valéry đã thấy: “Theo mắt tôi thấy, người ta biết thi sĩ ở những cái mà họ thờ kính và những cái phóng khoáng của họ, những cái không giống phần đông mọi người” (Le poète, à mes yeux, se connait à ses idoles et à ses libertés, qui ne sont pas celles de la plupart).
Bích Khê đã đem vào trong thơ những trạng thái khác thường và đặc biệt của trí não bày tả cái cụ thể rất tầm thường nhưng ta vẫn tìm được một cảm giác mới qua âm thanh rạo rực:
Ô cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm!
… Một bàn chân ve vuốt một bàn chân!
Mát làm sao! mát rợn cả châu thân.
Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực.
Ôi! Thớ thịt có đàn lên cung bực
Hồn tôi ôm gót ngọc, lắng âm thanh…
(Bàn chân - Tinh huyết, trang 48)
Với những mầu sắc mầu nhiệm:
Ô trời hôm nay sao mà xanh!
Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành,
Nhưng mây tê ngời sao kim cương,
Dạ lan tê ngời say men hương;
Lầu ai ánh gì như lưu ly?
Nụ cười ai trắng như hoa lê?
Thủy tinh ai để lòng gương hồ?
Không gian xà cừ hay san hô?
(Nghê thường - Tinh huyết, trang 37)
Thơ Bích Khê là cái hợp đề của muôn vàn sự thắc mắc, xao xuyến trong lòng, trong hồn, trong da thịt, với mầu sắc đậm đà, với âm thanh huyền diệu, đã đem lại cho người đọc một cảm giác hứng thú mà trong đó hồn thơ, điệu thơ, ý thơ đã gây nên bởi cái cảm giác thông minh, thành thực, thơ siêu việt của Philippe Soupault cũng bắt đầu bằng cái thực – Do đó những hồn khát khao nguồn Đẹp tìm thấy ở Bích Khê sự khoái trá vô cùng. “Bích Khê muốn đi đến chỗ người ta thường cho là cao nhất trong thơ tượng trưng: Mallarmé, Valéry”.
(Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam, trang 33)
Bích Khê là một người đã sống, đã đụng chạm tội lỗi và thanh cao, vật dục và tinh thần. Thi sĩ đã hưởng thú trụy lạc đã đắm chìm vào ảo mộng có khi đến phi luân. Nhưng vì “Dù phải bị tử hình hay trụy lạc, thơ không thể hòa hợp khoa học hay luân lý. Thơ không có thực tế làm đối tượng, thơ chí là thơ” (La poésie ne peut pas, sous peine de mort ou de déchéance, s’assimiler à la science ou à là morale. Elle n’a pas la Vérité puor objet, elle n’a qu’Elle – mêne). Baudelaire - Les Fleurs du Mal, trang 23). Đây là cơn mê của người ham khoái lạc, với đôi mắt đỏ ngầu.
Ta vồ người như một miếng mồi ngon;
Miệng ngậm hờn riết chặt lấy môi son;
Mắt đổ lửa lườm qua làn sóng sắc...
Tôi giật nẩy rồi cười lên sặc sặc,
(Xác thịt)
Sắc dục tỏa ra mãnh liệt đến điên cuồng:
Người đã ôm một sắc đẹp trong người
Cho mơ màng cho rạo rực no tươi...
Một tình dục cho miệng sang hơi độc
Đến hả hê nên cười sặc như điên (1)
(Sắc đẹp - Tinh huyết, trang 46)
Chưa đủ, thi sĩ còn muốn cho não cân tẩm thuốc phiện và mạch máu ngấm đầy rượu nồng:
Còn đây! Còn đây! Tiếng rượu hú ma –
Tứ thuốc phiện thu nhập khí mồ; hoa;
Ừ, tội chi ta khong vào địa ngục
Đặng xin nốt ngọc oan ương thề thốt,
Giam chung thân mà sáng quá thiên đường;
Đặng ngủ nhờ một đêm với Xuân Hương…
Baudelaire! Người là Vua Thi Sĩ!
Cho xin trụm bao nhiêu mùi thi vị,
Phà hơi lên, truyền nhiễm thấu trần ai…
(Ăn mày - Tinh huyết, trang 71)
Để rồi:
Rạng mai có kẻ đi về đấy:
Ôi! Người say rượu chết nằm queo!
Ngọc sương nức nở tan thành lệ!
Hơi rượu say nồng vẫn quyện theo!
(Người say rượu - Tinh huyết, trang 54)
Ở những bài thơ này Bích Khê rất giống Baudelaire, như Hàn Mặc Tử đã viết trong lời tựa: “gợi dục tình thì ít mà làm cho người ta ghê rởn đến gớm guốc cái cảnh trần truồng khả ố thì nhiều”
(Tinh huyết, trang 17)
Những Nhạc và Lệ, Đẹp và Dâm cuồng và Ánh sáng và Châu họp lại thành một dòng Tinh Huyết mà Bích Khê đã say mê đắm đuối đến điên cuồng vì thơ:
“Ta là thơ! Phàm tục hãy qui y
Ta sáng suốt chiếu ra mầu Phật tánh”
Sau mấy năm khắc khoải với vi trùng lao Bích Khê đã nằm xuống. Nhưng tiếng thơ Bích Khê ở mãi trong lòng trần gian. Đời Bích Khê ngắn ngủi, buồn đau, tuy được mẹ và chị chìu chuộng. Nhưng dù buồn đau, Bích Khê cũng đã hướng lòng lên cao để đạt đến cái Đẹp và cái Thực. Bích Khê đã sống và chỉ sống vì Thơ. Với thể thơ cao kỳ, thông thái, đầy sự điêu luyện và tìm kiếm, Bích Khê đã mượn tats cả những danh từ riêng, lấy tất cả những nhạc điệu, mầu sắc để diễn tả những lời tâm sự sâu kín của linh hồn, những lời thú thật của sự ham muốn già dặn và những cơn mê ám kỳ dị quanh sự cuồng loạn của thể xác. Bích Khê đã làm đọng lại tất cả những sự vật chung quanh vào trong cái Tinh Hoa thuần túy.
Phải chăng cuộc đời ngắn ngủi và tính cách thuần túy của thơ đã khiến chúng ta mến cảm và yêu thơ Bích Khê? Trong làng thơ Tây phương lắm thi sĩ tiếng tâm lừng lẫy, không phải vì đã bày ra một chủ nghĩa gì. Người ta yêu thơ Francis Jammes, Tristan Derème, Henri de Resgnier vì đó là thơ, thơ của muôn đời.
Nguồn:
Văn, Sài Gòn, s. 64 (15/8/1966), tr. 66 – 73.
Chú thích
(1) Đoạn này trong tập thơ Tinh Huyết bị duyệt bỏ.
TIẾNG THƠ BÍCH KHÊ…
Đinh Hùng
[…..] Tiếng thơ Bích Khê rạo rực những cảm giác ân tình nồng cháy. Từng dòng chữ mê cuồng níu kéo từng dòng chữ. Từng điệp âm vời gọi từng điệp âm. Mỗi tiết nhịp nghe nóng ran từng hơi thở. Mỗi vọng thanh tưởng kèm theo cả một cơn gió rùng mình. Và những đảo ngữ, những chuyển cung, cả những chỗ ngừng chỗ nghỉ cũng làm nên hồi hộp, bất ngờ. Và từ điệu nhiều lúc rạt rào thác lũ, sôi nổi cuồng lưu, cũng có lúc thao thức, quằn quại, da diết như một thân thể đang bừng bừng con sốt bạo hành. Vì lời thơ Bích Khê, từng dòng từng chữ, bất cứ lúc nào cũng tỏa lên sinh khí ngùn ngụt tưởng chừng có thể mọc lên da thịt thực sự.
Đó là THƠ – TINH HUYẾT,
Đó cũng là THƠ – TINH HOA
Trong hai tập thơ, một xuất bản rồi, và một trở thành di cảo (chưa xuất bản), tiếng thơ ân tình của Bích Khê quả thực đều kết tinh bằng máu tủy, não cân, rút từ tim, từ óc, từ hồn, bằng tất cả sinh khí chảy lưu trong xương trong thịt, trong mỗi tế bào, và nghĩa là bằng tất cả tinh túy, anh hoa của đời sống một con người, từ thể xác đến tâm linh. Cái kết tinh ảo diệu mà đau xót đến tuyệt vời đó, phối hợp với cả tâm lẫn vật, cả mộng lẫn thực, cả trừu tượng lẫn cụ thể, từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn, từ cái tột đỉnh thanh cao đến cái vô cùng đục vẩn, từ địa ngục đến thiên đường, cả thần linh lẫn ác quỷ… Vậy thì những trang giai nhân từng dạo qua đời sống Bích Khê, những Người-Yêu-Của-Thi-Sĩ hay là những Người-Được-Thi-Sĩ-Yêu, những Song Châu, Thanh Thủy, Ngọc Kiều… chỉ còn là chất liệu ! Chất liệu, vật liệu hay thi liệu cũng thế. Sự thành hình một hồn thơ tượng trưng như trường hợp Bích Khê là một công trình tự tu, tự tạo gian khổ lâu dài, có thể gọi đó là một cuộc luyện kim (alchimie), một hiện tượng không phải dễ dàng phân tích hay theo dõi. Chẳng rõ Bích Khê có trải qua “một cuộc xáo trộn mênh mông trường kỳ và đạt lý tất cả mọi giác quan” như kiểu nhà thơ thấu thị Rimbaud (un long, immense et raisonnédérè – glement de tous les sens), nhưng tạo được những đóa hoa như TINH HUYẾT và TINH HOA, chắc chắn Bích Khê đã phải sống những phút giây mặc khải tuyệt vời – phút giây xuất thần, phút giây vĩnh cửu – với những cảm giác khoái lạc hay đau đớn ? Ảnh tượng lệ kiều hay quái đản ? Khung cảnh sóng gió hay bình yên ? Đó là niềm bí mật chỉ riêng nhà thơ thấu hiểu, mà có khi đến chính nhà thơ cũng không thấu hội được hết ý nghĩa những đường nét, sắc màu chập chờn, hỗn độn hiện ra trong cơn tột hứng.
Mộng ?
Thiên tài ?
trên hỗn khỏa thân
Đẹp tỉ mỉ, hỡi rung động truyền thần
Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mái…
(Duy tân)
Thi sĩ chỉ biết đó là một Hòa điệu, một Tổng hợp giữa vô vàn chất liệu tinh túy, và cái Đẹp – hay Mộng Ảo, Thiên Tài, Đau Thương, Tình Ái… không phải chỉ có một hình thái, mà sẵn mang thiên hình vạn trạng. […..]
Nguồn
Đinh Hùng, Ngày đó có em, Giao Điểm xb., Sài Gòn, 1967, tr. 64-67.
BÍCH KHÊ VÀ THƠ TƯỢNG TRƯNG
Tam Ích
Hồi tiền chiến, có hai người viết về Bích Khê như sau nầy “... mà thơ Bích Khê, đọc đôi ba lần thì cũng như chưa đọc...” Hai người ấy là Hoài Thanh và Hoài Chân viết trong cuốn Thi nhân Việt Nam. Hồi đó, chiếu thi nhân nhiều người ngồi: có đến mấy chục người – kể cả những người làm thơ ngồi vào đó cho đông. Trong cuốn sách ấy, mỗi người làm thơ chiếm mấy trang phê bình của Hoài Thanh và Hoài Chân. Riêng có Bích Khê chỉ có mấy dòng...
Có ai ngờ vài ba dòng ấy lại là ba dòng rất đúng - đúng vì thơ Bích Khê đọc một lần chưa phải là đọc. Hoài Thanh và Hoài Chân có ngờ đâu đó gần là lời “thú tội” đối với người hiện đã là người thiên cổ, cũng như đối với văn thi giới hai ba chục năm sau đọc lại Bích Khê là hiểu Bích Khê... Nhất là hiểu thơ Bích Khê và cảm thông với Bích Khê. Tôi nói cảm thông, vì người ta cảm thông với thơ, với tranh... Người ta cảm thông với nghệ phẩm, cùng với nghệ phẩm làm một rồi yên lặng trong phi thời gian và phi không gian: cái đẹp không trần truồng trong tưng bừng cũng như không lõa lồ trong những cõi thiếu thông minh, thiếu tế vi... Chẳng hạn là thế! Người đề tựa thơ của chàng là Hàn Mặc Tử và người đề bạt thơ của chàng là Hoàng Trọng Miên: hai người này ngày đó say mê thơ Bích Khê, thật đã không lầm.
Chỉ tiếc rằng thơ Bích Khê sắp ra đời thì chiến tranh lớn lần thứ hai sắp xảy: khí hậu nhân sinh bắt đầu thiếu thăng bằng. Lẽ tự nhiên, người ta quên thi nhân và quên thơ. Có chiến tranh là có quên: văn nghệ thiệt thòi nhiều nhất...
***
Tôi thường nói Xuân Diệu và Huy Cận tiền chiến là thi nhân tượng trưng, thuộc thi phái tượng trưng. Kể cũng hơi ép: vì đây là hai người đi vay mượn của những người làm thơ ở xa xôi lắm: Mallarmé, Verlaine... là những thi nhân của những chân trời mù mù mịt mịt đối với nước non nầy... Đã là kẻ vay mượn thì dù có tài, người làm thơ chỉ có quyền hãnh diện một cách tương đối...
Có mấy người không hề vay mượn mà vẫn là những thi nhân có vị trí riêng biệt trong thi giới: vị trí của những người làm khuôn thước cho mai sau: Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng..., những người “dệt gấm á đông” cho thanh niên tri thức tiền bán thế kỷ (và cả bây giờ): và những thi nhân làm thơ như chạm trổ đồ trang sức của những đời vương giả đã khuất trên sử xanh: Quách Tấn, Đông Hồ...
Chúng ta thêm vào đó hai người có kích thước: Hàn Mặc Tử, Bích Khê... hai người làm thơ tượng trưng và gần như không vay mượn của chân trời mới âu tây một mầu âm thanh nào. Đất á đông vốn là đất phong phú về nhạc tính: nhạc tính là vốn liếng á đông có từ ngàn năm từ muôn thuở: người làm thơ chỉ cần nuôi dưỡng tình ý và nuôi dưỡng tài làm thơ: nhạc tính từ đó vang lên, vang lên...
Ngôn ngữ á đông vốn là ngôn ngữ đơn âm và chứa rấ nhiều thanh... Tượng trưng phát sinh từ đó...
Thơ tượng trưng?
Người ngàn năm sau thường bội bạc với người đời trước và phủ nhận chất trí thức của kẻ đã có mặt trong sử xanh. Đôi khi họ cứ tưởng cái họ tìm ra là cái mới nhất. Họ có biết đâu rằng cách đây bảy tám trăm năm, Dante đã nói về nhạc tính trong thơ: một bài thơ chỉ là một giai âm (Un poème est une composition de mót disposés d’une manière musicale). Ly khai với nhạc tính, thơ chỉ còn là một nhan sắc trơ trẽn, thiếu duyên. Mô phật! Văn học Việt Nam nếu rất phong phú thì có lẽ chúng ta đã chẳng cần mượn cái ông trạng Trình để hãnh diện mà cũng chẳng phải mời chàng Lê Thánh Tôn lên làm “nguyên súy” của cả một hội Tao đàn: cái ông này chễm chệ lên ngồi đó rồi ngày sau con cháu vẫn rộng lượng như rộng lượng với bất kỳ một người đã chết nào:
Ngán ngẩm việc đời chi nói nữa
Bên đầm say hát nhởn nhơ chơi.
Của Trạng thật quả tình chưa làm rung động được bất kỳ một hồn thơ nào! Một Bích Khê mới gần hai mươi tuổi làm thơ đường luật cho Phạm Quỳnh và Huỳnh Thúc Kháng đăng cách đây hàng gần nửa thế kỷ, còn làm lòng người bâng khuâng và đìu hiu hơn nhiều...
***
Bỗng nhiên, đời nhà Đường bên Tàu xưa, có một ông Trẩm Dự đem cái mớ bằng trắc ra ngăn mọi hướng của lòng người của tình người... rồi gọi nó là âm luật. Ở đời, thật không có ai dại dột hơn là người lấy khuôn thước để đo tình người, lòng người, ý người! Trong thơ có cả một vạn nẻo và một ngàn lẻ một... lối và hướng: cái ông Trẩm Dự ấy có ngờ đâu những bài thơ hay nhất lại là, ngoài một số thơ đường luật, những bài cổ phong và bài từ. Và có ai ngờ thơ tự do ngày nay lại cũng chỉ là một loại... từ. Tôi có một ông bạn ở lâu năm bên Pháp mới về, và vốn lại là người yêu thơ và mơ thơ, hay hỏi tôi về thơ và... thơ. Tôi nghịch ngợm chép bài Tống biệt và đưa cho xem, nói dối rằng đó là của Đông Hồ và Thanh tâm Truyền cùng chung làm... Đọc xong, anh cho rằng không ngờ thơ tự do mà lại có bài hay đến vậy. Tuyệt tác! Tuyệt tác! Đến lúc tôi nói rằng tác giả bài ấy là Tản Đà và bài ấy đã có từ một thuở xa xôi lắm và là một bài từ ngắn, ông bạn tôi mới ngã cả cái con người ra. Rồi ông đâm ra thẫn thờ và không hiểu giữa từ và thơ tự do, biên giới ở đâu? Kể ra tôi có một ông bạn thơ cũng hơi quá đáng! Nhưng biết làm sao!
Sự thực, chỉ có vấn đề hay và dở! Và nhạc tính trong thơ.
***
Nhưng Bích Khê không phải chỉ là người làm thơ đường luật, thơ cổ phong và từ một cách rất tượng trưng. Một hôm, chàng ly khai với thơ cũ và trưởng thành trong những nhịp thơ mới: nhịp của những Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận... Người của thời mới có nhịp mới. Bích Khê, thi nhân tượng trưng của thơ Đường, trở nên thi nhân tượng trưng của thơ mới. Thời làm sao, người làm sao, nhịp làm vậy: câu thơ chỉ là phản ảnh của cá tánh nhìn qua một thứ quang tuyến... Mariane Moore, một nữ thi bá của Mỹ, nói đúng lắm: “Le rythme est la personne, la phrase n’est que la radiographie de la personnalité”. Cùng với những thi nhân tiền chiến, chàng sáng tạo lại (recréation) âm thanh của chàng trong một số thi tiết mới. Tôi chưa hiểu mấy câu thơ sau đây là thơ mới, hay thơ tự do, hay thơ siêu tự do.
Mâm vàng đây, đũa ngọc đây
Tiệc hoa sáng,
Rượu chung đầy
Trông ra mây nước muôn trùng biếc,
Nước ái non tình bóng nguyệt rây.
Tiếp ly cạn, cạn ly đầy!
Năm con một vợ ngồi vòng xây
Nhạc chim thanh tước rót về đây
Đổ vàng cành lá lục.
Nâng chén tinh ròng
Ca một khúc:
Tiệc hoa hề, chén ngọc hề,
Giang hồ vút cánh sau chung rượu,
Năm vẻ rồng bay ánh sắc mây;
Vàng ròng bạc tốt trong tay trắng,
Danh nghĩa cao sang tợ mặt trời.
Tiếng xe rổn rảng sau bờ trúc,
Bóng vợ bóng con lẩn bóng cây;
Đông liễu tây đào ngồi khép nép,
Nẻo xuân rủ gấm phủ hoa đầy…
Mình ơi!
Rót chén này
Nụ cười Bao Tự điểm xuân ngây,
Rạng màu yến tiệc ngọc lung lay.
Xa xa dường thoảng tiếng châu reo:
Dặm cỏ
Ven đồi
Hoa lác đác,
Ngựa ai rung lạc tiếng trong veo.
Đó là thơ vậy.
Vả lại thơ Bích Khê - trong bao nhiêu bài thơ như vậy của con người tài hoa bạc mệnh: thơ là sự phối hợp của âm thanh – thơ là sự tràn trề của tình ái, nhiều nhịp, nhiều khúc, nhiều hướng, một ngàn lẻ một đêm nhiều trăng sao, thiếu trăng sao buồn như nước mắt, buồn như những nỗi, những mối, những ngổn ngang, buồn như tha ma mà không buồn như tang, buồn như rượu nồng, buồn hề, buồn đũa ngọc mâm vàng... buồn một thứ thê thê không gây đam mê, buồn của kẻ ngắm cái đẹp, thưởng ngoạn rồi một đi trên một ngàn lẻ một hướng...
Ngàn năm mới thường có một thuở... thơ như thế. Cũng như ngàn năm một thuở Nguyễn Du trong Truyện Kiều; một thuở Tình quê của Hàn Mặc Tử; một thuở Tống biệt và Cảm thu của Tản Đà, cũng như ngàn sau về ngàn xưa có Hoàng Hạc Lâu của thi bá họ Thôi... Chẳng hạn.
Những nghệ sĩ - theo cái nghĩa chân chính của nó – của cả loài người cũng như của riêng một dân tộc nào đó, đều có một nếp sống, một tác phong tư tưởng và tưởng tượng... một mình một cõi, không giống ai. Họ sống khác người mà khi buông xuôi hai tay, họ cũng không giống thiên hạ. Cummings gọi nó là “unicité”. Có người gọi tác phong ấy là độc đáo. Tôi thì tôi gọi nó là cái một. Ai đã gần Bích Khê đều thấy chàng có cái một ấy. Cả một đời Bích Khê, chàng trung thành với cái một ấy; và không muốn ai chạm đến cái một của chàng – cho đến ngày chàng nằm xuống, một đi... Tôi xin nói lại: cái một ấy, chàng nâng niu nó, nuôi dưỡng nó... đến cái trình độ người ta nhìn chàng như nhìn một ngôi sao lẻ tránh một ngàn lẻ một ngôi sao khác để đi con đường hành tinh riêng của mình. Thi nhân họ bướng bỉnh và ngửa nghiêng như vậy: ai lại gần được Bích Khê thì lại gần được Edward Cummings, một nhà thơ trứ danh của Mỹ hiện thời. Không ai hiểu được Cummings, không ai chịu nổi Cummings vì không dám chạm tới cái một trong đời sống cơ thể, tinh thần và trí thức ngược với tất cả những công thức giả đôi của đời sống; không ai thương Cummings... Nhưng hiện thời Cummings đứng hàng đầu trên chiếu thi nhân Âu Mỹ... Về cái một của Cummings, chàng thường nói: “Eetre un individu c’est surtout reconnaitre une valeur sacrée à I’unicité de tout eetre humain, sauvegarder cette unicité et se battre sans cesse pour l’affirmer”. Ý Cummings muốn nói rằng cái độc đáo của một cá nhân có một giá trị thiêng liêng, đã là con người thì phải bảo vệ cái độc đáo ấy và tranh đấu để cho nó phát hiện. Cummings nói về con người như vậy, nhưng ông áp dụng vào ông nhiều nhất, và trước hết.
Và chúng ta thêm vào đó một người: Bích Khê.
Ngày nay Bích Khê đã khuất, để lại cho chúng ta một sự nghiệp làm Hoài Thanh, Hoài Chân chưa kịp đọc... Chị ruột chàng là bà Ngọc Sương vẫn đọc; anh rễ chàng là lạc Nhân Nguyễn Quí Hương vẫn đọc; bạn chàng là tôi vẫn đọc; cháu chàng là Nguyễn Lê Thu An, một thiếu nữ tuổi đôi mươi đương làm thơ chờ ngày ra đời và có mặt trong thi giới, cũng vẫn đọc... nhiều lần.
***
Nhưng tượng trưng là gì chứ!
Cũng mãi vài chục năm nay, người ta mới hay nói đến danh từ tượng trưng. Thực ra, danh từ ấy là dịch chữ “Symbolisme” của văn học Âu tây. Vậy tượng trưng trong văn thơ là gì? Nói cho đúng, thật khó nói: có người cho rằng tượng trưng là một thực thể thần bí và tượng trưng vọng từ cõi thông minh của Á đông... Có người cho rằng vấn đề tượng trưng chỉ là một vấn đề kỹ thuật trong thơ: một vấn đề bằng trắc và thì tiết... Có người nữa lại cho rằng thi nhân tượng trưng là người đi “lột” ngôn ngữ của họa, nhạc, điêu khắc... để áp dụng vào thơ, và nhà thơ tượng trưng tìm nguyên lý của vận văn trong tinh hoa của âm nhạc. Nói một cách khác: nhạc tính là yếu tính của thơ... Còn có người khác nữa lại cho rằng thơ tượng trưng là một thứ thẩm mỹ siêu hình (esthétique mestaphysique)...
Ấy đấy! Những người nói khác nhau về thơ tượng trưng như vậy đều là những thế lực trong thi giới Âu Mỹ; và đã vậy thì chúng ta cũng khó mà tổng hợp được một ý tưởng chung về tượng trưng trong thơ.
Nhưng dù khó mà nói cho ra thế nào là thơ tượng trưng, chúng ta cũng nhân thấy mấy điều. Một là nguyên lý của thơ tượng trưng là nhạc tính – hơn thế: tinh túy của âm thanh. Hai là phảo có tài mới làm được thơ tượng trưng. Remy de Gourmont, một nhà văn và là một nhà tư tưởng hiện đại kích thước cỡ âu châu đã nói: “Il y a deux classes d’écrivains, ceux qui ont du talent – les symbolistes; ceux qui n’en ont pas – les autres”. Ý ông muốn nói rằng chỉ có hai hạng văn thi nhân: một hạng có tài là văn thi phái tượng trưng, còn một hạng nữa là hạng không có tài: hạng không phải là văn thi phải tượng trưng. Ý tưởng ấy là một ý tưởng hơi quá đáng, nhưng nó cũng phản ảnh được thái độ của văn giới đối với thi phái tượng trưng.
***
Có tượng trưng Âu Mỹ. Cũng có tượng trưng Á Đông. Tôi nghĩ rằng về thì phái tượng trưng Á đông - thuần túy Á Đông - chúng ta có hai đại diện: Bích Khê và Hàn Mặc Tử.
Tự thuở rất xa xưa, người làm thơ đã làm nhạc. Ngày nay, những ngày rất mới này, những nhà thơ tự do bây giờ cũng vẫn tạo cho họ một nếp nhạc tính mới. Nhạc không phải là một thực thể thẩm mỹ (entité esthétique) cố định muôn đời chỉ có một, mà là một thức thể tiến hóa theo thông minh của con người: nhạc không phải là âm thanh bằng trắc của cuối thế kỷ thứ mười chín trở về trước, mà cũng chẳng phải là âm thanh riêng trong những thính đường âm nhạc của một địa phương nào bây giờ.
Lịch sử vẫn đi cái nhịp của nó: chờ coi người của thế hệ sắp tới sẽ đòi hỏi cho tính giác một thứ nhạc tính mà hiện thời rất có thể là chúng ta đương... từ chối: Chứ sao!
Chỉ có người làm thơ giỏi và người làm thơ dở mà thôi.
Cũng như chỉ có thứ hay và không hay.
Có lẽ Remy de Gourmont muốn nói rằng chỉ một thứ thơ có nhạc tính và một thứ thơ khô khan - nghĩa là một thứ thơ thiếu sáng tạo (création). Và ý tưởng ấy là một ý tưởng nói cho cả một thuở, cho cả ngàn năm... Cứ nghe thi bá Dante là người của thuở rất xa xưa nói thì rõ, và chúng ta có thể kết luận với Dante rằng: thơ tượng trưng có từ thuở có thơ. Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu... đã là thi nhân tượng trưng, vì thơ của các thi bá ấy đọc lên nghe như những giai âm: những câu thơ... Bạch vân thiên tải không du du. Tình xuyên lịch lịch hán dương thụ. Phương thảo thê thê canh vũ châu là gì, nếu không phải là nhạc trước tính giác người đời xưa, người ngày nay và cả người mai sau...
Chẳng có Baudelaire... thì chẳng có Valéry và Valéry vẫn hãnh diện rằng mình là đứa con lộng lãy cuối cùng của dòng họ tượng trưng bên Âu Mỹ. Còn Jacques Prévert không bao giờ từ chối thơ ông là nhạc. Từ ngày Bích Khê làm thơ, chàng đã chú trọng đến nhạc tính: bài thơ đường xưa nhất và bài thơ dài dài ngắn ngắn hay loạn nhất của Bích Khê sau nầy vẫn là những bản đàn quen tai và lạ tai.
Chiến tranh thường vạch biên giới, cho nên bỗng nhiên Bích Khê đứng ra một bên. Thực ra đừng có việc những người gây lộn với những người, thực ra nếu ai cũng rủ nhau đi tắm mát, lên nền Vũ vu hóng gió, rồi hát mà về... như ở một thời thịnh trị thái bình nào đó trong giấc mơ của thầy tăng Điểm thì những thi nhân như Bích Khê, đương có mặt đâu đây, sẽ có mặt đâu đây...
Nhất là bên chàng có một người rất có thế lực cũng làm thơ đầy nhạc tính Á đông – tôi nói lại: nhạc tính Á đông – cho người Việt Nam là người Á đông đọc: Hàn Mặc Tử.
Nguồn:
Ý Văn I, Nxb. Lá Bối, Sài Gòn, 1967, tr. 142-155.
BÍCH KHÊ
Nguyễn Tấn Long
[…….] (1)
Hàn Mặc Tử đã có cái nhìn quán xuyên thế giới thơ của Bích Khê khi ông ghi lại những dòng sau đây trong bài Tựa tập Tinh huyết.
“Ta có thể sánh thơ của Bích Khê như đóa hoa thần dị. Và đem ra phân chất, ta sẽ thấy thơ chàng gồm có ba tính cách khác nhau:
1. Thơ tượng trưng,
2. Thơ huyền diệu,
3. Thơ trụy lạc.
Hoàng Trọng Miên cũng đồng quan điểm, nhưng lại vẽ đậm nét sắc thái thứ ba (thơ trụy lạc):
“Tinh huyết vang dội một nỗi đau khổ tuyệt vọng phủ qua màu sắc trụy lạc ồ ạt như muốn chảy tràn vào đường gân, mạch máu của tôi.
Bích Khê phô bày trần truồng những cơn ham mê, khoái lạc bão táp cuồng loạn trong tâm hồn, xác thịt ra trên mặt giấy trắng tinh, nên nhiều vần điệu dính đầy máu tủy.
Sắc dục bay tỏa trong thơ chàng mãnh liệt, mùi hương nồng đượm tài hoa. Những đau đớn, tuyệt vọng, oán hận, điên cuồng nung nấu máu huyết chàng tràn ứ ra những lời thơ đam mê, khát khao, bồng bột, chói rực lạ thường.”
Khi bước chân vào dòng đời, Bích Khê đã ghi ngay tâm tư của mình cho hậu thế trong bài Nấm mộ và Đề bia trước mộ.
Đó là nhân sinh quan của nhà thơ. Một đôi mắt đang đối diện với thực tại của cuộc hiện sinh:
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử! (Cổ thi)
Tự ngàn xưa, ai đã sống mà không chết: Sớm muộn gì cũng chỉ là:
Trăm năm còn có gì đâu?
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì!
(Đoạn trường tân thanh)
Nếu quan niệm “sinh ký tử qui” là đem cuộc sống thả vào dòng thời gian, phó mặc cho định mệnh; họ chấp nhận sự sinh tồn theo luật đương nhiên của vũ trụ. Tinh thần của họ vì đấy mà bình thản trước cái Sống và cái Chết.
Với nhà thơ Bích Khê, chúng ta thấy thi nhân đã làm chủ cái Sống và cái Chết của mình. Khi sống thi nhân đã hưởng thụ tất cả những gì mà người cho là nguồn sống, và lúc chết, thi nhân lại gởi vào cõi sống những tâm tư của mình, để nguồn tâm tư ấy sống mãi trong lòng nhân thế.
Vậy thì đối với thi nhân chết không có nghĩa là mất, mà chỉ là làm một chuyến “tiêu dao” rồi cũng vẫn trở về với lòng nhân thế. Ta hãy nghe thi nhân đưa ra ý niệm ấy:
Mây tuyết thời gian bay tợ nhạc
Hồn tôi đã thoạt để tiêu dao. (Nấm mộ)
Đời người là một thoáng thời gian mà thi nhân hình dung như một đám mây trắng trôi trên khung trời xanh, chập chùng như điệu nhạc, trong đó gói ghém đủ sắc thái tâm tư.
Điệu nhạc thất tình lục dục của con người, ai cũng đều trải qua trên đường tơ thời gian ấy. Nó là biểu tượng cái tinh thần đã sống của con người! Khi bản nhạc đời chấm dứt là lúc chúng ta phải rời khỏi phòng nhạc.
Tuy nhiên, khi vừa rời phòng nhạc, dù muốn dù không cũng đã mang trong người ít nhiều cảm giác. Thi nhân là người đã trao lại cho kẻ đến sau những cảm giác ấy. Đám mây rồi tan, điệu nhạc rồi dứt, những cảm giác tồn tại trong lòng thời gian:
Những tờ thơ nát đầy hơi hám
Tay khách đa tình sẽ chuyển trao. (Nấm mộ)
Hỡi người đời! Ai đã từng bảo kiếp người là “phù thế”, là “bóng câu”, là “tên bắn”, hãy đến trước mồ thi nhân xem những dòng đã ghi trên mộ chí, do thi nhân tạ tay đề cho mình trước khi chết:
Đề bia trước mộ
Thân bệnh: ngô vàng mưa lá rụng;
Bút thần: sông lạnh ánh sao rơi,
Sau nghìn thu nữa trên trần thế
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi. (Từ tuyệt).
Trang tử nằm mơ thấy mình hóa bướm, khi tỉnh dậy chưa biết mình là Trang tử hay là bướm. Đời người là cõi mộng? Phải! Nó là cõi mộng, nhưng theo thi nhân, trong cõi mộng ấy lại có cõi thực! Kẻ nào sống với những gì mất mát tức là sống với mộng, và cũng có nghĩa là họ đang chết! Kẻ nào sống với những cái vĩnh cửu tức là họ sống với thực, và chẳng chết bao giờ!
Ngô đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng bi thu.
(Ngô đồng rụng một lá
Thiên hạ buồn thu qua.)
Lá ngô đồng rụng để tiễn biệt một mùa thu, không có nghĩa là tình thu bị tiêu diệt. Mùa thu qua, tình thu vẫn còn đọng lại. Một vệt sao rơi trên dòng sông lạnh, vệt sao mất, nhưng hình ảnh rực rỡ trước khi tắt của ánh sao vẫn lưu lại với dòng sông.
Vậy thì người đời nên thấy cái tạm bợ, cái gì bất diệt để phân định đâu là mộng, đâu là thực.
Bích Khê đã tìm cõi sống nghìn thu, cõi sống ấy ở ngay trong trần thế! Bởi vì có ai dám quả quyết rằng sau nghìn năm nữa, ở thế gian này không có một kẻ nào ngồi dưới bóng trăng mà ngâm lên những tiếng lòng, những cảm giác của thi nhân đã lưu lại trên “những tờ thơ nát đầy hơi hám” kia! Nếu có kẻ làm như vậy, ai dám bảo Bích Khê đã chết?
Mùa thu này, thi nhân cảm thấy ý sống mình đang tràn dâng, và muốn trải sức sống ấy vào lòng nhân thế:
Rồi những mùa thu vô hạn thương
Trở về dưới biếc chập chờn hương
Mùa thu ám ảnh nhà thi sĩ
Muốn thổi tiêu vàng giữa khói sương. (Nấm mộ)
Nghìn thu trước và nghìn thu sau ai bảo là xa cách khi tâm hồn cùng rung lên một nhạc điệu? Không ! Tâm tư con người vượt ra ngoài thời gian và không gian để trường cửu. Nghìn thu trước lá ngô đồng rụng tiễn thu, khói biếc xây thành, rặng liễu khóc sương, thì nghìn thu sau vẫn với lá ngô đồng rụng tiễn thu, khói biếc xây thành và rặng liễu khóc sương. Những ai đó không thay đổi, tại sao không có một thi nhân ngồi giữa trời thu thổi lên tiếng tiêu hòa theo gió như một thi nhân nghìn thu trước đã làm?
Hỡi thi sĩ của nghìn đời! Cái gì ngăn cấm được dòng tâm tư của chúng ta! Kìa, mùa thu đã về! Hãy nâng chiếc tiêu lên họa cùng hơi gió:
Gió tiêu sẽ quạt buồn thanh tịnh
Về chốn thôn già viếng mả tôi
Đầy cỏ xanh xao mây lớp phủ
Trên mồ con quạ đứng im hơi.
Mây thu buồn trĩu thấp, thảm cỏ úa xanh xao là biểu tượng một mùa thu; và con quạ đen ngòm đứng trên mấn mồ kia phải chăng đang chứng kiến tâm tư con người âm ỉ sống giữa thời gian và không gian, một nguồn sống muôn thuở của người không bao giờ chết?
Phải chăng những suy tư trên đây đã ảnh hưởng đạm vào luyến ái quan và thi nghiệp của Bích Khê sau này?
Bây giờ chúng ta hãy bước vào dòng tâm tư của thi nhân.
Nhiều người đã đem so sánh cuộc đời thơ Bích Khê và Hàn Mặc Tử - đôi bạn gần gũi nhau cả cuộc sống lẫn cõi chết – chúng ta không thể phủ nhận điều đó.
Nếu Hàn Mặc Tử xem sự vật trên đời chỉ là biểu tượng của tâm hồn, và những Mộng Cầm, Mai Đình, Thương Thương... (trong thơ Hàn Mặc Tử) là những hình bóng để thi nhân dựa vào đó khai thác những cảm nghĩ say sưa của tâm hồn; thì với Bích Khê những Song Châu, Bích Thủy, Ngọc Kiều (trong Tinh huyết) cũng chỉ là những thể chất tượng trưng cho cái đẹp trong tâm hồn mình.
Thi nhân tìm cái đẹp, nhưng không thuần túy ở thể chất. Cái đẹp ấy từ thể chất bốc ra, chuyển sang cảm giác, rồi vươn lên một bực để biến thành cái đẹp của tâm linh.
Hàn Mặc Tử đã nói về Bích Khê:
“Sự phát triển bồng bột quá, dồi dào quá, sẽ đưa linh cảm chàng đến một địa hạt siêu thần hơn; thơ chàng cũng như hồn chàng, sẽ qua hết những không khí nhiệm màu, bay cao đến tột cùng của Nước Trời hay chìm đắm xuống đáy sâu Địa ngục.
“Sự điên cuồng ấy sẽ uyên nguyên ở một phần thiên tài, và ở một phần của “Đau khổ”. Chàng là người đã “sống”. Những tình cảm sâu xa dù là cõi tiềm thức đi nữa, cũng đã hơn một lần nảy nở rồi...”
(Trích lời tựa Tinh huyết)
Nhận xét của Hàn Mặc Tử quả đúng với trạng thái tâm thần của Bích Khê, con người từng sống qua một thứ tình cảm đã ăn sâu tận tiềm thức.
Hình tượng bên ngoài kích thích cảm giác, thi nhân liền đưa hình tượng ấy vào tiềm thức để khai sinh cho hình tượng một sắc thái mới: sắc thái tượng trưng. Cho nên các nhà thơ tượng trưng không tìm cái Đẹp ở thực thể, mà đi tìm cái Đẹp siêu việt trong thực thể.
Hàn Mặc Tử nói:
“... Tình cảm càng giàu sang bao nhiêu, tâm hồn chàng càng thanh thoát bấy nhiêu. Tư tưởng vì thế nhiều khi biến đổi bất thường, tin tưởng đó rồi lại ngờ vực liền. Với thời gian, trí tuệ sẽ tiến hóa, đi tới một mực quá khích, lay chuyển hết các sợi dây thần kinh trong người thi sĩ, xô đẩy thi sĩ đến những bến bờ xa lạ của cảm giác, đăm chiêu sa ngã vào sự khoái lạc của thần hồn cũng như của thể xác. Ở những miền thú vị chưa khai phá, thi sĩ sẽ nhờ sức trụy lạc đưa đẩy tới. Là vì luôn luôn, thi sĩ khát khao hoài vọng cái mới cái đẹp, cái gì rung cảm hồn phách chàng đến tê liệt, dại khờ, dù là cái đẹp ấy là cao cả, hay đê tiện, tinh khiết hay nhơ bẩn, miễn là có tính chất gây nên đê mê, khoái lạc...”
(Trích lời tựa Tinh huyết)
Với nhận xét trên, Hàn Mặc Tử đã thấy rõ yếu tố căn bản của nhà thơ Bích Khê là vay mượn cái đẹp cảu hình thể, dùng cái đẹp của hình thể kích thích tâm linh để thoát ra ngoài hiện hữu.
Cho được rõ ràng hơn, Hàn Mặc tử thêm:
“Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu...”
Như thế có nghĩa là Bích Khê đã sống bằng sự rung chuyển của tâm linh qua sự va chạm tuyệt đối của cảm giác.
Khi nhìn người yêu có đôi mắt đẹp, thi nhan vượt lên cái đẹp hiện hữu, đưa cảm giác mình vào cõi mộng đến độ lúc nào cũng bắt gặp đôi mắt ấy ẩn hiện trong mây, trong gió, trong hoa, trong lá, và bàng bạc khắp ngoại giới, bao trùm cả vũ trụ tâm linh.
Bỗng đôi mắt hiện hình – Đôi mắt ngọc
Ôi đôi mắt! – Toàn thân tôi rởn ốc!
Toàn thân tôi tràn ngấm vị say sưa
Và cảm giác và khoái lạc, xô bồ
Làm rung động cả tinh thần khí phách! (Đôi mắt)
Sự truyền cảm hình ảnh của đôi mắt quá mãnh liệt, đưa thi nhân đến một trnagj thái hỗn độn. Người rùng mình trước sự xuất hiện đột ngột của ánh mắt, nhưng khi hình ảnh được lọc qua cảm giác, tức là khi cảm giác nhận chân được hình tượng hằng mơ tưởng, liền tỏa dần ra một khoái cảm say sưa. Các dây thần kinh rung chuyển đến mức độ không còn thấy thực thể ben ngoài nữa, nó đã biến thành một thứ ngọc thạch, một thứ ánh sáng thiên thần, một thứ âm thanh trong suốt, những thứ ấy tác động mạnh ở tâm linh giới, đến độ tiềm thức không còn nhận được chân thân của nguyên thể:
Hỡi đôi mắt! nơi người là ngọc thạch
Nơi giếng người phản chiếu ánh thiên thần
Nơi suối người giữ kín tiếng châu ngân
Nơi triển lãm cả một bầu tiên động
Nơi rung rinh cả một trời thơ mộng
Người là ai? Người hỡi! người là ai? (Đôi mắt)
Khi hình bóng đã bước vào địa hạt tâm linh thì không còn là thực thể nữa. Đôi mắt không còn là một cặp nhãn cầu vật chất của nhà giải phẫu, mà nó trở thành một ảo hình liên tục quay cuồng làm lệch lạc sự nhận thức bình thường của cảm giác, dẫn đến một trạng thái tâm thần chơi vơi như lạc vào cõi hư vô.
Những cảm giác bàng bạc trong tâm linh tỏa ra muôn hình, vạn ảnh, tràn ngập trong tưởng tượng người thơ:
Nhạc khiêu vũ đâu đây làn sóng múa
Tôi tưởng chừng... da thịt biến ra thơm
Những đầu lâu rã hết khí xanh dờn
Những xiêm áo bay rờn trong cảnh mộng
Cả địa ngục đi vào trăm lỗ hổng
Bắn tinh ra trộn trạo giữa nguồn hương. (Đôi mắt)
Chúng ta còn làm sao hiểu nổi trong tâm linh giới của thi nhân, khi mỗi cử động của đôi mắt đều khua dậy một nhạc điệu Nghê thường làm tan biến cả thể xác, áp đảo mọi hình bóng đang chờn vờn trong vùng ảnh hưởng của nó buộc hình ảnh ấy phải nô lệ cho cái đẹp nhất của tâm linh.
Hỡi đôi mắt châu báu của muôn đời
Cho lòng ta ấp yêu nguồn suối lệ
Hồn ta say trong nhạc vàng kể lể
Tình ta dâng trong gợn sóng thu ba
Cả máu đào tủy trắng với xương ma
Cùng tinh loãng và bao nhiêu bảo vật
Để xây đắp bàn thờ cao chất ngất
Lút mây xanh và lút cả thiên thai… (Đôi mắt)
Đừng tưởng. Những máu đào, tủy trắng, xương ma không còn là những thứ làm cho người ta ghê rợn nữa, đối với thi nhân, nó đã biến thành bảo vật quí báu cần cho sự cấu tạo cái Đẹp đáng phụng thờ kia.
Qua lăng kính tượng trưng, những thực tể kinh tởm được chuyển thành cái Đẹp mà thực thể chỉ còn là hư không.
Bỗng đôi mắt rưng rưng dường rớm khóc
Nhưng cười nụ trong màu hoa ánh ngọc:
Ta là CHÂU! Thi sĩ! Ta là CHÂU! (Đôi mắt)
Đôi mắt chực khóc, thi nhân không cảm nhận u buồn mà lại thấy nó đang cười nụ trong ánh sáng của màu châu ngọc, con người vật chất của thi nhân bỗng biến thành châu ngọc để hòa tan trong ánh sáng long lanh của giọt lệ.
Những thể xác thường tình, những bóng sắc hiện hữu đã được thi vị hóa đến độ không còn hình ảnh rõ rệt. Chúng ta chỉ thấy lờ mờ trong hào quang – chúng tôi muốn nói thực thể bị bao trùm trong tưởng tượng của thi nhân – tỏa ra ngàn vạn sắc hương:
Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới
Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong
Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng
Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng
Trong vòm xanh. Màu cưới màu bình lặng,
Gây phương phi: chiếu sáng ngả sang mờ
Vì hình dung những sắc mát, non, tơ,
Như mặt trời lọc qua khóm liễu, một
Hoàng hôn - Ôi đàn môi, chim báu tớt:
Chữ biến hình ảnh mới, lúc trong ngâm,
Chữ trong vắt sánh nghệ thuật sầu câm
Đầy thẩm mỹ như một pho thần tượng.
Ví dụ, xuất hiện một chiếc sọ người, chúng ta chưa kịp rùng rợn vì hàm răng nhe như tinh ma, những lỗ hổng sâu ngòm gớm ghiếc, thì thi nhân đã vội bảo chúng ta đấy là bình vàng chén ngọc, chứa đầy chất ngọt ngào say sưa, uống vào ngát lịm người đi, cả chất óc đều thơm tho, ngào ngạt.
Chúng ta không còn thấy cái sọ người ở đây nữa. Nó không còn gieo cho chúng ta ý nghĩ rùng rợn của chết chóc, những cảm giác hãi hùng kinh tởm, một chứng tích tàn phá của thời gian, mà nó biến thành khối mộng, buồng xuân, hồ nguyệt. Nó thơm tho, tinh khiết, cao quí đến nỗi khiến chúng ta muốn nút hết chất vị ngọt lịm ở miệng, những gì mát mát ở mắt, ở những lỗ hổng chứa đầy trăng sao...
Ở một bức tranh lõa thể, sự trần truồng, dâm đãng không còn là thứ khả ố làm chúng ta xốn mắt, khó chịu; thi nhân đã biến thành sắc thái ấy qua ý vị thơ, của hương, của nhạc, của tuyết, của ánh sáng:
Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ,
Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làn môi. (Tranh lõa thể)
Trong “Tranh lõa thể” của Bích Khê trích trên đây đã được Hàn Mặc Tử nhận xét:
“Trực giác của thi sĩ mạnh quá đến nỗi thấy nhan sắc lên hương, thấy cả bóng nghê thường đương nao nao gợn, và so sánh hai hàng nước mắt trong trắng của Nàng là hai chiếc đũa ngọc. Và thấy mái tóc u huyền xinh như một mùa thu mươn mướt, thi nhân bảo đấy là đêm đang ngủ mơ...
Nếu chẳng phải là một nghệ thuật siêu thần, thi nhân làm sao đưa đến một nguồn sống phong tình mà thanh khiết cho giai nhân? Để có cái ma lực huyền diệu cám dỗ được ngũ quan của người trần...
Sự say mê, tìm kiếm những nguồn hoan lạc vô biên đã dần dần đẩy thi nhân vào bờ bến của Huyền diệu. Ở đây, sự mường tượng của thi nhân lại dồi dào hơn nữa, người ta chỉ gặp toàn âm thanh đương ngã ngớn, với muôn thứ xạ hương bay lẳng lơ trong lồng nhạc, trong khi có hằng hà sa số là ánh hào quang va vào hồn hoa, chạm nhằm không khí lạ. Không có sự say đắm nào ở phương xa, hay sự mong nhớ nào cách biệt mà không đến đây để sum vầy, gây nên cảnh tượng đoàn viên của một mùa thơ, mùa trăng bát ngát...”
Mặt khác, chúng tôi lại thấy thi nhân chẳng những chỉ đưa cảm giác vào tâm linh, biến thực thể thành mộng ảo, ca tụng cái Đẹp, mà còn lăn xả vào cái Đẹp để thụ hưởng một cách say sưa, cuồng nhiệt.
Đây, ta hãy nhìn thi nhân qua sự điên dại, kiệt quệ của thân xác:
Hỡi đôi mắt! hồi hộp? hay yêu thương?
Hay sầu hận? hay điên cuồng? chán nản?
Người hiện ra để hình dung ánh sáng?
Chụp hồn hoa háo hức giữa đêm thu
Chụp hồn ma than vãn giữa đêm thu?
Người có biết lòng ta đương chết điếng
Mửa giòng thơ tràn lan như sóng biển
Là trong đây tất cả phẩm tràng sinh
Đều đau rên trong vạn trạng thiên hình? (Đôi mắt)
Thụ hưởng những cảm giác say sưa cuồng loạn ấy thi nhân tưởng chừng như muốn gào thét lên vì không còn chịu nổi những cảm kích chực nổ tung trong người. Thi nhân bị cảm giác dồn ép đến độ phải tràn ra ngoài những gì tinh túy nhất – cái tinh túy ấy là thơ, là nhực, là tiếng rên, là giọng cười, là tất cả những gì chất chứa quá độ của một kẻ cuồng nhiệt.
Chưa hết, khi tâm hồn thi nhân bị sức đam mê thúc giục mãnh liệt đến ngây dại:
Tôi cắn vào trái bổ vỏ xanh mơ
Tìm chất quí thơm tinh mùi khoái lạc.
Bằng hơi mộng trong hàm răng, tản mát
Mộng? Thiên tài? - Trên hỗn độn khoả thân
Đẹp tỉ mỉ, hỡi rung động truyền thần,
Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mái,... (Duy tân).
Còn cảm giác nào làm rung chuyển con người hơn thế nữa! Thi nhân đã đưa sự khao khát của tâm hồn đến cực độ như muốn chụp vồ, ôm ghì, riết chặt, vò lăn lộn, rồi buông ra xé nát, phá tán những hình ảnh tươi đẹp đang hiện ra trong tâm tưởng mình.
Với sức hủy hoại hình ảnh để hưởng thụ, thi nhân đã run rẩy như người ngạt thở, ngất ngư bằng một nhịp thơ đứt quãng:
Người họa điệu với thiên nhiên, ân ái
Buồn, và xanh trời. (Tôi trôi với bờ
Êm biếc - khóc với thu: lời úa ngô
Vàng... Khi cách biệt - giữa hồn xây mộ - (Duy tân)
Càng dùng cảm giác đi tìm cái Đẹp, thi nhân càng đến gần bờ xác thịt. Hàn Mặc Tử đã phân chất và cho đó là những cảm giác trụy lạc:
Không gian tơ - không gian tơ gợn sóng;
Âm thanh gì sắp sửa... Ngọc Kiều ơi!
Hay hơi thở của hoa hồng mơ mộng?
Nhịp chèo đâu đưa hồn rõi xa khơi. (Mộng cầm ca)
Cũng như Sơn Ngọc trong Đôi mắt, Ngọc Kiều trong Mộng cầm ca cũng làm cho thi nhân đê mê đến độ xuất thần:
Níu cho ta, cho ta muôn yến nguyệt,
Ngọc Kiều ơi! - nầy khúc Lạc Mai Hoa.
Suối tóc mát, nhúng trong vùng mộng tuyết,
Xuống một vườn sương tuyết của trăng hoa. (Mộng cầm ca)
Đi tìm cái Đẹp trong thể chất, và thể chất đã đưa cảm giác thi nhân đến cuồng loạn:
Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc?
Vú non non? Da dịu dịu, êm êm?
Đâu hang báu cho người ta phải khóc?
- Trên môi son, ta liếc lưỡi gươm mềm!
Người cho ta một thanh gươm rất sắc?
Ô vung lên... cắt mạch nguyệt vàng xanh!
Xẻ mạch trời, - mây xô sao, răng rắc!
Phăng mạch đêm, - hương vỡ, ứa ngầm tinh!
Người cho ta một thanh gươm rất sắc?
- Ta điên rồ... múa giữa ánh bình minh. (Mộng cầm ca)
Chưa thôi, tính chất trụy lạc cuồng nhiệt cứ hiện lần lần đưa thi nhân tới bến bờ xa lạ, và thi nhân càng say mê đắm chìm trong chân trời dâm đãng ấy:
Ô cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm!
Một bàn chân ve vuốt một bàn chân!
Mát làm sao! mát rợn cả châu thân.
Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực.
Ôi! Thớ thịt có đàn lên cung bực… (Bàn chân)
Dù với tính chất sa đọa, với màu sắc hoang dâm, chúng ta không thể phủ nhận những âm điệu rung cảm kỳ dị trong thơ Bích Khê. Những vật tầm thường như cặp mắt, bàn chaanm châu thân, ngực, thớ thịt được thi nhân phổ vào đấy những cảm giác ly kỳ, khiến đôi mắt ngời sắc kiếm, bàn chân biết ve vuốt, mơn man, châu thân mát rượi như được ngâm vào bầu khí quyển thoát trần, các thớ thịt rung chuyển bần bật như “có đàn lên cung bực”.
Và đây là màu sắc hoang trụy đậm đà hơn:
Tôi vồ người như một miếng mồi ngon
Miệng ngậm hờn riết chặt lấy môi son,
Mắt đổ lửa lườm qua làn sóng sắc...
Tôi giật mấy rồi cười lên sằng sặc
Hai tay cào đôi vú trắng như bông... (Xác thịt)
Đi lần vào địa hạt dâm cuồng này, chúng ta không còn thấy màu sắc thi vị trong tâm tưởng thi nhân. Nếu trước kia, thi nhân đã dùng cảm giác để trừu tượng hóa những hình bóng gợi tình, thì đến đây chúng ta chỉ còn thấy những gì kinh tởm, gớm ghiếc của cảnh trần truồng khả ố. Thi nhân từ địa hạt tâm tưởng – đem cảm giác đi tìm cái đẹp – bước dần đến hưởng lạc, rồi bị nhục dục mê cuồng đưa tới tận cùng sa đọa. Cuồng vọng trong nhục dục chưa đủ, thi nhân còn dấn sâu vào “địa ngục”, đem cân não tẩm chất ma túy, đem rượu mạnh ngấm vào mạch máu:
Còn đây! Còn đây! Tiếng rượu hú ma –
Tứ thuốc phiện thu nhập khí mồ; hoa;
Ừ, tội chi ta khong vào địa ngục
Đặng xin nốt ngọc oan ương thề thốt,
Giam chung thân mà sáng quá thiên đường;
Đặng ngủ nhờ một đêm với Xuân Hương…
Baudelaire! Người là Vua Thi Sĩ!
Cho xin trụm bao nhiêu mùi thi vị,
Phà hơi lên, truyền nhiễm thấu trần ai…(Ăn mày)
Xuống đến cõi tột cùng sa ngã, chúng ta ngỡ đâu tâm hồn Bích Khê đã giam hãm mãi ở đấy. Nhưng không, sau khi tìm tòi cảm giác cuồng nhiệt qua thể chất, thi nhân thấy đó là chốn bệnh hoạn nên đã trở về với cái Đẹp của tâm tư. Sự quay gót ấy, thi nhân đã đánh dấu trong “Người say rượu”:
Rạng mai có kẻ đi về đấy:
Ôi! Người say rượu chết nằm queo!
Ngọc sương nức nở tan thành lệ!
Hơi rượu say nồng vẫn quyện theo!
Cái đẹp trường cửu, bất diệt không phải ở trong thể chất! Thể chất chỉ là biểu tượng của cái đẹp trong tâm tư! Thi nhân khi thấy rõ lẽ màu nhiệm ấy nên đã hồi đầu. Và chúng ta lại thấy những Nhạc, Lệ, Ánh sáng, Màu sắc, thi nhân ghép thành những trang thơ thuần túy của tâm tư:
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Buồn lưu cây đào xin hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông… (Tỳ bà)
Đây cả một trời yêu đương da diết, một trời tương tư, một trời âm hưởng chứa đựng sức sống thanh cao, thoát ra ngoài sự đam mê cuồng nhiệt của nhục dục. Bắt đầu từ đây, thi nhân kéo chúng ta đi lướt thướt trong cõi u hoài, trong thế giới hào quang, gảy cho ta nghe những điệu đàn hòa dịu, ngọt ngào, vô cùng cảm khoái...
Ô! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc,
Những cánh hồng đơm, - những cánh hồng đơm
Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương;
Màu trăng không gian như gờn gợn sóng.
Từ ở phương mô nhạn mang thơ về,
Đàn thơ cơ hồ lên cung âm điệu.
Đây giây trinh bạch khóc mướt trong mơ;
Đây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ?
Ô! Côi lầu mây ánh gì kim cương,
Áo nàng thơ ngây nao nao gnhee thường.
Thơ bay! Thơ bay vô bàn tay ngà,
Thơ ngà ngà say! Thơ ngà ngà say!
Nàng ơi! đừng động… có nhạc trong giây,
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây;
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,
Ô nàng tiên nương! Hợp nhạc đầy hương. (Nhạc)
Toàn bài thơ là một điệu nhạc tân kỳ, một biểu tượng đặc sắc, thanh âm xao gợn, nổi trôi, n hấp nhô nhún nhẩy như muôn hoa lá bị cơn gió lùa:
Hàn Mặc Tử nói:
“Ở địa hạt huyền diệu, ta thấy thi nhân chú trọng về thanh và màu sắc.Trong khi nói đến nhạc, thi nhân nghĩ ngay đến những cung cầm chơi vơi, âm điệu rung động cả không gian. Và bởi mê man với sự “nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương”, thi nhân đã sáng tạo được rất nhiều bản ca thần tình diễn ảo. Và nhạc lúc bấy giờ cũng không còn là nhạc nữa. Nó đã bay ra hương, ra hoa, ra thơm, ra mát, ra ngọt, ra ngào, ra gì mê tơi, run rẩy, hay âm thầm nức nở, lanh lảnh như giọng cười, mơn man như ân tình đòi hỏi...”
(Trích lời tựa Tinh Huyết)
Từ thế giới thể chất tội lỗi, thi nhân trở lại với tâm tư tinh khiết thuở ban đầu. Qua một thời gian khủng khiếp đắm hồn trong trụy lạc, những đam mê sa đọa như theo vật dục thoát ra ngoài con người; giờ chỉ còn lại những gì thanh tao của tâm linh – chúng tôi muốn nói tâm hồn thi nhân đã thoát tục để đi vào thuần túy khuynh hướng tượng trưng.
Vườn thơm khua sắc mát.
Rồng uốn vóc tùng cong,
Áo bạch mai khoát khoát
Môi đào chờ khoái lạc...
Hồn tôi như đỉnh hương
Bốc lên mình thánh giá!
Ý xuân mát đến xương
Ngậm tuyết phun lã chã! (Xuân tượng trưng)
Ở địa hạt tượng trưng, Bích Khê đã đạt được một thành công đáng kể, và giá trị tác giả Tinh huyết cũng chỉ ở trường phái này. Tuy nhiên, không vì thế mà thi nhân không đi sâu thêm một bước nữa. Cuối cùng, chúng ta thấy tâm hồn thi nhân bước dần đến lãnh vực siêu tưởng. Thi nhân đã nói lên bằng trạng thái yên tĩnh của tâm hồn mình:
“Ta là thơ! Phàm tục hãy qui y
Ta sáng suốt chiếu ra màu Phật tánh”.
Với bầu tâm tư yên tĩnh ấy, những khúc nhạc “Nghê thường” trở thánh những khúc nhạc mầu nhiệm:
Ô trời hôm nay sao mà xanh!
Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành,
Nhưng mây tê ngời sao kim cương,
Dạ lan tê ngời say men hương;
Lầu ai ánh gì như lưu ly?
Nụ cười ai trắng như hoa lê?
Thủy tinh ai để lòng gương hồ?
Không gian xà cừ hay san hô? (Nghê thường)
Với màu sắc và nhạc điệu trong lĩnh vực này, thi nhân quả đã thoát tục. Chúng ta không còn thấy vướng bận những gì đê mê của thể xác, hay khao khát đắm đuối của tâm hồn. Nó thanh thoát, trong vắt, sáng ngời và rất thanh tịnh.
Lam nhung ô! màu lưng chừng trời;
Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi.
Vàng phai nằm im ôm non gầy;
Chim yên eo mình nương xương cây.
Đây mùa Hoàng hoa, mùa Hoàng hoa:
Đông nam mây đùn nơi thành xa…
Bích Khê là người đã sống, đã đụng chạm thái cực: tội lỗi và thanh cao, vật dục và tinh thần. Tiếng thơ Bích Khê là tổng hợp của tất cả những xao xuyến, thắc mắc giữa tâm hồn và thể xác. Thi nhân đã từ cảm giác đi đến trụy lạc, sa đọa, rồi lại vươn lên ở địa hạt truyền thần, trước khi kết thúc ở lãnh vực siêu tưởng.
Ngày nay, Bích Khê đa tiêu dao nơi thế giới khác, nhưng thơ Bích Khê còn đọng mãi trong lòng đời, và nói đến thơ Bích Khê là nói đến một thành công lớn lao trong lãnh vực thơ tượng trưng, một cường độ cực cao trong nghệ thuật diễn tả hình ảnh của thực thể.
10/1968
Nguồn:
Việt Nam thi nhân tiền chiến. Quyển hạ
Sống Mới xb., Sài Gòn, 1968, tr. 303-339.
Chú thích
(1) Chúng tôi lược bớt một phần về tiểu sử Bích Khê do điều này đã được đề cập ở các bài của Lê Thị Ngọc Sương, Quách Tấn. – BAN BIÊN SOẠN
THƠ KHIÊU DÂM
Lam Giang , Vũ Tiến Phúc
“Đôi tâm hồn chúng ta yêu nhau, hiểu nhau, thế là đủ lắm rồi!”. Những lời tình tự… siêu hình, không cần thể xác này chỉ có thể trao đổi vào lúc mới trao duyên.
Hãy để yên tôi dệt thắm tên người,
Ai lý luận với ân tình cho đáng
Trời reo nắng thì chim reo tiếng sáng
Xuân có nồng, tôi lại có tình tôi
Tiếc nhau chi, mai mốt lại xa rồi…
Xa là chết hãy tặng tình lúc sống.
Xuân Diệu
Vì phải tặng tình lúc sống nên có lúc, thi nhân đã phải yêu cầu:
Hãy sát đôi môi, hãy kề đôi ngực,
Hãy trộn chung đôi mái tóc vắn dài!
Trước phong trào Thơ Mới hơn trăm năm, tả cuộc gặp gỡ Kim Trọng – Thúy Kiều, Nguyễn Du đã viết một câu gần như là định luật của tình yêu:
Sóng tình dường đã xiêu xiêu,
Xem trong âu yếm có chiều lả lơi!
Từ âu yếm đến lả lơi, từ lả lơi đến khiêu dâm, tự tiến triển ấy có gì đáng kinh ngạc? Ca dao đã nhận định được một sự thể tất nhiên: lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Nói chuyện ân tình hoài hoài thì cũng có lúc sa vào chỗ lả lơi, dâm đãng. Đố tránh cho khỏi.
Tả nỗi lòng rạo rực của một thiếu phụ xa chồng trong một đêm trăng, Hàn Mặc Tử có bài “Bẽn lẽn”:
BẼN LẼN
Trăng nằm sóng sỏa trên cành liễu
Đợi gió thu về để lả lơi.
Hoa há ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi!
Trong khóm vi lau xào xạc mãi,
Tiếng lòng ai nói sao im đi
Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm,
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm
Em sợ lang quân em biết được,
Nghi ngờ đến cái tiết trinh em!
Hàn Mặc Tử
Cùng với Chế Lan Viên, hàn Mặc Tử là một thủ lĩnh của Trường Thơ Loạn. Đi vào con đường mới khai phá của Hàn Mặc Tử, tiến sâu và tiến xa hơn người khai phá là thi sĩ Bích Khê với tập thơ Tinh Huyết. Hưởng ứng với Trường Thơ Loạn có Quỳnh Giao với tập Tơ Trăng. Những tập thơ trình bày rất trang nhã và có những bài thơ hay. Chen vào giữa những câu đầy hình ảnh, màu sắc, nhạc điệu là những câu thơ khiêu dâm một cách tế nhị theo cái kiểu:
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên!
Và nhiều khi sỗ sàng, bộc lộ nhiều, nhiều hơn nữa. tả vẻ đẹp một bức tượng khỏa thân, Bích Khê đã có những câu:
Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ,
Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
Hai vú nàng! Hai vú nàng! Chao ôi!
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng.
Ôi lồ lộ một tòa hoa nghiêm động!
Tôi run run hãm lại cánh hồn si…
Ồ hai tay rơi chén ngọc lưu ly;
Ồ hai chân nở màu sen ẻo lả;
Cho tôi nàng! Cho tôi nàng! Tất cả…
Tôi có cần phải trích dẫn thêm không? Thiết tưởng bấy nhiêu cũng vừa đủ chứng minh lời tôi nói: trong trường Thơ Mới có lối thơ khiêu dâm.
Quỳnh Giao cũng có những câu rất giật gân. Thi sĩ tả làn gió thổi tung vào người thiếu nữ:
Trời ơi, làn gió vô duyên lạ,
Thiếu nữ hai tay níu lấy quần!
Đương thời cũng có một số người dám phản kháng. Uy thế của Trường Thơ Loạn lừng lẫy, nhưng hiệu lực của những lời phản kháng chỉ là những gáo nước tưới vào một s mạc cháy rằng mà thôi (1). Nói cho trung thực, Hàn Mặc Tử có một số thơ vẩn đục nhưng về sau tìm được khuynh hướng siêu thoát trong những tầng thanh khí của tôn giáo trang nghiêm. Chế Lan Viên sau tập thơ “Điêu Tàn”, tập thơ sầu hận vong quốc của dân Chiêm, đã yên ổn hưởng sự thành công danh vọng. Thỉnh thoảng viết một vài bài tựa và làm một vài bài thơ bí hiểm. Hoạt động văn chương nhiều nhất là Quỳnh Giao và Bích Khê. Những người phản đối đều bị gán những tiếng “đạo đức… giả, cổ hủ, gàn, gàn bát sách, gàn thất sách v.v…”
Đồng thời với thơ khiêu dâm, hồi ấy còn có một mớ tiểu thuyết. Xin giới thiệu một vài tên sách mà thôi. Ví dụ như: Khi chiếc yếm rơi xuống (Trương Tửu); Sự đọng cỡn của người đàn bà (Vũ Trọng Can) v.v…
Sang đến năm 1942, những tiểu thuyết nhảm nhí ấy bị chính quyền làm lễ hỏa thiêu. Thơ khiêu dâm vẫn được tự do lưu hành mãi cho đến năm 1945. Cuộc bút chiến trên kia đã đành là vô bổ. Nó chỉ chứng minh được một điều: một người đơn độc không chống nổi hai ba người. Huống nữa là một trào lưu.
Xin sao lục như sau:
Đứng trước linh sàng bài vị chư tôn huynh thi sĩ, lấy nước lạnh thấm vào mi mắt khóc mà than rằng:
Than ôi!
Mây Hồng Lĩnh trăm ngàn phiến trắng, hạc bay rồi để hận đến thiên thu,
Phở tái, phở xào, phở khô, phở ướt, kỳ trận thức thức sẵn bày đây
Thơ loạn, thơ điên, thơ Mọi, thơ Hời, văn sĩ bốn phương đều tựu đủ,
Hồn linh thiêng xin nhận mặt tri âm
Thơ dâm loạn đem ngâm cùng quỉ sứ!
Hỡi ôi, thương thay!
Phục duy thượng hưởng.
Nguồn:
Hồn thơ nước Việt thế kỷ XX, Sơn Quang xb., Sài Gòn, 1970, tr. 77-81
Chú thích
(1) Năm 1940, khi viết tập “Thảo luận luật Thơ Mới” tôi có lên tiếng chỉ trích. Không hiệu quả gì, rốt cuộc chỉ gây được ít nhiều ác cảm. Đương lúc tuổi ngoài hai mươi, với nhuệ khí thanh niên, càng tranh luận càng hăng hái, tôi liền tung ra bài văn tế sống các thi sĩ khiêu dâm.
ĐỜI THƠ BÍCH KHÊ
Quách Tấn
BÍCH KHÊ, cũng như Hàn Mặc Tử, nổi tiếng về Thơ Mới. Nhưng cũng như Hàn Mặc Tử, Bích Khê từ địa hạt Thơ Cũ mà ra.
Nhờ ảnh hưởng gia đình, Bích Khê biết làm thơ lúc 14, 15 tuổi. Đến 17 tuổi, thơ Khê đã già dặn, nhiều bài làm cho các bậc túc nho thán phục. Như hai bài “Đèo Hải Vân” sau đây làm năm 1932:
Bước tới Đèo Vân cảnh vắng teo,
Rõ ràng trước mặt bức tranh treo.
Một vùng bể cả cơn triều dậy,
Đôi cụm rừng sâu tiếng gió reo.
Đường sắt xe quanh còi dậy đất,
Đầu non ác lặn bóng nghiêng đèo,
Xung quanh phong cảnh mình trơ trọi,
Văng vẳng lừng xa giọng cuốc kêu.
II
Cuốc kêu văng vẳng ở đâu đâu,
Trời nước mênh mông lẫn một màu
Thành cổ rêu phong sương nhuộm đá,
Bia xanh chữ lợt súng trơ đầu.
Đường đời thành bại chòm mây bạc,
Tiếng cũ anh hùng ngọn gió lau,
Nhìn cảnh nước non non nước ấy,
Ngàn xưa dâu bể chạnh lòng đau.
Thơ Khê phần nhiều đăng ở báo Tiếng Dân (Huế), thỉnh thoảng cũng có đăng ở Tạp chí Phụ Nữ Tân Văn (Saigon).
Lúc bấy giờ phong trào Thơ Mới phát khởi, Thơ Cũ vẫn còn được nhiều người ưa thích. Bích Khê được khá nhiều tri âm, hầu hết là độc giả Tiếng Dân và Phụ Nữ Tân Văn, nhất là độc giả Tiếng Dân.
Ông Trần Thúc Lâm, người quận Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Nghĩa, một lớp tuổi cùng Bích Khê, hiện tản cư tại Nha Trang, nói rằng:
- Tôi có mấy người bà con lớp trưởng thượng, Nho học cứng cáp, khen vùi thơ Bích Khê. Các ông khen người trẻ mà thơ già. Nhiều vị lão thành ở xa, đọc Khê, không tin rằng là một thanh niên tân học. Riêng tôi, xin thú thật, tôi đã ghiền trong một thời gian khá lâu. Hễ mỗi lần nhận được Tiếng Dân hoặc Phụ Nữ Tân Văn thì tôi liền mở ngay mục Văn Uyển và trước nhất là tìm thơ Bích Khê. Tôi chép thành tập và đọc thuộc lòng gần hết. Trong tờ Tiếng Dân và tờ Phụ Nữ Tân Văn có nhiều thơ lão luyện, nhưng tôi lại thiên hẳn về Bích Khê. Cuộc đời thay đổi, quan niệm và sở thích của tôi cung thay đổi. Thơ Bích Khê không còn rung cảm tôi nữa, tôi nhận thấy chất thơ và vị thơ kèm cảnh thơ và nhạc thơ nghèo. Tôi tìm đọc những tâm hồn phong phú hơn. Tuy vậy thơ Khê đã ăn sâu vào tâm khảm, tôi cố quên nhưng vẫn không thể quên...
Cụ tú Võ Kiêm ở Bình Định cũng khen bút pháp của Khê rất vững vàng, chỉ tiếc rằng lời không được thanh lệ.
Lời cụ tú rất chính xác, Bích Khê chịu ảnh hưởng cụ Huỳnh Thúc Kháng và cụ Phan Bội Châu, nhất là cụ Phan, rất nhiều. Mà thơ của hai cụ chỉ cốt ở ý chớ không chuộng ở lời. Các cụ dùng thơ để truyền bá tư tưởng, chó không phải làm thơ. Chẳng những riêng Bích Khê, mà phần đông bạn trẻ làm Thơ Cũ thời bấy giờ đều lấy các cụ làm khuông mẫu, nhất là các bạn ở Trung Việt. Thơ của Tản Đà chỉ thích hợp với những tâm hồn “yêu thơ vì thơ”.
Thơ Bích Khê có đủ lối: tả tình, tả cảnh, vịnh sử, vịnh vật, túc sự... Cốt cách, phong vị đại khái như hai bài thượng dẫn. Xin trích thêm đôi bài nữa để các bạn dễ nhận thấy bản chất của thơ và phong thái của tác giả.
VỀ THU XÀ CẢM TÁC
Phố phường hai dãy đứng trơ trơ,
Phong cảnh nhìn xem đã khác xưa
Chợ búa lăng xăng tôm cá thịt,
Điếm đàn xôn xáo sớm chiều trưa.
Thần tiền đâu vắng khoanh tay ngó,
Ma đói nên ghê đứng cửa chờ.
Phần thuế xâu, phần công nợ nữa,
Thăm quê khiến khách rối lòng tơ!
ĐÁ CỨNG
Trơ trơ muôn kiếp tấm gan già,
Chất đá xưa nay thật cứng a!
Lửa nắng cháy trời nung chẳng chuyển,
Búa sương nẻ đất bửa không ra.
Lấp hờn bể thẳm thương Tinh Vệ,
Vá kín trời xanh giúp Nữ Oa.
Ai đó xin đừng đem trứng chọi,
Xưa đà có lẻ lạy anh ta.
Thơ Bích Khê chẳng những đủ lối mà còn đủ thể. Ngoài thể Đường luật là thể thường dùng, Khê cũng rất thích thể lục bát, song thất lục bát, ca trù, nhất là ca trù... Về các thể nầy, Khê cũng là tay già dặn. Xin trích đôi bài dẫn chứng.
Cũng như những bài thơ thượng dẫn, hầu hết những thơ Bích Khê đều mang tâm tư và sắc thái của Thời đại. Thời bấy giờ làng thơ chia làm hai phe: Thơ Cũ và Thơ Mới. Thơ Mới thiên về tình cảm. Thơ Cũ thiên về lý trí. Một số nhà Thơ Cũ nặng tình đất nước, dùng văn chương để tuyên truyền Chủ nghĩa Quốc gia, giác ngộ quần chúng. Một số khác dùng thơ để gởi gắm tâm sự, bài tiết nỗi phẫn hận đối với thời cuộc. Số trước tích cực, số sau tiêu cực. Thơ của bên kia thì giọng chát, thơ của bên nầy thì giọng sầu. Bích Khê không đứng hẳn bên nào nhất định. Cho nên khi thì hăng hái đem khả năng ra phụng sự Chính nghĩa Quốc gia, khi thì “sầu vương chằng chịt” :
Sầu đâu sầu lạ sầu lùng,
Sầu đeo lẻo đẻo ngàn trùng cũng theo.
Để cho “khỏe tinh thần”, Khê quyết Bán sầu:
Bán sầu chi có tệ,
Xưa đã từng có kẻ bán hoàng thiên.
Người bán trời không chứng mới là phiền,
Còn tôi bán hàng SẦU tiền chẳng lấy.
Sầu nhấm ma men men khó tẩy,
Sầu mời thần ngủ ngủ không ngon.
Nầy sầu hoa sầu cỏ sầu núi sầu non,
Sầu tất thảy bà con say tỉnh dở.
Chưa nói đến tớ sầu vì tớ,
Bôn ba mà vỡ lở nét tang thương.
Ma dắt lối quỉ đưa đường,
Sầu đây đó sầu vương chằng chịt mãi,
Tôi muốn bán hàng SẦU không vốn lãi,
Khỏe tinh thần hầu tính lại cuộc trăm năm.
Để sầu thêm rối ruột tằm.
Bán sầu “hầu tính lại cuộc trăm năm” bằng lối thơ hùng tráng có sức tác động tinh thần đại chúng. Nhưng rồi thấy sức bút không thay đổi được thời thế, Bích Khê muốn “để công phấn đấu với đời” bèn đem BÁN THƠ:
Mưỡu
Hôm qua tớ đã bán sầu,
Món hàng khấ đắc, khách cầu khách mua.
Còn món THI vẫn của chua,
Khách nào có thích, tớ cũng bán đùa làm quen.
Nói
Sầu cũng bán thời thơ cũng bán nốt.
Mối thi sầu không cột lại làm chi.
Kìa như đau, như khổ, như oán, như si,
Nào giọng đàn ai oán, giọt lệ thương bi,
Kết cuộc lại “mốc xì” gì đâu ráo!
Rồng vẽ lối xưa toàn những sáo,
Cua bò thơ mới chả nên câu!
Cũng rung đùi xưng Lý, Đỗ, Hàn, Tô,
Rõ “bát xáo cổi quần mò không thấy cái”...
Tớ trót đã cùng mang bệnh dại,
Từ nay xin đem bán lại cho đời.
Khách làng thơ ai cần đến đồ chơi,
Tớ xin bán, không lời và cả vốn.
Đời tranh cạnh xen thi vào càng lộn xộn,
Chẳng ích chi thêm hao tổn lòng người.
Để công phấn đấu với đời.
Thơ bán không ai mua (1) mà sức phấn đấu nhằm cũng không đem lại được “mốc xì” gì. Đã trót mang nghiệp thơ vào thân, âu đành cam với nghiệp. Khê tiếp tục làm thơ.
Bích Khê làm thơ cũ cho đến năm 1937, lúc làm quen với Hàn Mặc Tử.
***
Bích Khê biết Hàn Mặc Tử từ khi còn học ở Hà Nội, nhưng chỉ biết tiếng thôi. Lúc ấy Khê đương say mê thơ Phan Sào Nam và Huỳnh Minh Viên nên không thích thơ Hàn Mặc Tử, cả những bài Thức Khuya, Gái ở Chùa, Chùa hoang được Sào nam cực lực tán dương. Tập GÁI QUÊ của Tử cũng làm cho Khê bất mãn:
- Chỉ được có hai bài đáng gọi là thơ là Tình Quê và Bẻn Lẻn. Còn bao nhiêu nên phó cho thần Chúc Dung.
Nhưng đến năm 1937, lúc Khê ở Phan Thiết, Mộng Cầm (cháu kêu Bích Khê bằng cậu ruột) đưa cho Khê xem những bài thơ mới của Tử sáng tác sau Gái Quê, thì Khê than:
- Hàn Mặc Tử là một thiên tài và đã đi trước ta xa quá.
Từ ấy mới bắt đầu giao thiệp với Tử bằng thơ từ (2). Tình Khê được Tử đón tiếp nồng đượm, vì trước kia tử đã từng đọc thơ Khê trên Tiếng Dân và Phụ Nữ Tân Văn là hai “nơi dung ván” của Tử. Và tình Tử đối với Khê mỗi ngày thêm đậm thêm sâu.
Thời bấy giờ Thơ Mới đã thắng Thơ Cũ.
Phong trào Thơ Mới phát động từ năm 1932, và đi từ Nam ra Bắc rồi mới vào Trung. Những cuộc tranh luận sôi nổi kéo dài cho đến năm 1937 thì diệu lần cho đến 1941 chấm dứt hẳn.
Cũng như Hàn Mặc Tử, Bích Khê không dự vào tranh luận. Khê thường nói:
- Thơ không có mới cũ, mà chỉ có thơ dở và thơ hay.
Nói là nói vậy, chứ sự thật, Khê cũng như Tử đã bị ảnh hưởng Thơ Mới tác động tâm hồn. Trước khi làm quen cùng Tử, Khê cũng đã “lén ngoại tình” cùng thơ mới rồi. Và sau khi quen thân cùng Tử, Khê theo gương một vị đường quan ở Bình Định “để người vợ tào khang ở nhà nuôi mẹ, và chánh thức công nhận bà vớ thứ hai, vừa đẹp vừa trẻ, là chánh thất rồi xin phong hàm mạng phu cho bà này”. Nghĩa là Khê mạnh dạng bước sang địa hạt Thơ Mới, với mối tình thắm thiết, gạt hẳn thơ cũ sang một bên.
Khoảng đầu năm 1938, Khê gởi ra tặng Tử ba bài thơ mới: Thi Tứ, Ảnh ấy và Thời gian. Ba bài thơ ấy “tìa và tình hòa hợp một cách song toàn rúng cảm người đọc đến da diết tê mê” (3). Tử hết sức tán thưởng, gởi thơ vào khích lệ. Khê phấn khởi, sáng tác rất nhiều. Cuối năm gopfs thành tập gởi ra cho Hàn Mặc Tử. Tử chê “quá kém”, gởi trả lại với những lời phê bình nặng nề. Khê giận run người, xé nát cả tập thơ. Đoạn viết thư ra thề cùng Tử:
- Trong sáu tháng sẽ trở nên một thi sĩ phi thường, bằng không sẽ không bao giờ làm thơ nữa. (4)
Đặng Trần Côn bị Đoàn Thị Điểm chê dốt, mà nỗ lực học hành, sáng tác nên Chinh Phụ Ngâm hay tuyệt. Những “khiêu khích mỉa mai” của Hàn Mặc Tử làm cho Bích Khê “bật nảy thiên tài” (5) và chỉ ba tháng sau Khê gởi ra cho Tử một tập thơ “viết bằng máu huyết tinh tủy và châu lệ và tất cả say sưa đắm đuối của một hồn thi sĩ”. Hàn Mặc Tử mừng ứa nước mắt và nằm ôm tập thơ suốt một buổi chiều, sau khi đọc xong.
Tập thơ nhan đề là TINH HUYẾT.
Hàn Mặc Tử gọi là “Một bông lạ nở hương, một thư hương quí trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc!”, “một đóa hoa thần dị”.
Thể theo lời của Bích Khê, Hàn Mặc Tử đề tựa cho Tinh Huyết. Và cuối năm ấy - năm 1939 - Tinh Huyết ra đời.
Trước Tinh Huyết đã có rất nhiều tập thơ mới xuất bản. Được nhiều người thưởng thức nhất là:
- Mấy vần thơ của Thế Lữ (xuất bản năm 1935).
- Ngày xưa của Nguyễn Nhược Pháp (1935)
- Điêu tàn của Chế Lan Viên (1937)
- Tiếng thu của Lưu Trọng Lư (1938)
- Thơ thơ của Xuân Diệu (1938)
Tinh Huyết ra đời làm cho dư luận trong làng thơ văn xôn xao, có thể nói là “đến cực độ”.
Các nhà thơ cũ bảo thủ và cố chấp bảo là “một quái thai”. Các nhà thơ mới giàu lòng ganh tị, như Xuân Diệu là một, thấy Hàn Mặc Tử nhiệt liệt ca tụng Bích Khê, nổi “tam bành” như mụ Tú Bà được tin “màu hồ đã mất”. Một số khác có phần dè dặt, khen không dám khen mà chê cũng không dám chê. Còn đám thanh niên, tấm lòng trong trắng, đón tiếp thơ Khê một cách nồng nhiệt như đã đón tiếp thơ “chuyền tay” của Tử trong bấy lâu.
Đến các bạn quen biết cũ của Khê thì hết sức ngạc nhiên cho sự đổi mới của bạn.
Cái mới của các nhà thơ mới là lẽ tất nhiên, vì họ không có nợ cũng không có duyên với thơ cũ.
Hàn Mặc Tử tuy đi từ Thơ Cũ sang Thơ Mới, song có tập Gái quê làm nhịp cầu sang sông.
Bích Khê nhảy từ Thái Cực này sang Thái Cực khác. Khi ở bên thơ cũ, thơ Khê là một ông cụ có hàm râu phương phi nửa đen nửa trắng, có đôi mắt nghiêm nghị đeo gương, và mỗi khi tiếp tân đều khăn đen áo dài tề chỉnh. Tuy đôi khi ăn nói sỗ sàng, song chỉ là lối sỗ sàng của con người thẳng tánh và nóng tánh. Đến khi bước qua thơ mới, thì vẻ đạo mạo ngày xưa của thơ cả ngoài lẫn trong, đều vứt sạch, và Khê có thể “trần thân đứng trước chỗ đông người mà không chút ngượng ngùng”.
Một ông bạn, Nguyễn Tử Anh, nói:
- Bích Khê trần thân trước đông người mà không ngượng là vì biết tấm thân mình cân đối nhịp nhàng, cũng như một mỹ nhân khoan thai đi trên bãi biển, dưới con mắt hàng trăm người, mà trên mình chỉ có đôi mảnh vải ti tí. Người phô “tấm thân kiều diễm” không gượng đã đành, mà người có đôi mắt thẩm mỹ nhìn vào cũng không chút ngượng cho mình cũng như cho người, vì chỉ thấy những đường nét nhịp nhàng cân đối. Còn sự nhảy vọt của Khê cũng không có gì là lạ. Sinh vật trong vũ trụ có giống đi nhanh, có giống đi chậm, có giống bay, có giống bò, mà cũng có giống nhảy vọt... thì trong nội tâm cũng phải có đủ thứ như ngoại giới chứ.
Câu nói tuy có vẻ bông đùa song không kém phần chân xác.
Thơ Tinh Huyết hoàn toàn mới, mới cả hình thức lẫn nội dung. Bích Khê đưa tâm hồn mình ra phơi bày một cách thẳng thắn, không chịu úp mở, che đậy. Những gì thiên hạ e dè không dám nói, Khê đều nói và nói một cách say sưa.
Trong bài tựa tập Tinh Huyết, Hàn Mặc Tử đã nói rõ những cái hay cái lạ trong tâm hồn Khê, trong thơ Khê. Thiết tưởng không còn có ai hiểu Khê hơn Tử, cho nên không cần thêm hoa vào gấm nữa làm chi. Tuy vậy, để các bạn chưa có dịp đọc Tinh Huyết khỏi nghi ngờ thi tài của Khê, tôi xin trích ra đây đôi bài, đôi đoạn.
Trước hết xin rút hai đoạn trong bài Thi Tứ và Thời Gian Khê gởi cho Tử lần đầu tiên mà chỉ thấy Tử trích đem vào bài Tựa, chớ không thấy toàn bài trong Tinh Huyết:
Là mùa xuân và là mộng là hương;
Là bao nhiêu rạo rực của lòng thương
Trong cát bụi như là trong xanh thẳm.
... của cỏ hoa chen rát rắm;
Của thời gian tàn tạ lẫn muôn đời;
Của mến yêu cay đắng đọng thơm tươi;
Là thi tứ là đúc chung một áng.
(Thi Tứ)
Tôi với anh không biết nhau bằng mắt,
Nhưng hai tim đều láng tiếng âm ty.
Với lệ máu cùng mờ xa muôn sắc,
Hai tim thôi đều yêu lỉm trong si!
(Thời gian)
Bài Ảnh Ấy, một trong ba bài gởi cho Tử đầu tiên, có in toàn bài trong tập và đã trích dẫn trong mục “Những cuộc tình duyên” (nói về Ngọc Kiều) ở trước.
Đó là những tia sáng của một thiên tài chớm nở, “cái khởi điểm của một thiên tài sắp sửa” như lời Hàn Mặc Tử đã nói.
Nhưng bài thơ làm cho nhiều người để ý nhất là:
TRANH LÕA THỂ
Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ,
Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
Hai vú nàng! Hai vú nàng! Chao ôi!
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng.
Ôi lồ lộ một tòa hoa nghiêm động!
Tôi run run hãm lại cánh hồn si…
Ồ hai tay rơi chén ngọc lưu ly;
Ồ hai chân nở màu sen ẻo lả;
Cho tôi nàng! Cho tôi nàng! Tất cả…
Tôi miên man uống lại mộng quỳnh dao
Cho đê mê, chới với, hồn lên cao,
- Một tinh cầu sẽ tan ra biển lệ…
Hàn Mặc Tử khen: Ở “Tranh lõa thể” sự trần truồng dâm đãng đã nhượng lại cho ý vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết. Quả nhiên là một sự khong khen thanh tao quá đến ngọt lịm cả người và cả thơ.
Hoài Thanh công nhận, trong Thi Nhân Việt Nam rằng “Mấy câu ấy đã được Hàn Mặc Tử phẩm bình bằng những lời xứng đáng”.
Nhưng các nhà “thơ đạo đức” vừa mới nghe đầu đề, đã vội la hoảng: - Dâm thi! Phong hóa tội nhân!
Đến những câu tuyệt diệu như:
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
cũng bị họ phủ nhận giá trị. Những người công kích thơ Khê đều rút những ý táo bạo trong bài “Tranh lõa thể” và các bài khác như Tân hôn, Cùng một cô đào hát bộ, Ăn mày, Trái tim... để công kích. Những câu trong các bài ấy thường nằm nơi môi những người không thích thơ Khê, là:
- Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ!
Không hay xuân kín vỡ màng trinh!
Ngoài kia gió lá lòn qua cửa
Chứng kiến làm sao chuyển đến cành?
(Tân hôn)
- Đẹp bỏ cô khi cởi lốt tuông!
Để thấy hồn thơ rào rạt tuôn…
(Cùng một cô đào hát bộ)
- Giam chung thân mà sáng quá thiên đường;
Đặng ngủ nhờ một đêm với Xuân Hương…
(Ăn mày)
- Đây sự thực trần truồng nằm giữa háng!
(Trái tim)
Khi gặp người nói chuyện về thơ Bích Khê, ít khi tôi được nghe họ khen. Dường như đọc Tinh Huyết không phải để thưởng thức những cái hay cái đẹp trong thơ, mà chỉ để tìm những gì có thể chỉ trích bài xích được theo ý muốn! Trên báo chí, không thấy nhà phê bình nào đưa những ưu điểm và khuyết điểm trong Tinh Huyết ra trình bày một cách vô tư để xây dựng tác giả và hướng dẫn độc giả.
Phần đông đọc giả ngờ rằng vì cảm tình mà Hàn Mặc tử “đề cao” Bích Khê. Sự thật thì những nhà thơ chân chính không bao giờ dùng ngòi bút hoặc tấc lưỡi để đề cao hay đả hạ ai hết. Họ chỉ nói những gì họ nhận thấy, họ cảm nghĩ với lòng chân thành. Khi họ nói đến Thơ thì họ chỉ biết đến tâm hồn và tài nghệ của tác giả, của tác phẩm mà thôi. Kẻ thân mà thơ dở hoặc không hay thì một lời khen “cho mát ruột” cũng không có chớ đừng nói đến ca tụng bằng giấy trắng mực đen. Còn đối với kẻ không ưa họ hoặc họ không ưa, mà có thơ hay, thì họ cũng tán thưởng như tán thưởng thơ của bạn quen biết, thân thiết.
Mà Hàn Mặc Tử là một nhà thơ chân chính.
Và lời đề tựa Tinh Huyết của Hàn Mặc Tử nồng nàn chớ không có gì quá đáng.
Nếu người ngoài thấy có quá đáng chăng nữa thì cũng nên tin rằng đó là những lời phát xuất tận đáy lòng của người viết ra, một nhà thơ chân chính.
Chắc cũng có bạn thắc mắc sao Hàn Mặc Tử chỉ khen mà không hề chê, như vậy chẳng lẽ Tinh Huyết đã toàn bích?
Xin thưa: bài tựa chỉ một bài giới thiệu chó không phải một bài phê bình. Xưa nay có ai đem giới thiệu “cái xấu”? Chớ sự thật một dòng sông từ trên núi chảy xuống, cuốn theo nào phải chỉ những trắc, gõ, trầm hương... Thế nào lại không có gỗ tạp, cây mục lẫn lộn như:
THI VỊ
Lá vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn rung tiếng:
Người yêu đương ngồi...
Trăng vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn nghẹn tiếng:
Người yêu đây rồi...
Hoa vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn rụng tiếng:
Người yêu đi rồi...
Sao vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn câm tiếng:
Người yêu xa rồi...
Đêm vàng rơi,
(Thôi hết, anh ơi!)
Đàn bẻ phím:
Người yêu chết rồi!
Giá trị chỉ ngang gỗ xoài, gỗ trâm. Ngay ở trong những bài thật hay, đôi bài vẫn chứa đựng đôi câu, đôi đoạn không được già dặn, chẳng khác gì những cây cột gỗ sơn đỏ óng bị đôi chỗ dác làm mồi cho mối mọt bồ xe. Ví dụ trong bài Tranh lõa thể, đoạn gần cuối:
Tiên nương hỡi! nàng sống trên thế hệ,
Bóng thời gian phải quỵ dưới chân nàng -
Xuân muôn đời di dưỡng giữa vùng tang!
Gương phép tắc suốt soi ngàn mộng ảnh!
Cớ làm sao nâng niu bầu giá lạnh,
Ấp tranh người, lơ đãng ngắm thi nhân?
Hay nàng nhớ nhung các phượng đền lân?
Hay nàng ước mơ tình trong trắng ngọc?
Ôi! Nàng ôi! Làm sao nàng chẳng khóc
Người thi nhân, vẻ đẹp của khiêu dâm –
Trăng thanh tịnh còn lóng trong thơ câm,
Nhạc vô minh hằng sôi trên nét chữ?
Ôi! Nàng ơi! thốt lên, lời ngọc nữ,
Lời trân châu rúng cả phím lòng tôi…
Không đến nỗi dở. Nhưng vì Tần Thiếu Du trót sanh đồng thời cùng Tam Tô, nên trở thành dác trong cây cột lõi ké, lõi sơn. Lõi cây thường không dễ gì mà sánh nổi. Không thể dùng được là những câu như:
- Đây sự thực trần truồng nằm giữa háng! (Trái tim)
- Và im hơi cho xuất khí âm hư... (Châu III)
Thơ dù dâm, dù loạn, dù cuồng phóng, dù khinh bạc... gì cũng được cả, miễn đừng tục. Nếu cố ý làm cho tục đi nữa thì cũng phải nhích lên trên sự tầm thường, mới xứng gọi là Thơ. Những câu như hai câu thượng dẫn, trong Tinh Huyết không ít. Không phải Hàn Mặc Tử không thấy. Nhưng nghĩ rằng cái dở cái xấu không cần chê, cũng cứ chết, nên phó mặc chúng trôi theo dòng thời gian mà đẹp của nghìn thu.
Những cái hay cái đẹp trong thơ Khê, trong hồn Khê. Tử nói rằng đây là trong bài tựa Tinh Huyết. Ở đây tôi không có ý định phê bình thơ Bích Khê, mà chỉ đưa ra những sự kiện đã xảy ra chung quanh thơ Khê, và trong cuộc đời thơ của Khê mà thôi. Nhưng không lẽ đi ngang qua ngõ người quen mà không ghé vào nhà trong giây lát. Cho nên không ngại “ba hoa”, không ngại mang tiếng “hùa theo Hàn Mặc Tử”, tôi xin nói thêm đôi đặc điểm khác của Khê mà Tử chưa nói kỹ.
Đó là điểm Bích Khê muốn sáng tạo tiết điệu mới cho Thơ Mới của mình.
Thơ Mới lúc bấy giờ chưa có khuôn phép nhất định. Nhưng về thể bát ngôn, các nhà thơ có danh đương thời không ai bảo ai, mà chung chung đều theo một qui luật:
Cắt mạch (nghỉ hơi) sau chữ thứ 3 thứ 5 hoặc thứ 6, chớ ít khi cắt mạch ở chữ thứ tư. Ví dụ:
Tôi không muốn/ đất trời xoay chuyển nữa
Với tháng ngày biền biệt/ đuổi nhau trôi.
Xuân đừng về! Hè đừng gieo ánh lửa!
Thu thôi sang! Đông thôi lại nẻo lòng tôi.
(Những Sợi Tơ Lòng – Chế Lan Viên)
Ta không muốn đợi ngày hơi thở tắt.
Cánh Thời Gian bay chậm quá! Người ơi!
Ngày cứ xuân, tủy cứ nóng, máu cứ tươi
Biển trần gian, thuyền hồn không gặp bến;
Mà sầu não, khổ đau nào ngớt đến!
(Máu xương - Chế Lan Viên)
Vì nếu cắt mạch ở chữ thứ tư, thì phân câu thơ thành hai đoạn 4 chữ, vấp phải thể tứ ngôn của nghìn xưa! Nhưng để biến đổi điệu thơ, tác giả cũng không tránh hẳn, song trong 1 bài thơ chỉ dùng vài ba câu “song phân” mà thôi.
Bích Khê không ngại điều cấm kỵ “biến nguyên hình thể Tứ ngôn cũ” nên thường cắt mạch ở giữa câu 8. Và chẳng những không tránh lối cắt mạch “song phân”, lă,s lúc Khê còn dùng cho toàm bài là khác. Như bài Nhạc sau đây là một:
Ô! Nắng vàng thơm.../ rung rinh điệu ngọc,
Những cánh hồng đơm,/ - những cánh hồng đơm
Nhẹ nhàng, nhịp nhàng/ thở đều trong sương;
Màu trăng không gian/ như gờn gợn sóng.
Từ ở phương mô nhạn mang thơ về,
Đàn thơ cơ hồ lên cung âm điệu.
Đây giây trinh bạch khóc mướt trong mơ;
Đây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ?
Ô! Côi lầu mây ánh gì kim cương,
Áo nàng thơ ngây nao nao nghê thường.
Thơ bay! Thơ bay vô bàn tay ngà,
Thơ ngà ngà say! Thơ ngà ngà say!
Nàng ơi! đừng động… có nhạc trong giây,
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây;
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,
Ô nàng tiên nương! Hợp nhạc đầy hương.
Chẳng những cắt mạch ở giữa câu, Khê còn dùng cả vần “lưng” (yêu vận), khi thì chỉ hiệp với vần lưng câu dưới, hoặc vần “chân” (cước vận) trong câu, khi thì hiệp cả vần chân trong câu và vần lưng câu dưới, khi thì vần lưng hiệp với vần lưng, vần chân hiệp với vần chân...
Hàn Mặc tử khen:
- Tác giả khéo dừng hơi (césure) và hạ vần ở chữ thứ tư, làm cho câu thơ nửa như riêng tây nửa như thuận hòa.
- Lối thơ nầy tạm gọi là lối “song phân”.
Trong Tinh Huyết còn một lối đặc biệt nữa, là lối “bình thanh” : cả bài thơ dùng toàn tiếng bình, hoặc chỉ chen vào vài ba tiếng trắc không làm hại đến không khí thái bình của bài thơ.
Bài “Tỳ bà” và bài “Hoàng hoa”, gồm một bài 16 câu, một bài 18 câu, đều toàn tiếng bình. Toàn bích là bài:
TỲ BÀ
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Buồn lưu cây đào xin hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông
Và bài “Nghê thường” có lẫn một ít tiếng trắc, gồm nhiều đoạn tuyệt hay, như:
Ô trời hôm nay sao mà xanh!
Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành,
Nhưng mây tê ngời sao kim cương,
Dạ lan tê ngời say men hương;
Lầu ai ánh gì như lưu ly?
Nụ cười ai trắng như hoa lê?
Thủy tinh ai để lòng gương hồ?
Không gian xà cừ hay san hô?
Xuân Diệu có bài “Nhị Hồ” trong cũng có mấy câu bình thanh:
Trăng vừa đủ sáng để gây mơ,
Gió nhịp theo đêm không vội vàng;
Khí trời quanh tôi làm bằng tơ.
Khí trời quanh tôi làm bằng thơ.
Cây cỏ bình yên, khuya tĩnh mịch
Bỗng đâu lên khúc Lạc âm thiều...
Nhị hồ để bốc niềm cô tịch,
Không khóc nhưng mà buồn hiu hiu.
Điệu ngã sang bài Mạnh Lệ Quân,
Thu gồm xa vẳng tự muôn đời.
Sương nương theo trăng ngừng lưng trời.
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi...
Tiếng đàn thầm dịu dẫn tôi đi
Qua những sân cung rộng hải hồ,
Có phải A-Phòng hay Cô-Tô?
Lá liễu dài như một nét mi.
... Và nàng Lộng Ngọc lấy Tiêu Lang,
Cỡi hạc một đêm bay lên trời.
Vua Trần Hậu Chúa ngó trăng vàng,
Khúc hậu đình hoa đương lên khơi.
Linh hồn lưu giữa bể du dương...
Tôi thấy xiêm nghê nổi gió lùa:
Những nàng cung nứ ước mơ vua
Không biết bao giờ nguội nhớ thương.
Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi,
Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng.
Toi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng,
Trong cung nhớ nàng Dương Quí Phi.
Bài Nhị hồ rất được người đương thời chú ý. Không ai dám quả quyết rằng lối thơ “bình thanh” của Bích Khê phát xuất từ bài Nhị Hồ của Xuân Diệu, hay Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của Bích Khê, hay chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà trong lang thơ cổ kim vẫn thường thấy. Nhưng dù sao, Bích Khê cũng đã đi xa hơn Xuân Diệu, là tạo nên một lối thơ hẳn hoi, lối “bình thanh”.
Hai lối “song phân” và “bình thanh” được nhiều người hưởng ứng. Song ngoài mấy bài của Bích Khê ra, không có bài nào được truyền tụng. Dần dần hai lối nầy lịm đi rồi chết hẳn. Tuy vậy những vần giai tác của Bích Khê vẫn lưu truyền, vì chẳng những có giá trị lịch sử mà còn có giá trị văn chương. Và hai lối thơ mới sáng chế này cũng là hai đặc điểm đáng kể của Tinh Huyết.
***
BÍCH KHÊ chịu ảnh hưởng những nhà thơ nào?
Ở ngoài thì Bích Khê chịu ảnh hưởng Baudelaire và Valéry là hai thi hào của Pháp, như Hàn Mặc Tử đã nói rõ trong bài tựa.
Còn ở trong nước thì Khê chịu ảnh hưởng Hàn Mặc Tử (phần lớn) và Chế Lan Viên (phần nhỏ).
Bích Khê hết sức thương yêu và kính trọng Hàn Mặc Tử. Những bức thư và những bài thơ của Tử gởi cho Khê, Khê coi quí báu hơn vàng ngọc. Và những lức đến thăm Tử, Khê ngồi sát một bên, cầm tay ôm lưng như một tình nhân, không chút kiên dè bệnh hoạn. Khê coi Tử và Khê là một. Cho nên chịu ảnh hưởng là lẽ tất nhiên. Ai đã xem qua thơ Khê và thơ Tử thì thấy rõ. Đây xin cử ra đôi điểm dễ thấy nhất:
- Trong thơ Tử thường có “hồn” và “máu”. Trong thơ Khê thỉnh thoảng cũng có “máu” có “hồn”.
- Tử có “Lệ Kiều” thì Khê có “Ngọc Kiều”.
- Tử say “trăng” thì Khê cũng mê “trăng”, vân vân...
Chịu ảnh hưởng nhưng thơ Khê vẫn giữ bản sắc riêng, có giống thơ Tử chăng, cũng chỉ giống một vài chi tiết. chúng ta thử đem bài “Tối Tân Hôn” của Tử và bài “Tân hôn” của Khê ra đối chiếu:
TỐI TÂN HÔN
Là sợi đường tơ dịu quá trăng,
Là bao nhiêu ngọc cũng chưa bằng,
Cả và thế giới như không có;
Một vẻ yêu là một vẻ tân.
Đã có khi nào có ước mơ
Rồi đây khai mạc cuộc đời thơ...
Bằng đêm hôm ấy, êm như rót
Lời mật vào tai ngọt sững sờ!
Những cái gì thơm đã đến kề,
Tôi e tình tứ bớt say mê,
Không còn ý nhị ban đầu nữa;
Sẽ chán chường và sẽ chán chê.
Cho nên tôi tưởng tối tân hôn
Chưa tới, còn xa để được buồn...
Để sống trong niềm thương nhớ đã,
Để còn mườn tượng đến giai nhơn.
H.M.T.
TÂN HÔN
Ồ lạ! làm sao thương nhớ quá!
Đêm nay trăng ngủ ở bên đường
Hồn nhiên bao hốt mơ trăng lạnh
Để giả vờ như ấp bóng nường!
Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ!
Không hay sao ốm lả hoa tàn!
Và đêm nay khóc cho nên mới
Lộ một sông trăng chảy lệ vàng!
Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ!
Không hay xuân kín vỡ màng trinh!
Ngoài kia gió lá lòn qua cửa (*)
Chứng kiến làm sao chuyển đến cành?
Mộng rớt đêm nay như chất ngọc;
Người ta say nghiến những men tình;
Tôi hoan hô – phút giây thần diệu!
Chết giả nhưng cười trắng thủy tinh.
B.K.
Hai bên chỉ giống nhau ở đề bài, còn thơ thì tánh chất lẫn sắc thái đều khác hẳn nhau. Hai bên đều nói đến tối tấn hôn của người, chớ không phải của mình. Nhưng cô nương đêm tân hôn, đối với Tử là “người dưng nước lã”, còn đối với Khê là người “đáng lẽ mình được hưởng tối tân hôn”. Cho nên vị thơ của Tử nghe ngọt, vị thơ của Khê thấy đắng; lời thơ của Tử như ru, lời thơ của Khê hơi gắt. Vì khách quan nên Khê nói đến người trong cuộc nhiều. Vì chủ quan nên Khê nói đến người ngoài cuộc – tức là mình không nhiều. Ý Tử đi xuôi, ý Khê đi ngược. Cùng diễn một ý, cùng nói một việc, mà Tử thì bóng bẩy: “khai mạc cuộc đời thơ”, còn Khê thì sỗ sàng: “xuân kín vỡ màng trinh”. Cả hai tứ đều mới và đều có “dâm vị” nhưng rất thanh.
Những điểm dị đòng giữa Tử và Khe, đại khái là thế. Ảnh hưởng của Tử đối với Khê chẳng khác một trận mưa xuân đối với vườn hoa hồng đương hàm tiếu; những giọt nước còn đọng đã trở thành những “giọt hoa”.
Còn Chế Lan Viên đối với Bích Khê, ảnh hưởng cũng như tình thân không bằng Tử. Vì Khê mới làm quen với Chế sau khi Hàn Mặc Tử mất và chỉ gặp Chế có một lần ở Bảo An Đông (Quảng Nam) tại nhà Lạc Nhân (6). Trước kia Bích Khê biết Chế Lan Viên qua Điêu Tàn, Chế Lan Viên biết Bích Khê qua Hàn Mặc Tử. Biết chớ không quen, nhưng rất mến phục tài nhau. Khê khen Chế là một thần đồng và tập Điêu Tàn đã tác động tâm hồn Khê khá mạnh. Nếu thơ Hàn Mặc Tử là trận mưa xuân, thì Điêu Tàn là trận gió xuân cho vườn hoa Bích Khê chóng nở.
Trong thơ Khê có đôi ngấn tích của Điêu Tàn:
-- Điêu Tàn có “Sọ người”, Tinh Huyết cũng có “Sọ người”.
-- Chế Lan Viên nói:
Rồi lấy ra một khớp xương rợn trắng
Nút bao dòng huyết đẫm khí tanh hôi
Tìm những “miếng trần gian” trong tủy cạn,
Rồi say sưa vang cất tiếng reo cười.
(Xương khô)
Thì Khê cũng nói:
Nghe nguồn tinh, trong một lúc ngửa nghiêng,
Đàn hờn khóc cho nhịp nhàng xương máu,
Nút nhựa mạnh – trong một hơi rất báu,
Cho tâm tư sảng khoái khắp làn da...
(Sắc đẹp)
Nghĩa là Chế “nút huyết đẫm khí”, thì Khê “nút nhựa máu và tinh”, và cả hai đều lấy làm thích khoái.
-- Chế có câu:
Trăng chưa lấp đầy xương chưa ngấm tủy;
Hồn vẫn còn chưa uống hết hương hoa.
(Tắm trăng)
Thì Khê cũng có câu:
Hồn ta say trong nhạc vàng kể lể
Tình ta dâng trong gợn sóng thu ba
Cả máu đào tủy trắng với xương ma...
(Châu)
Trong thơ Chế, yêu tinh thường hiện hình. Trong thơ Khê, bóng ma cũng hay thấp thoáng.
Vân, vân...
Có giống nhau thật đó, nhưng chỉ xem qua đôi đoạn thượng dẫn, chúng ta đủ thấy rõ rằng hai bên “không đồng giống” mà chỉ “đồng loài” thôi.
Các nhà phê bình đã để Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên và Bích Khê chung một trường, “trường Thơ Loạn”.
Gọi là “Loạn” là vì ba nhà thường nói những điều mà người có não bình thường không bao giờ nói tới, và theo lý luận người bình thường, chỉ có người loạn não (tức người điên) mới nói mà thôi. “Thơ Loạn” còn có nghĩa nữa là loại thơ làm cho người đời bị loạn tâm thần khi đọc. Chính tên “Trường Thơ Loạn” là tên của Hàn Mặc Tử đặt ra. Cho nên tập Thơ Mới thứ hai của Tử gọi là “Thơ Điên”, Chế Lan Viên và Bích Khê “không có đơn xin gia nhập”, song các nhà phê bình thấy Chế và Khê “cùng loài” – loài phi cầm – với Tử nên sắp chung vào một trường đó thôi. Kể cũng ổn lắm. Vì ngoài tánh cách “đồng loại” ra, thơ Tử, Chế, Khê lại còn “đồng chất” : chất SẦU.
Cùng “loại phi cầm” nhưng thơ Tử là “giống phụng hoàng”, thơ Chế là “giống đại bàng”, thơ Khê là “giống khổng tước”. Giống nào vẻ nấy, vẻ nào cũng đáng yêu.
Cùng một chất SẦU nhưng thơ mỗi nhà có một khí vị riêng biệt:
-- Thơ Tử thì đau thương,
-- Thơ Chế thì chán nản,
-- Thơ Khê thì ray rức.
Vị sầu trong thơ của ba nhà là thế. Thật chẳng khác vị chua của khế, của chanh và của dấm. Muốn biết rõ như sao thì phải tự mình nếm lấy, nghĩa là nên ý hội chớ không thể ngôn truyền.
Nói tóm lại: chúng ta không thể coi thơ Tử, thơ Chế, thơ Khê là ba anh em ruột, nhưng không ai có thể chối cãi rằng đó là anh em thúc bá đồng đường. Và những thi sĩ có tài – ngoài nước cũng như trong nước – một khi đi ngang qua tâm hồn Bích Khê thì đều để lại trong thơ ít nhiều vang bóng và hơi hám hoặc trên hình thức hoặc trong tinh thần. Nhưng những ảnh hưởng ấy chẳng những không làm hại đến bản sắc thơ Khê, mà còn giúp cho thi tài của Khê thêm nẩy nở.
***
Nội dung của tập TINH HUYẾT đại khái là thế.
Xin nói qua “cuộc đời” của tập thơ.
TINH HUYẾT do Hàn Mặc Tử đề tựa, Trọng Miên đề bạt và xuất bản.
Mối tình giữa Tử và Khê như thế nào, quí bạn đã rõ. Còn giữa Bích Khê và Trọng Miên, tình thâm thiển như sao, chắc có nhiều bạn chưa được biết.
Bích Khê và Trọng Miên, quen biết nhau đầu năm 1939, là do Hàn Mặc Tử giới thiệu. Sau khi thơ từ qua lại với nhau được ít lâu thì hai bên gặp nhau ở Phan Thiết để bàn về việc xuất bản Tinh Huyết: Khê bỏ tiền ra in, Miên đứng trông coi hộ. Nhưng để tỏ chút tình thâm giao, Bích Khê cho in nơi sách là “Trọng Miên xuất bản”.
Sau khi Tinh Huyết ra đời Khê vào Sài Gòn thăm Miên. Đó là lần cuối cùng hai bên giáp mặt. Cho đến khi mất, thỉnh thoảng Khê mới gởi thư cho Miên hoặc được thư Miên gởi đến.
Tuy vậy sự quen biết với Trọng Miên làm cho Khê thêm tin tưởng tài năng của mình và giữ vững lập trường nghệ thuật.
Trước kia Khê có cảm tình với thuyết Các Mác, tin rằng xã hội Cộng sản là thiên đàng của thế gian, nhưng từ khi đọc quyển Retour de I’URSS của André Gide và nhất là từ khi biết Mallarmé, Baudelaire, Valéry và Hàn Mặc Tử thì Khê thay đổi quan niệm về Thơ, bỏ thuyết “nghệ thuật vị nhân sinh” mà theo thuyết “nghệ thuật vị nghệ thuật”.
Bài “Bán thơ” trong đó có câu “Để công phấn đấu với đời” đã phản ảnh rõ ràng tấm lòng của Khê lúc muốn “lên thiên đàng Cộng Sản”. Rồi từ địa hạt “phấn đấu”, Khê nhảy vọt sang địa hạt thơ thuần túy, nhảy từ Bắc cực sang Nam cực một cách “ngon lành”, không chút e dè, do dự. Tuy vậy thỉnh thoảng vẫn nghĩ:
-- Nếu chủ trương “nghệ thuật vị nhân sanh” không đúng, sao lại có nhiều người theo? Và làm thơ thuần túy, không biết mình có theo kịp những người đi trước mình?
Trong những bức thư trao đổi, trong những câu chuyện trao đổi, thấy Trọng Miên đồng quan niệm cùng các nhà thơ Tượng Trưng Pháp và Hàn Mặc Tử, thấy Miên quả quyết rằng “cuộc sống và thi văn của nhà nghệ sĩ chân chính phải đi đôi với nhau. Nghệ thuật trên tất cả. Thơ phải thuần túy, không có thiện, không có ác đối với hạng thi sĩ chân chính”, và thấy Miên thành thật khen Tinh Huyết trong bài Bạt, thì Khê vững bụng tiến bước trên con đường mình đã sang và quyết tâm đi cho tới đích.
Lúc bấy giờ Trọng Miên làm chủ bút cho tạp chí “Trong Khuê Phòng”. Bài tựa của Tinh Huyết và bài bạt đều đã đăng ở Trong Khuê Phòng, trước khi in vào sách.
Tuy ở Sài Gòn, Trọng Miên lại gởi Tinh Huyết ra in ở Hà Nội, tại nhà in Thụy Ký. Bởi vì Sài Gòn lúc bấy giờ nghệ thuật in chưa được tiến bộ, in sách đẹp phải nhờ nhà in Hà Nội thì mới vừa lòng. Lại thêm đường giao thông mau chóng, việc sửa bản in thử (morasse) từ Hà Nội gởi vào, cũng không trở ngại bao nhiêu. Sách in xong vào cuối tháng 12 năm 1939.
Thơ, thời nào cũng vậy, in ra là lỗ vốn. Thời bấy giờ trừ những tập “Mấy Vần Thơ” của Thế Lữ, “Thơ Thơ” của Xuân Diệu và “Lửa thiêng” của Huy Cận, nhờ Phong Hóa, Ngày Nay quảng cáo và nhờ Tự Lực Văn Đoàn ủng hộ, nên bán rất chạy, còn các tập khác thì hầu hết, số bán ít hơn số tặng bạn bằng. “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư đã được bè bạn làm quảng cáo rầm rộ hơn một năm trước khi xuất bản mà còn bị ế, huống hồ Tinh Huyết chỉ có một nhóm tri ân, âm thầm âu yếm. Song có hề gì. Nuôi con khôn lớn thấy nó ra đời được là mừng còn địa vị xã hội của nó như sao là tùy tai, tùy cảnh, cha mẹ cũng không cần phải bận tâm.
Tinh Huyết ra đời xong, Bích Khê tiếp tục đọc sách và làm thơ. Nhưng từ 1940 trở về sau, sức khỏe của Khê sút kém dần dần nên công việc sáng tác không được thường xuyên như những năm 1937, 1938, 1939 và 1940.
Bài “Hàn Mặc Tử” sau đây là một trong những bài có giá trị nhất của Khê làm sau Tinh Huyết:
Bóng nào nhợt như ma
Khắp châu thân hổn hển
Huyền hồ nhìn không ra
Lưu luyến dường thiết tha
Chờm chờm trên giường bệnh?
Bóng nào nhợt như ma
Khắp châu thân thấp thểnh
Huyền hồ nhìn không ra?
Hay là tôi hoá hai
Đã chết đi một nửa?
Hay là trời ban mai
Bị mù sương vây bủa
Làm buồng ngập hoàng hôn
Ảnh hưởng tới linh hồn
Tiều tụy!
- Hiện ra hình uỷ mị?
Bóng nào trắng dần ra
Trên đầu đơm vòng hoa
Khắp thân in màu tuyết
Trong trẻo và diễm tuyệt
Tơ tơ gần như nguyệt
Biếc biếc gần như thu
Đều qui trên nét mặt?
Hoàng hôn mai mờ sắc
Buồng ban mai trắng ra
Ôi, ôi không là ma
Đừng nhìn trong ý tứ
Quạnh quẽ nhận không ra
Gần rồi không còn xa:
Hàn Mặc Tử!
Châu lệ thắm tình say
Gặp gỡ có hôm nay
Chiêm bao ngày liền ngày
Ngoài mình, ai mà hay?
“Anh ơi từ đâu đến?
Em buồn em đang bệnh!
Anh ơi sao ra hai
Huyền hồ trong phôi thai
Hóa thân trong phương phi?
Người em rày mệt quá
Mà rày gặp cố tri
Hai tay đây rã rã?
Dìu lấy cùng nhau đi!”
Lời nức ra hơi hương
Dìu dịu toả trong buồng:
“Anh ơi tôi mới đến
Là hiện thân của bệnh
Quằn quại đau xót xa
Máu mủ nhìn không ra!
Giờ phương phi! phương phi!
Là hình thơ tinh vi
Là hình thơ qui y
Mướt trong màu tuyết vẽ!
Hai ta đều quạnh quẽ
Đứt ruột nhớ thương nhau
Nấn ná sẽ lìa nhau
Chiêm bao còn thấy nhau!”
Rùng mình ta nhìn ra
Huyền hồ đà như ma
Ôi không phải là ma
Gần sao mà còn xa?
Lại đâu là quê nhà?
Hàn Mặc Tử! Hàn Mặc Tử!
-- Qui Hoà! Qui Hoà!
Bài này Khê ghi lại giấc chiêm bao thấy Tử đến thăm. Thơ chưa kịp gởi đến Tử thì tử đã qua đời! Thế là thơ gặp nhau thành thơ điếu nhau!
Bài thơ cho chúng ta thấy:
-- Tình Khê đối với Tử thâm thiết biết chừng nào!
-- Nỗi buồn thương của Tử và của Khê – cả hai đều mắc phải hai chứng trong bốn chứng nan y ở thế gian, thật không biết đâu mà lường! Và nỗi buồn thương của hai nhà đã biến thành thơ, thành “hơi thở của họ”.
-- Lời thơ của Khê đã nhuyễn hơn Tinh Huyết, chúng ta không còn thấy ngấn vết dụng công.
Nhưng Khê lại cho kỹ thuật bài Hàn Mặc Tử không cao bằng bài “Xuân tượng trưng” và bài “Lên Kim Tinh”.
Năm 1941, Hoài Thanh chuẩn bị soạn quyển Thi Nhân Việt Nam, viết thư vào xin thơ Khê. Khê cho biết rằng Khê thích nhất là “Duy tân, Nấm mộ Bích Khê và Giờ trút linh hồn”. Cách 10 tháng sau, Khê lại viết thư bảo Hoài Thanh rằng Khê “thích bài Xuân tượng trưng hơn cả”.
Đến năm 1943, Khê gởi hai bài “Ngũ Hành Sơn” (bài Tiền và bài hậu, (7) vào Nha Trang cho Chế Lan Viên và các bạn xem với câu:
-- Tấm lòng bình sinh tôi đã gởi hết vào hai bài nầy. Không làm thơ nữa cũng được.
Nói là nói vậy chớ sau đó Khê vẫn gởi một số thơ nữa vào cho Chế Lan Viên và các bạn thưởng thức. Cũng có nhiều bài hay. Song không sánh nổi cùng các bài kể trên.
Vào khoảng cuối thu 1943, Khê gởi tất cả bản thảo những bài thơ làm sau Tinh Huyết cùng một số thơ trong Tinh Huyết đã chỉnh sửa chữa lại (trong đó có bài Tranh Lõa Thể), vào Nha Trang để Chế Lan Viên cùng các bạn chọn lựa để cho xuất bản vào dịp Tết 1944. Ngoài những bài thơ mới, Khê lại kèm theo độ vài chục bài thơ cũ (Đường luật và ca trù) rút trong tập “Mấy dòng thơ cũ” (1931-1936).
Tập thơ lấy tên là ĐẸP.
Vì Khê giao cho Chế Lan Viên và các bạn Nha Trang trọn quyền thủ xả, nên những thơ trích trong “Mấy dòng thơ cũ” đều bị loại. Bởi “một cô gái tơ vận Âu trang tối tân mà cặp một ông lão món mén đội khăn đen lợt màu, đi giày hạ mòn đế, bước vào nhà khiêu vũ, thì coi sao được”.
Nhưng Bích Khê phản đối, bảo rằng những bài thơ cũ ấy đã được cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng nhiều người học thức ở Quảng Nghĩa khen là giai tác, nên không thể bỏ được.
Trong những bài thơ cũ được khen là “giai tác” đó có các bài thơ vịnh sử (Lê Thái Tổ, Nguyễn Huệ, Lý Thường Kiệt, v.v...) mà Khê bảo rằng đã được khen là “từ trước đến nay chưa có bài vịnh sử nào hơn”. Xin trích dẫn một bài:
LÊ THÁI TỔ
Non sông chung đúc đáng phi thường
Vì nước đem thân trải chiến trường.
Khiếp vía quân Minh vùng Lạc Thủy,
Rơi đầu tướng Liễu trận Chi Lăng.
Gươm vàng một lưỡi thề non nước,
Lòng đỏ mười năm giãi tuyết sương.
Danh tiếng anh hùng gây sử sách,
Non sông ngàn thuở vẫn treo gương.
Những bài thơ cũ trích dẫn ở đoạn trên kia cũng có trong số thơ Khê chọn lựa.
Và bỏ thơ cũ ra, là chỉ bỏ số thơ Khê làm lúc trước. Những bài Khê làm sau này theo thể Đường luật hoặc cổ phong mà xét thấy hay, đều vẫn đem vào tập ĐẸP. Như “Mộng trong Hương”, “Gõ bồn”, “Gởi Liên Tâm”, v.v... Chớ đâu phải các bạn Nha Trang “có thành kiến với Thơ cũ” hoặc “sợ Mùa Cổ Điển bị lu mờ” như một vài vị ở Thu Xà đã lầm tưởng! (8)
Bị chạm lòng tự ái, các bạn Nha Trang, gởi hoàn lại tất cả những bản thảo và giấy tờ liên hệ cho Khê với lời yêu cầu “xóa bỏ việc lựa chọn và xếp đặt vừa rồi”.
Có lẽ Khê không bằng lòng nên ngót mấy tháng trời không thấy thơ từ chi cho Chế Lan Viên và các bạn Nha Trang cả. Đến Tết năm 1944, các bạn Nha Trang nhận được thư Khê tỏ ý hối hận về “sự không sáng suốt” của mình. Khê nói:
-- Thơ làm từ lúc trẻ đến 1936 đã đăng ở Tiếng Dân và các báo chí trong Nam ngoài Bắc, xem lại chỉ là những bài vận văn. Từ nay không nghĩ đến việc xuất bản chúng nữa.
Kèm theo bức thư, Khê gởi tập ĐẸP viết tay rất đẹp, viết y số bài Chế cùng các bạn đã lựa và theo thứ tự đã sắp. Khê nhờ chọn một trong hai tên Khê mới lựa là NGŨ HÀNH SƠN và TINH HOA để thay cho tên ĐẸP “nghe không được sướng tai” (9). Khê lại thêm:
-- Nếu không còn giận việc trước thì Chế Lan Viên phải đề cho một bài tựa, sau khi lựa tên cho tập Thơ.
Bạn thơ với nhau, giận nhau rất dễ mà hết giận nhau cũng không chút khó khăn. Cho nên Chế Lan Viên nhận ngay việc đề tựa cho tập TINH HOA.
Khê cho biết rằng Tinh Hoa sẽ ra đời vào ngày kỷ niệm của thi hào Khuất Nguyên, tức là ngày Đoan Ngọ năm Mậu Thân (1944). Chế đáp:
-- Hễ ngoài nớ chạy đủ tiền in thì trong ni có tựa gởi ra tức khắc.
Nhưng rủi thay! Thời cuộc mỗi ngày mỗi thêm rối ren. Qua năm 1944, tàu bay Mỹ thả bom phá Nhật gia tăng gấp mấy lần năm trước. Trung cũng như Bắc như Nam, đều không ăn yên ngủ yên. Thú đọc thơ không còn nồng nàn, mà sự để dành tiền để chạy giặc lại cần thiết, nên những người hứa giúp Khê in Tinh Hoa đành than:
Kiếp này duyên trót dở dang,
Nối duyên xin hẹn cùng chàng kiếp sau.
Năm 19......, chị Ngọc Sương đã chuẩn bị việc tái bản Tinh Huyết và xuất bản Tinh Hoa. Giấy mua rồi, bìa vẽ rồi, kiểm duyệt đã thẳng tay cắt những câu những đoạn “phạm húy” rồi. Nhưng rồi chẳng may, trong gia đình liên tiếp gặp những điều bất xứng ý, nên đành phải hoãn việc in!
Đó chỉ do thiện duyên chưa đến. Tưởng cũng không hại gì:
Cam La sớm gặp càng xinh,
Muộn màng Khương Tử cũng vinh một đời.
(Thơ xưa)
Tập TINH HOA rất có giá trị, giá trị cao hơn Tinh Huyết một bậc.
Nếu sánh cùng sông, thì Tinh Huyết là dòng sông mùa lụt, láng lai cuồn cuộn, song không thể giặt giải mũ của đám sỹ phu. Còn Tinh Hoa là dòng sông xuân, nước vừa thiếp bờ, dễ khiến khách mỹ nhân nghiêng mình cười nụ.
Nếu sánh cùng hoa, thì Tinh Huyết là khóm thược dược mọc bên bờ ao vắng vẻ, hoa nhiều nhưng lá lảy cũng nhiều. Còn Tinh Hoa là chậu hoa hồng có bàn tay săn sóc, nở thạnh nhưng không rườm rà.
Nếu sánh cùng nam nhơn, thì Tinh Huyết là vừa lớn lên, sắc sung khí hăng, lắm lúc muốn dời cả núi. Còn Tinh Hoa là con người “tam thập” tuổi đương xuân nhưng chuyện đời đã thấu rõ thiệt hơn.
Nếu sánh cùng thục nữ, thì Tinh Huyết là gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu. Còn Tinh Hoa là gái một con ngó mòn đôi mắt.
Hai bên hơn kém nhau đại khái như thế ấy.
Nói một cách “thực tế” thì Tinh Huyết, thi tứ dạt dào, Tinh Hoa, bút pháp già dặn. Trong Tinh Huyết nhiều khi “chất thắng văn” còn trong Tinh Hoa có thể nói là “văn chất bân bân” vậy.
Và chúng ta nhận thấy:
-- Tới Tinh Huyết, Bích Khê vụt ra đi theo Âu Tây.
-- Với Tinh Hoa, Bích Khê lần lần trở về với Á Đông.
Cho nên Tinh Huyết mang nhiều sắc thái của Tây phương, còn Tinh Hoa chứa nhiều khí vị của Đông phương.
Chúng ta sẽ thấy rõ khi đi sâu vào thơ Khê.
Có một điểm nổi bật là:
-- Trong Tinh Huyết, những bài xuất sắc phần nhiều là thơ Bát Ngôn hoặc Thất ngôn bình thanh, nghĩa là thơ làm theo thể mới. Như Tranh Lõa Thể, Sọ Người... Mộng Cầm Ca, Đồ Mi Hoa, Tỳ Bà, Hoàng Hoa... với những câu tuyệt tác:
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
(Tranh lõa thể)
Đâu hang báu cho người ta phải khóc?
- Trên môi son, ta liếc lưỡi gươm mềm!
Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc?
- Lưới lông mi rờn rợn ánh tơ đêm!
(Mộng Cầm Ca)
Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng!
Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương!
Ôi bình vàng! Ôi chén ngọc đầy hương!
Ôi hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng!
Ôi thần tỉnh! Người chứa một trời thương.
(Sọ người)
Ta những muốn sầu thương thôi biểu lộ.
- Sắc trong màu, màu trong sắc; hân hoan…
Ta những muốn mùa đông nhường lại chỗ.
- Nhạc gầy hương, hương gầy nhạc; lan man…
Ta những muốn màn đen về cõi mộ.
- Cả không gian là bể sáng tràn lan…
(Đồ mi hoa)
Buồn lưu cây đào xin hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông
(Tỳ bà)
Chàng ơi! hồn say trong mơ màng,
- Hồn ta! Hay là hồn tình lang?
Non Yên tên bay ngang muôn đầu…
Thâm khuê oan gì giam xuân sâu?
- Ai xây bờ xanh trên xương người?!
Ai xây mồ hoa chôn đời tươi?
(Hoàng hoa)
Những vần thơ ngâm qua thấy hay, ngâm lại càng thấy hay, đọc mãi không thấy chán, khen mãi không thấy ngượng.
-- Còn trong Tinh Hoa, những bài thành công phần nhiều là những bài làm theo thể ngũ ngôn, hoặc thất ngôn cổ phong. Như “Hàn Mặc Tử” đã trích dẫn trên kia và “Xuân tượng trưng” mà tác giả thích nhất, sau đây:
Hỡi lời ca man dại,
Điệu nhạc thở hơi rừng
Đêm nay xuân đã lại
Thuần tuý và tượng trưng
Nâng lên núm vú đồi
Sữa trăng nhi nhỉ giọt;
Bay qua cụm liễu phơi
Những cườm tay điểm hột
Sương. Phất phơ lau lách
Khe uốn mình giai nhân;
Đường non khéo điêu khắc
Những dáng hình khoả thân;
Lụa mây nẩy vàng chạm,
Tia ngọc bén màu ngân.
Chủ xuân đương triển lãm!
Lời ca như hạc theo
Gió lên. (Tình múa reo
Những điệu vàng châu báu,
Dường có con chim báu
Rỉa cánh trên ngai lòng)
Xoè xoè màu lông công
Vườn thơm khua sắc mát.
Rồng uốn vóc tùng cong,
Áo bạch mai khoát khoát
Môi đào chờ khoái lạc...
Hồn tôi như đỉnh hương
Bốc lên mình thánh giá!
Ý xuân mát đến xương
Ngậm tuyết phun lã chã!
Tuy là thể ngũ ngôn song cách điệu đều đổi mới, phép đặt câu dùng chữ chịu ảnh hưởng Tây phương. Chịu ảnh hưởng Tây phương chẳng những về hình thức mà thôi, bên tinh thần, vang bóng cũng có phần sâu đậm.
Ảnh hưởng Âu Tây chỉ còn phảng phất đủ gây một bầu không khí “văn minh” cho Thơ là hai bài Ngũ Hành Sơn, mà đây là bài Tiền:
Lên chơi hòn Non Nước
Gót trổ ngọc song song
Chàng ơi, đêm đã ướt
Mắt sao trên sườn cong
Long lanh ngời, sáng mướt:
Là gấm hay là nhung
Dệt lên đá linh lung
Những hình điêu khắc nổi
Sặc sỡ -- voi uốn ngà,
Cánh dơi nghe phất phới,
Tiên đồng bước giữa hoa,
Mục đồng lưng trâu cỡi
Thổi sáo bên rừng mai…
Bí mật trời Thiên Thai
Động Huyền không bốc khói!
Lờ mờ đường lên mây,
Chén trăng vừa tầm với
Chàng ơi, vàng ròng đây
Kề môi say ân ái…
Nhàu nhàu đệm rêu xanh,
Dầu dầu màn sương quynh,
Là là buông ren lụa,
Gót trổ gần mà xa…
Hiện lên đôi thạch nhũ,
Sữa trắng như tuyết pha
Nhi nhỉ nơi một vú…
Chàng ơi, lòng vữa sao
Khi hứng giọt thơm ngào!
Hình ảnh thật là giàu, nhưng chưa linh động bằng đoạn tiếp:
Thôi lên đài Vọng hải
Nhìn kim cương rưng rưng!
Nhạc vàng đâu bảy lại,
Thời nước lộn trong sương
Hình trập trùng múa nhảy
Trên nền sóng rung rinh
Những tiên nữ trắng tinh
Ngang thân làn biếc khỏa.
Ty trúc nhấn gần xa,
Lay bay hơi báu tỏa…
Miệng nào rục điệu ca?
Tóc nào buông lõa xõa?
Mắt nào điện long lay?
Tay nào như sắp bay
Cảnh tượng ở đoạn trên là cảnh tượng trên núi. Cảnh tượng trong đoạn này là cảnh tượng ngoài biển. Vẻ đẹp lộng lẫy và trong sáng. Nhưng đến khi thi nhân đưa chúng ta xuống hang Âm Phủ ở dưới chân núi, thì chúng ta không khỏi rùng mình:
Gió lồng hang Âm Phủ,
Hoa mộng thẫm màu thâm!
Bóng đa phờ tóc rũ;
Ô con tinh đứng, nằm
Đưa võng hát ru con,
Điệu buồn trơn giọng cú
Làm ứa mảnh trăng lòn!
Hai ta là mảnh vỡ
Của ngai báu Thiên đường;
Hai ta là chất bổ
Cắn ở trái Đau thương…
Chàng ơi, đêm nín thở
Để hồn biến ra hương…
Chập chờn trong nữ yêu,
Vào ra theo răng lựu;
Chập chờn trong ba tiêu
Đường mưa thu nhỏ giọt;
Chập chờn trong tiếng chuông
Điểm kinh ngân thánh thót;
Chập chờn trong bể sương
Lượn theo nếp y thường…
Hai ta là mảnh vỡ
Của ngai báu thiên đường;
Hai ta là chất bổ
Cắn ở trái Đau Thương…
-- Ái ân là ô thước!
Cây ngọc trổ văn chương –
Lên chơi hòn Non Nước
Ôm nhau chết bên đường,
Mơ màng trăng hạc rước…
Từ thơ thật là tân kỳ và cũng thật phong phú! Tác giả thổi hồn mình vào cảnh vật và sai cảnh vật biến hiện theo trí tưởng tượng của mình! Thật là kỳ thú! Người đọc bị hấp dẫn phải chạy theo dòng thơ đến cuối cùng, lắm lúc muốn dừng nhưng không thể hoặc không nỡ dừng lại.
Bài “Tiền” làm năm 1941. Bài “Hậu” làm năm 1943. Đó là hai bài “Tiền Xích Bích Phú”, “Hậu Xích Bích Phú” của Tô Đông Pha mà ra.
Bài “Hậu” dài 82 câu, hình ảnh cũng rất giàu và sức truyền cảm cũng khá mạnh. Xin trích một đoạn làm mẫu:
Kim, Mộc, Hỏa, Thổ lạy;
Trên dưới đất trời chầu.
Vàng sao ngời mắt rạng;
Sương châu nhỏ giọt sa.
Gọi sắc cỏ thơm dậy
Lẩn quất khí rừng hoa!
Gọi hồn đại hải lại
Nhập khói động Huyền Không!
Điểu thú về hết thảy:
Phụng hoàng múa theo công;
Rồng xuống khoe năm vẻ
Bạch viên ngoạm trái đào;
Thần tiên rủ yêu quái
Cử lên nhạc tiêu thiều.
Sực nức lò hương xông,
Trập trùng màu xiêm áo;
Lớt đớt trận mưa bông:
Phật Như Lai thoạt hiện
Trên bảy sắc cầu vồng.
Quái thay hòn Non Nước
Nghe giảng đủ mười tông!
Muôn năm lòng đá rắn
Nhuần thấm giọt từ bi
Biển xanh thay chất mặn;
Rừng thẳm lọc hơi sầu,
Hai bài “Ngũ Hành Sơn” đã trở về với Á Đông. Nhưng vẫn còn đôi dấu tích Tây Phương trong cách nghĩ và cách diễn đạt tư tưởng.
Trong bài “Tiền” vang bóng phương Tây có phần rõ hơn bài “Hậu”. Trong bài “Tiền”, tác giả còn nghĩ đến Thiên Đường, đến Thánh giá. Qua bài “Hậu” tác giả hồi hướng vê Phật Như Lai. Trong bài “Hậu” cách “ngắt đoạn sang hàng” (enjambement) theo thơ Pháp không còn nữa. Nhưng nếu gột rửa hẳn ảnh hưởng Âu Tây thì không sao có thể có những câu thuyệt thú như:
Sương châu giỏ giọt sa
Gọt sắc cỏ thơm dậy...
Thuần túy Á Đông là bài “Nam Hành” sau đậy làm théo thể thất ngôn cổ phong:
Mâm vàng đây, đũa ngọc đây
Tiệc hoa sáng, rượu chung đầy
Trông ra mây nước muôn trùng biếc,
Nước ái non tình bóng nguyệt rây.
Tiếp ly cạn, cạn ly đầy!
Năm con một vợ ngồi vòng xây
Nhạc chim thanh tước rót về đây
Đổ vàng cành lá lục.
Nâng chén tinh ròng ca một khúc:
Tiệc hoa hề, chén ngọc hề,
Giang hồ vút cánh sau chung rượu,
Năm vẻ rồng bay ánh sắc mây;
Vàng ròng bạc tốt trong tay trắng,
Danh nghĩa cao sang tợ mặt trời.
Tiếng xe rổn rảng sau bờ trúc,
Bóng vợ bóng con lẩn bóng cây;
Đông liễu tây đào ngồi khép nép,
Nẻo xuân rủ gấm phủ hoa đầy…
Mình ơi! Rót chén này
Nụ cười Bao Tự điểm xuân ngây,
Rạng màu yến tiệc ngọc lung lay.
Xa xa dường thoảng tiếng châu reo:
Dặm cỏ ven đồi huê lác đác,
Ngựa ai rung lạc tiếng trong veo.
Bài nầy cũng là 4 bài đắc ý của Bích Khê và làm vào lối cuối năm 1943, sau bài “Hậu ngũ hành sơn”.
Phải nói đến thời gian sáng tác, để chúng ta thấy rõ bước đi của Bích Khê trong đời thơ của thi sĩ.
Từ “Mấy dòng thơ cũ” Bích Khê bước sang “Tinh Huyết” bằng cách nhảy vọt của con nai chà, vừa lanh vừa gọn. Rồi với Tinh Hoa, Khê cỡi ngựa kiệu nước nhỏ trở về làng xưa, mình gấm đượm màu quê, không quá văn cũng không quá chất. Nói một cách khác: trong Tinh Huyết, Khê bỏ hẳn cái cũ đi tìm cái mới và gặp được cái hết sức mới trong vườn thơ Tây phương. Trong Tinh Hoa, Khê từ từ trở về Đông phương và đem những cái mới mình thu thập được làm phân bón cho vườn thơ cũa của mình.
Cái cũ trong “Mấy dòng thơ cũ” (1931-1936) và cái Mới trong “Tinh Huyết” (1937-1939) chúng ta đã thấy rõ qua những vần thơ trích dẫn ở các đoạn trước. Để chứng minh cho sự “trở về” của Bích Khê, trở về với một tinh thần mới, sắc thái mới, xin trích dẫn thêm một ít thơ nữa trong Tinh Hoa.
Những thơ Khê làm khoảng 1940-1941, phần nhiều còn chịu ảnh hưởng thơ Tượng trưng Pháp một cách sâu đậm không kém thơ trong Tinh Huyết, cả hình thức lẫn nội dung. Như “Duy Tân”, “Lên kim tinh” là những bài tiêu biểu:
Bài “Xuân tượng trưng” trích dẫn ở đoạn trên kia cũng làm trong khoảng 1940-41, nhưng làm sau “Duy Tân” và “Lên kim tinh”, (10) nên ảnh hưởng Tây phương đã bớt đi nhiều lắm.
Bài “Xuân tượng trưng” là nhịp cầu bắc giữa hai lãnh vực Tây và Đông, tiếp theo bài “Hàn Mặc Tử”.
Từ 1942 trở về sau, Khê không hay dùng thể thơ mới (Bát ngôn, Thất ngôn bình thanh...), mà thường dung thể thơ cũ (Ngũ ngôn, Lục bát, Song thất lục bát, Thất ngôn cổ thể và cận thể...)
Ngoài những bài làm theo điệu cũ và có phong vị Á Đông đã dẫn ở đoạn trước, Tinh Hoa còn nhiều bài khác rất đáng yêu như:
TIẾNG ĐÀN MƯA
Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng,
Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan;
Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn,
Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân.
Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống,
Cùng nước non mưa rụng hoa xuân.
Mưa rơi ngoài nội trên ngàn,
Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi.
Đầm mưa xuống, nẻo đồi mưa xuống,
Bóng dương tà… rụng bóng tà dương;
Hoa xuân rơi với bóng dương,
Mưa trong ý khách mưa cùng nước non.
Rơi hoa hết mưa còn rả rích,
Càng mưa rơi càng tịch bóng dương
Bóng dương với khách khá thương
Mưa trong ý khách xuân hàng lệ rơi.
Thể xưa nhưng điệu mới. Phong cách không thay đổi mà thi vị vẫn thanh tân, thì có bài
Bài nầy tiết điệu chịu ảnh hưởng Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm. Họ Lê lại đi xa hơn họ Đoàn một bước là thỉnh thoảng lập lại cả vần câu thơ. Cách lặp lại vần gây một âm hưởng là lạ nhưng dễ thương.
Có thể nói rằng Bích Khê trong khi phục cổ vẫn không quên cách tân.
Cho nên trong những bài theo các thể thơ cũ, không nhiều thì ít, bài nào cũng có chỗ tân tạo, nhưng vẫn giữ tính cách Á Đông.
Trong “Tinh Huyết” thể lục bát rất ít dùng. Trái lại trong “Tinh Hoa”, thể này lại là thể thông dụng nhất là từ 1943 trở về sau. Có nhiều câu giai tác như:
Tóc mây chảy suối hương nồng!
Em là Ngọc Nữ, Kim Đồng là ai?
(Mỹ tửu ca)
Nơi đây rụng đổ lá vàng,
Lăng vua xa lắm đặm đàng nhạt xanh.
(Huế đa tình)
Thân em là núi Thiên Thai
Vắng chân Lưu Nguyễn chẳng ai bạn cùng.
Mặt hoa trông tựa non Bồng,
Tóc mây một mái êm dòng Tiêu Tương.
(Băng tuyết)
Đối với thơ Cũ, các nhà thơ Mới chỉ đả kích thể Thất Ngôn Bát Cú tức thể Đường luật. Còn thể Thất Ngôn Trúc Chi, tức là 4 câu 1 đoạn, đoạn đoạn nối nhau, như nhánh cây trúc, vẫn thường dùng song song với thể Bát Ngôn là thể Thơ Mới. Trong Tinh Hoa cũng như Tinh Huyết có nhiều thơ làm theo thể Trúc Chi. Và trong tập trước cũng như tập sau, có nhiều câu khả ái. Như:
HỒ XUÂN HƯƠNG
Canh sương quán lạnh nguyệt tà song,
Bên gối hương lan đến ấp lòng.
Người vợ trong thơ gần cách mộng
Đêm nay chẳng biết có về không?
Văn chương quán thế không ai biết,
Trong mộng mình về thưởng với tôi.
Xanh liễu ngoài song thay đổi lá,
Đã ghen tài sắc mấy đêm rồi?
Đêm nay nửa gối nghiêng nghiêng mộng,
Muôn dặm người xa đã thấy về.
Xanh liễu ngoài song vừa đổi biếc
Màu thi sắc lá đọ dung nghi.
(Tinh Hoa)
Bài “Làng em” với những câu thanh diệu như:
Anh có khi nào còn trở lại,
Chờ lúc hoàng hôn trăng đã lên,
Tìm ngõ nhà em anh sẽ thấy
Khóm lan thơm nặng khí ưu phiền.
Cũng có một bài biểu thị cho tâm hồn và nghệ thuật của Bích Khê trong thời kỳ sau Tinh Huyết vậy.
Những bài Đường luật trong Tinh Hoa cũng đáng để ý.
Trong khoảng 1940-1945, Khê làm trên dưới mươi bài Thất Ngôn Bát Cú. Hai bài xuất sắc là “Gởi Liên Tâm” và “Mộng Trong Hương”:
GỬI LIÊN TÂM
Canh sương tiếng hát vẳng kia sông,
Thơ đẹp em đang ướp cạnh lòng.
Thưa chị đêm nay dường nhớ quá!
Đưa thư hồng nhạn biết mang không?
Một nhành mai trắng rung rinh ngọc,
Đôi cụm sao vàng lớt đớt bông.
Muốn thấy người xa trong giấc mộng,
Khuya lơ còn tựa ở bên song.
Trở về với Đường luật, song không bị phép tắc ràng buộc. Thật khác hẳn với “Mấy dòng thơ cũ”. Một bên là những quả đậu khô, một bên là những múi thanh trà lồng mới hái.
“Ở trong khuôn phép mà vượt ra ngoài khuôn phép, vượt ra ngoài khuôn phép nhưng vẫn không phạm đến khuôn phép”, làm thơ được như thế là tuyệt đỉnh.
Bài MỘNG TRONG HƯƠNG đã đạt được một phần lớn về nghệ thuật:
Nửa cánh giang hồ bạc nhớ thương
Đêm nay buồn lắm! gục bên giường…
Ngoài ly Lý Bạch trời như mộng,
Sau khói phù dung mộng cố hương
Thì mộng: Xuân Hương nường đã đến
Thưa cô, dáng nguyệt tuyết còn vương
Tỉnh ra thì thấy mình trong mộng,
Nửa mảnh trăng treo một mặt buồn!
Hai bài thơ này rất độc đáo. Trong số thơ Đường luật được truyền tụng từ xưa đến nay, không có bài nào cả thơ Hồ Xuân Hương, có “thái độ nghênh ngang” như hai bài của Khê, nhất là bài “Mộng trong hương”.
Luật thơ Đường có phần bó buộc, chỉ thích hợp với những tâm hồn trầm tĩnh, những tình cảm đã được tiết chế. Người sử dụng thể Đường luật phải ung dung trong chỗ bôn bức, phải giản lược trong chỗ phiền toái, phải tế nhị trong chỗ thô thiễn... Tình nhiều nhưng phải nén, khí mạnh nhưng phải dằng, dằng nén để dồn tất cả sinh lực vào bên trong cho Thơ được hàm súc. Đó là những điều cần thiết.
Cũng như Hàn Mặc Tử, Bích Khê là con người sống động, tâm tình buông thả tự do. Tánh phóng túng ghé vào thể thơ trang trọng mà chơi trong giây lát thì được, chớ ở lâu thì một là thể thơ hổng, hia là hồn thơ hư. “Mấy dòng thơ cũ” và những bài chị em với hai bài “Gởi Liên Tâm”, “Mộng trong hương” là chứng cứ cụ thể. Huống nữa, hai bài trên được ca tụng là vì chúng hơn hẳn số thơ cũ của tác giả đã làm từ xưa, và nhất là vì tứ thơ bay nhảy một cách ngang tàng nhưng không vấp váp trong một phạm vi nhỏ hẹp và trang nghiêm, điều xưa nay chưa thấy ai làm bởi không có gan hoặc không đủ sức. Chớ sự thật, đối với những áng thơ hay trong làng thơ cũ, thì hai bài trên thiếu bề sâu, đối với những bài thơ hay trong Tinh Hoa và Tinh Huyết, thì chúng kém phần dạt dào và giàu có.
Cho nên muốn tìm hiểu Bích Khê thì phải tìm ở các thể thơ phóng túng. Những bài Đường luật chỉ nên coi như những món tráng miệng trong bữa tiệc linh đình.
Hai bài Đường luật “Gởi liên tâm” và “Mộng trong hương” Khê làm khoảng 1940-1941. Từ 1942 trở về sau, Khê nhất định không làm nữa (11).
Và bài thơ cuối cùng của Khê có lẽ là bài “BĂNG TUYẾT” làm theo thể Lục Bát dài 66 câu. Nhiều câu khả ái. Như:
Từ em đã biết sầu xuân
Soi gương em những ngại phần dung nhan.
Hễ oanh ríu rít chân hoa
Ngựa hồng từ chốn ngàn xa lại về.
Quê nhà còn mấy khóm hoa,
Em về chăm chút kẻo mà hoa ôi!
Hoa trăng em đẹp hoa cười,
Em trông hoa đẹp em thời ngẩn ngơ.
Trong bản thơ chép tay của Thu An (cháu kêu Bích Khê bằng cậu ruột) có ghi rõ ở lạc khoản: Thu Ất Dậu – Thu Xà Thu năm Ất Dậu, tức là khỏng tháng 9 tháng 10 năm 1945. Lúc ấy Khê đã yếu lắm, cho nên tứ thơ không được dào dạt, khí thơ không được mạnh mẽ như trước kia. Những tác phẩm sản xuất trong khoảng 1944-1945, đại khái đều như thế cả.
Cho nên nhiều bạn đề nghị chấm dứt TINH HOA vào cuối năm 1943. Có lẽ Khê muốn cho xuất bản Tinh Hoa để chấm dứt một giai đoạn khác bắt đầu từ 1944. Nhưng thời cuộc và sức khỏe không cho phép Khê thực hiện ý định của mình.
***
Ngót 15 năm sau khi Bích Khê tạ thế (17/1/1946), tên tuổi cũng như sự nghiệp văn chương của thi nhân lặng lẽ trôi đi vào dĩ vãng!
Mãi đến năm 1960 làng thi văn mới bắt đầu nhớ lại Bích Khê. Người đầu tiên đã viết bài đăng báo là ĐINH CƯỜNG. Bài “Cuộc đời và Thi nghiệp Bích Khê” của họ Đinh đã đăng ở tạp chí “Văn hóa Á Châu” số 22, tháng 1/1960.
Nhưng vì Văn hóa Á Châu ít độc giả, nên bài của Đinh Cường không gây được ảnh hưởng sâu rộng.
Sau đó, nhờ có ĐINH HÙNG, là khách đa tình thương người đồng điệu, lớp viết bài ca tụng thi tài của Khê trên các báo chí ở Thủ đô Sài Gòn, lớp cho phổ biến những vần giai tác của Khê trên đài Phát thanh Quốc Gia, mà Khê sống dậy, sống dậy một cách vẻ vang khiến có người sanh lòng ganh tị!
Người ấy là người đồng châu cùng Khê, nhân nghe “Mục Tao Đàn đài Phát thanh Saigon nói về thi sĩ Bích Khê khiến người xứ sông Trà núi Ấn bỗng nhiên thấy khó chịu”. Người đó bảo rằng đáng lẽ ra “không muốn đả động đến, sợ e thương tổn vong hồn người quá cố; nhưng thấy rằng thi tài của thi sĩ Bích Khê chưa xứng đáng được ca ngợi một cách quá trớn như vậy... sợ e mất giá trị cùng uy tín chung cho đất nước... nên mới viết bài mạc sát đăng báo Tự Do, số 1.459 ngày 27/1/1962, nơi mục “Nói hay Đừng” do nhà văn Hiếu Chân phụ trách. Để làm trụ cột cho lời mạc sát của mình, người ấy trích dẫn hai bài thất ngôn tuyệt cú “Khóc Cha” và “Nạn lụt”, hai bài thơ Khê làm khi mới tập làm thơ mà người ấy đã thuộc được! Thật không quân tử tí nào hết.
Năm 1959, Hàn Mặc Tử được ca tụng trong một cuộc diễn thuyết tại hội trường Quốc Gia Âm nhạc, thì Vũ Hạnh tìm cách hạ uy danh Tử ở tạp chí Bách Khoa.
Đến lượt Bích Khê... lời kia nọ lại còn cay cú hơn cả lời Vũ Hạnh!
Nhưng những người thiện tâm thiện chí đâu có lấy làm điều. Cho nên mùa thu năm 1966, tập san VĂN cho ra một số đặc biệt để tượng niệm Bích Khê (12). Số Văn này đã làm cho một lớp người mới nữa chú ý đến Bích Khê. Thành thử, ngày nay thanh danh của Bích Khê đã trở lại trong làng thơ văn như thời Tiền Chiến, lúc Tinh Huyết và Thi Nhân ViệtNam ra đời.
Những người đã đọc kỹ thơ Khê, phần đông đều công nhận:
-- Bích Khê quả là một thi sĩ có tài lớn.
-- Thơ Khê rất độc đáo, cốt cách riêng biệt, sắc thái riêng biệt, không thể lẫn lộn cùng Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên được, mặc dù chịu ảnh hưởng lẫn nhau.
-- Trí tưởng tượng của Bích Khê thật phong phú và thuật sáng tạo của Khê cũng cao cường, khiến hình ảnh âm nhạc, gây nhiều hứng vị bất ngờ... Bích Khê mất quá sớm, kỹ thuật thơ chưa lên đến tuyệt đỉnh. Nhưng với số thơ để lại, chúng cũng đã đủ bằng có để tin rằng tinh thần của Khê nhất định bất tử:
(1) Thơ “Bán Sầu” và “Bán Thơ” của Khê không có người mua song có nhiều người họa lời rao đăng ở Tiếng Dân. Còn nhớ mấy câu: Nực cười cho bác Bích Khê / Bán sầu bị ế trở về bán thi / Tưởng rằng bác bán hàng chi / Hàng thơ đây tớ thiếu gì mà mua.
(2) Năm 1935, Mộng Cầm có đưa Tử đến thăm Khê, song chỉ thăm xã giao qua loa thôi (sẽ nói rõ ở chương cuối).
(3), (4), (5) Lời của Hàn Mặc Tử trong bài tựa Tinh Huyết. Những câu nằm trong vòng kép “...” trên đây đều rút ở bài tựa Tinh Huyết.
(6) Đã nói ở chương “Những quãng đời”.
(7) Bài Tiền sáng tác từ 1941, đến 1943 sửa lại và gởi cho bạn một lần cùng bài Hậu mới làm năm 1943.
(8) Theo lời trong thư Khê.
(9) Có nhiều người lầm tưởng rằng ĐẸP, NGŨ HÀNH SƠN và TINH HOA là 3 tập thơ. Khi Tinh Huyết ra đời đã quảng cáo tập Đẹp. Đó chỉ là lời quảng cáo thôi.
(10) Đầu năm 1941, Khê gởi thư cho Hoài Thanh bảo thích những bài “Duy Tân”, “Nấm mồ Bích Khê”, “Giờ trút linh hồn”. Cuối tháng 10 năm ấy lại gởi thư nói rằng “thích Xuân tượng trưng hơn cả”. Chính bài sau được Chế Lan Viên và anh em Nha Trang tán thưởng làm cho Khê tin tưởng sự tiến bộ của mình.
(11) Sẽ nói rõ ở mục sau.
BÍCH KHÊ: DÒNG THƠ,
KHOẢNG THƠ VÀ THỜI GIAN
Phạm Hoài Việt
Thời gian là một chuỗi dài vô hạn vì chưa ai có thể tìm điểm tận cùng hay bắt đầu của thời gian… Tuy thế người ta vẫn có thể tạo cho thời gian những giới hạn – là biên thành quá khứ, hiện tại, tương lai, là vùng, tuổi của con người…
Nếu Kant cho thời gian là sắc thái của tâm hồn, Berson cho thời gian là những hoài niệm và Proust là những cảm thức về bao nhiêu điều đã đánh mất, thì Bích Khê, thời gian chính là những bước chân người đi vào đời sạn, đá, từ đó vượt thoát ra khỏi thực tại buồn đau để thăng hoa vào vùng diễm tuyệt. Dĩ nhiên, trong cuộc đời vẫn có đủ hỷ, nộ, ái, ố… nhưng nói như kiểu nhà Phật “đời là bể khổ”. Vì khổ não triền miên nên mới tìm cứu cánh của cuộc đời. Mỗi người có một cách tìm riêng: có thể hướng đến một cái gì đó để tìm sự bằng an cho tâm hồn như Phật dạy trong kinh Pháp cú: “như thứ hoa tươi đẹp vừa có màu sắc lại có hương thơm những người nói điều lành hoặc làm được điều lành sẽ đưa lại kết quả tốt”. Đó là nẻo về của chính giáo. Có kẽ lại đi tìm những nguồn lạ mới mạc dần sau cuộc phiêu lưu tìm kiếm kia là một bãi sa mạc hoang vu nắng cháy. Van Gogh đã có lúc từ bỏ giáo hội với vai trò tôn nghiêm của mình để đến Borinage – miền Nam bỉ quốc – nhận chịu những nỗi đắng cay rồi trở thành kẻ uất ức điên cuồng…
Mỗi bước chân đi vào đời đánh dấu một sự thay đổi của tạo vật, do đó, thời gian là khoảng mới gắn liền với không gian. Với Kim Định, thời gian chia ra ba lãnh vực: thời gian khoa học thời gian sinh lý và thời gian tâm lý (1) thì Bích Khê, thời gian là cuộc đời, là bước chân đi vào đời để tìm đủ mọi yếu tố nào đó mà vượt thoát. Nhưng vượt thoát để làm gì? Vượt thoát khỏi cái gì? Và vượt thoát để đi về đâu? Đó là những câu hỏi mà cũng chính là ý nghĩa trong việc đi tìm thời gian của Bích Khê. Chàng cố gắng thoát ra ngoài sự ràng buộc của xác thân, của xứ sở, của cái gì có và đang có. Rời bỏ một xứ sở thâ yêu để đến nơi xa lạ, rời bỏ dãy núi xanh để đi về biển muối, rời bỏ vườn là thắm để vào bãi cỏ hoang, rời bỏ căn nhà thân thuộc để đến một thành phố quạnh hiu… Đó cũng là cách vượt thoát, có thể nơi đến chỉ có trong tưởng tượng, chưa hẳn đã hiện rõ trong không gian… Vượt thoát là một hình thức đi tìm, với Bích Khê, thời gian thực sự có xảy ra khi cuộc đi tìm vẫn triền miên và thắm thiết, vẫn trường kỳ và vô hạn, vẫn diễm tuyệt và vô biên. Thời gian là cái gì mời gọi (2), sau cuộc mời gọi là kỷ niệm, kỷ niệm là ký ức và ký ức là thời gian; nó đi suốt bằng vạn niên chu kỳ. Mỗi chu kỳ là một giới hạn, một giới hạn là một khoảng thời gian và mỗi phần tử cấu thành mỗi chu kỳ là một điểm thời gian…
Khi xét về Nguyễn Du, Nguyễn Đăng Thục viết: “… thi sĩ thấy một cảnh tượng, nửa thức, nửa ngủ như trong giấc mơ, tất cả không gian biến thành một màu vô hạn, tất cả thời gian lẫn lộn quá khứ hiện tại, cảnh La Phù lúc này là cảnh Hồng Sơn trong ký ức. Ở đây không hẳn là u buồn, không hẳn là nhớ nhung để mong mỏi một quá khứ yêu dấu trở lại. Đây là cái phút buồn nhớ đời dâu bể biến đổi với cái phút cảm thấy nó hư không vô bờ bến vậy (3). Thời gian ở đây không hạn định nên nó luân lưu đến một bờ vô định và trở lại cũng ở một bờ vô định. Đi về lẫn lộn nên ký ức con người không thể phân chia ranh giới, gần xa. Những chuỗi đời thân yêu của quá khứ có thể trở về lẫn lộn tùy theo lúc nhớ và đối tượng gợi nhớ của mình. Tất cả những gì đã qua đều là những nét thân yêu tác động thăm thẳm vào hồn người mỗi khi nhớ lại. Cho nên khi mơ về một vùng diễm tuyệt, quá khứ đôi khi cũng trở thành hiện tại và là một hiện tại vàng son vì hiện tại đó không tìm được trong hiện tại của cuộc đời. Do đó, Bích Khê thấy cuộc đời đi vào từng ngõ rẽ của Chân hư. Mỗi ngõ rẽ là một nơi vô định. Dòng thơ của chàng cũng đi vào từng ngõ rẽ nhưng mỗi ngõ rẽ là một chốn vô danh. Có lúc chàng cảm thấy lạc bước và nhìn thời gian tỏa ra từ những vùng viễn xứ và kết thúc ở những chốn tha thương… Viễn xứ là một miền đất lạ, một xứ thần tiên hay xứ sở của tương tư; viễn xứ cũng có thể là chốn La Phù, hay cảnh Hồng sơn. Nhưng dù ở đâu, viễn xứ là nơi bí hiểm mà hồn thi sĩ đang đi vào khai phá. Như vậy thì thời gian chỉ là những biến cố hay nói cách khác, là kẻ đồng hành của Bích Khê – từ một nơi xa xăm nào đó đến làm kẻ đồng hành để đi vào vùng viễn mộng, nơi vô định và vô biên…
“Thơ tôi bay suốt một đời không thấu
Hồn tôi bay biết bao giờ mới đậu” (4)
Dòng thơ vẫn đi mãi theo thời gian và nhờ thời gian dẫn dắt. Nơi tận cùng của thời gian là chân lý, là mỹ thể (5), Thi sĩ muốn mang thơ đến nơi cư ngụ của mỹ thể nhưng cuộc hành trình đi, tìm mỹ thể lại dài đằng đẵng mà mỹ thể lạc loài ở chốn tha hương như một tên tử tù muốn vượt thoát ra ngoài vòng kiềm tỏa của pháp luật: một bên đi tìm, một bên lẫn trốn mà xứ sở của kẻ lẫn trón thăm thẳm mịt mù nên kẻ đi tìm vẫn đi tìm ở nơi vô định. Đó cũng chẳng khác chi cuộc thả mồi bắt bóng:
“Thả mồi bắt bóng
Bóng chẳng bắt được
Mồi kia không còn
Thật là đáng tiếc” (6)
Đó cũng chẳng khác chi lý do của Bùi Giáng đưa ra: “Thằng thi sĩ có cái cảm tưởng cắc cớ rằng: nếu từ bỏ cái cuộc cặm cụi lay hoay bắt bóng nọ, đã đành là tránh được một cuộc đáng tiếc, nhưng vì lẽ gì, hởi ôi! Chính cái sự tình tránh được cuộc đáng tiếc lại chính đó là điều đáng tiếc khôn hàn, gay cấn nhất trong mọi sự đáng tiếc ở đời.
Do đó, dù biết rằng đuổi theo là đáng tiếc, là mòn thân mỏi thể, thân tàn ma dại v.v… vẫn cứ ù lì đuổi theo mãi suốt một bình sinh” (7). Đuổi theo mà không bao giờ theo kịp cho nên cứ đuổi theo mãi theo hoài có khi vì chậm rãi mà bị lạc bước vào một nơi nào đó. Nhưng hồn và thơ luôn luôn son ghành nên mỗi lúc lạc bước thi sĩ lại cảm thấy thời gian trở thành hư vô, bất tận, không quê hương, không xứ sở, không vùng trú ngụ.
Để giới hạn tính chất vô định của thời gian, Bích Khê đã tìm những điểm cho thời gian cư ngụ. Đó là những Biến cố. “Bàn tay ngà” (8) là biến cố hiện tại của thời gian. Trong quá khứ thời gian cũng đã tác động nhiều lần trên bàn tay người con gái, tác động đó bây giờ mất đi nhưng vẫn còn lại trong ký ức, thời gian đi từ vô thủy, ngang qua lúc người con gái sơ sinh, đánh dấu vào tuổi dậy thì (hiện tại = bàn tay ngà) rồi đến nơi vô định (tương lai = cát bụi = hư vô). Từ bàn tay nhỏ bé (nằm nôi) đến bàn tay búp măng (dậy thì), từ bàn tay đỏ bỏng đến bàn tay trắng hồng, từ bàn tay vô tình đến bàn tay hữu tình là những biến cố do thời gian tác động và làm biến đổi tính chất đầu tiên của con người hiện hữu…
“Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà” (9) là một đường đi dài thăm thẳm. Trong cái thăm thẳm mịt mù đó có một “giới hạn hiện tại, nhưng giới hạn mà hình như không có giới hạn nào bởi thời gian nào sẽ không ngừng mãi ở một giới hạn, cho dù giới hạn đó là người đàn bà đẹp, có đủ mọi yếu tố cần thiết để “đưa thời gian vào lối mộng”.
Nói cách khác, biến cố có nhiệm vụ ghi lại dấu thời gian đi qua, cho nên khi nhìn một biến cố, người ta liên tưởng đến quá khứ. Với Bích Khê, biến cố tức là sự cảm thức của tâm hồn trước đối tượng vô thức. Tác động của đối tượng vô thức rất mạnh mẽ, nên do đó, nó chính là hiện trạng của nỗi ưu tư khắc khoải trong tâm hồn thi sĩ:
“Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà
Thơ ngà ngà say thơ ngà ngà say!
Nàng đi đừng động có nhạc trong giây… (10)
Thơ bay rồi đậu. Thời gian bay rồi đậu rồi bay… Giời hạn của thời gian ở đây là BÀN TAY NGÀ, bên kia giới hạn là sự tận cùng của thế giới, là sự diệt vong. Do đó, nếu không có giới hạn tức không có những “dòng thơ” và “khoảng thơ”. Tôi nói “dòng thơ” là nói đến nhịp cầu giao cảm giữa người và người trong một khoảnh khắc đối diện. Bích Khê đã thực sự lấy thời gian để bắt nhịp cầu giao cảm giữa chàng và Song Châu (11), giữa chàng và Thanh Thủy (12), giữa chàng và Ngọc Kiều (13), giữa chàng và Minh Sim (14)… Và dòng thơ nằm yên trên giấy chính là nhịp cầu giao cảm giữa người đọc và người viết, giữa tác phẩm và người thưởng ngoạn. Cũng có thể dòng thơ là nhịp cầu liên kết giữa hữu thể và hư vô, giữa giới hạn và vô biên, giữa sự sống và sự chết. Không có thời gian thì không có dòng thơ, không có dòng thơ thì không có Bích Khê.
Thời gian → dòng thơ → Bích Khê → Bích Khê →dòng thơ → Thời gian.
Khoảng thơ là bước tiến của thời gian. Rõ hơn, nó chính là bậc thang (biến cố) cho thời gian bước… cho nên trong sự đột biến của từng biến cố, ngay cả trong dòng thơ và khoảng thơ, ta vẫn thấy có sự mâu thuẫn ở trong đó.
• MÂU THUẪN:
Chính là bước tiến của sáng tạo. Bởi mâu thuẫn là sự xung đột nội tâm. “Nước mắt ly sầu hay giả dối?” (15) biểu lộ một sự ngờ vực. Tại sao lại ngờ vực khi biết rằng “chỉ có mình cô khóc với cô” (16)? Tại sao lại ngờ vực khi biết rằng trong bất cứ một vở tuồng nào, diễn viên cũng chỉ đóng vai trò lặp lại. Những cử động của diễn viên không phải xuất phát tự tâm can của diễn viên mà theo những mô thức nào đó của vở tuồng? Có lẽ Bích Khê cho rằng, tiếng khóc của cô đào hát bộ là tiếng khóc của chính cô ta, phát xuất từ đáy lòng thành của cô ta. Mặc khác, chàng cũng có thể cho đó là tiếng khóc giả dối. Đó là hai ý tưởng trái nghịch nhau đang xung đột trong tâm trí của Bích Khê. Bởi sung đột nên chàng mới đi tìm chân lý của chàng… có sự xung đột tức có bước tiến – đúng hơn thì tìm được cái mới – Bước tiến là là bước đi vào vùng diễm tuyệt. Nhưng muốn đến vùng diễm tuyệt phải qua những thời kỳ tranh đấu nội tâm, mỗi cuộc tranh đấu là một lớp áo mới cho thơ. Cho nên thời gian được đánh dấu bằng sự mộng mơ “A ha! Mê luyến những hình tiên nga?” (18), nhưng trên thực tế làm sao chàng đến được vùng diễm tuyệt đó? Nếu thực sự chàng đã đi đến vùng diễm tuyệt thì chàng không còn mơ mộng nữa: Bước đi về của thời gian quả nhiên phức tạp, phức tạp bởi sự lọc lừa của những dòng thơ và những khoảng thơ.
• PHỨC TẠP: Kết hợp những cái không thuần nhất, không hoàn hảo. Không thuần nhất là vì, ngay cả Bích Khê, vẫn bị mê hoặc giữa chân hư, mộng thực. Nói như Hàn Mặc Tử “nhìn vào thực tế, thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu” (19). Không hoàn hảo là vì ngay trên cùng một lối đi ta vẫn thấy mỗi bước chân thi sĩ lướt qua, lại hiện ra trước mắt một vùng tương tự, một cùng mộng mơ khác. Cho nên chàng không bao giờ đến cõi mộng vì nếu đến cõi mộng thì không còn gì để nói “There was absolutely nothing to say!” cõi mộng là tuyệt đối kia mà!...
“Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà
Thơ ngà ngà say thơ ngà ngà say!
Nàng ơi! đừng động có nhạc trong giây… (10)
Diễn tả sự chậm bước của thời gian. Trong “Việt Nam thì nhân tiền chiến”, Nguyễn Tấn Long viết: “Bắt đầu từ đây thi nhân kéo chúng ta lướt thướt khong cõi u hoài, trong thế giới hào quang, gây cho ta những điệu đàn hòa dịu, ngọt ngào, vô cùng cảm khoái…” (20). Chính tiếng đàn hòa dịu, tiếng nhạc trong dây êm ả, đã khiến tâm hồn thi sĩ lâng lâng, quên đi thực tại, quên đi thời gian. Nói một cách khác, ý thức thời gian của chàng lúc này mờ mịt… Tiếng nhạc dẫn chàng vào một thời gian hỗn tạp, lẫn lộn giữa quá khứ, hiện tại, tương lai. Đôi khi thời gian vận hành chậm rãi theo từng bước đi của nhạc, bắt đầu từ bàn tay ngà, dừng lại ở bàn tay ngà, rồi đi vào nơi hoa mộng vào trời mây bát ngát bởi sự tưởng mơ, ở đó là cung Hường là Đào động. Tiên nương từng lớp xiêm y rực rỡ, uốn éo thân hình diễm tuyệt theo tiếng nhạc thoảng đến, như xa xăm, như gần gũi, tạo nên một khung cảnh mơ hồ.
Trong bài “Thi vị”, ta thấy Bích Khê lại chí thời gian ra thành từng điểm, mỗi một điểm đánh dấu một biến cố:
1. THỜI GẶP NHAU: Bắt đầu là sự chao động tâm hồn của thi nhân qua từng biến cố tình yêu. Thời gian ở đây được tô màu: màu vàng và màu vàng, diễn tả một trời tương tự vàng úa. Đoàn Phú Tứ cũng đã từng tô màu cho thời gian qua bài “Màu thời gian”:
“Màu thời gian không xanh,
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng,
Hương thời gian thanh thanh” (21)
Mỗi người có quyền tạo cho thời gian một màu sắc. Người Pháp thường bảo “thời gian màu canh”, nhưng ai cấm người Việt bảo thời gian là màu vàng, màu tím… Màu thời gian của họ Đoàn là màu nhớ lại, nhớ lại thời xưa, hồi người đương yêu, cứ thấy màu thời gian tím ngát vì người riêng thích một thứ hoa màu tím và màu hoa lẫn lộn với tình yêu” (22). Màu thời gian của họ Đoàn là màu kỷ niệm. Hoa tím là kỷ niệm của một mối tình thắm thiết xưa của thi nhân. Họ Đoàn còn cho thời gian một mùi hương đặc biệt. Đó là “hương thời gian”. Hương thời gian “là thứ hoa kia mà cũng là tình yêu, một thứ tình yêu qua đã lâu rồi, nên chỉ thấy thanh sạch, nhẹ nhàng” (23). Hoa tím tỏa ra mùi hương đặc biệt, không nồng như hương lài, hương lý mà lại thanh thanh, mùi thơm thoảng của một loài hoa tím. Như vậy, thời gian ở đây tùy thuộc hoàn toàn vào nỗi lòng của thi sĩ.
“Thời gặp nhau ở trong “Thi vị” là bắt đầu một cuộc tình có đủ nhân chứng: người yêu với người yêu. Ta không thể bảo ai là chủ thể, ai là khách thể vì người này là đối tượng của người kia
“Lá vàng rơi
(Tôi khóc anh ơi!)
Đàn rung tiếng
Người yêu đương ngồi”… (24)
Thời gian của Đoàn Phú Tứ có màu, có hương. Thời gian của Bích Khê giàu hơn nữa, có đủ sắc, hương, thanh. Sắc, hương, thanh là sự kết hợp toàn vẹn của thứ thời gian diễm ảo trong vùng mộng mơ diễm tuyệt của tình yêu.
Màu “thời gian vàng” là màu lá đầu thu, lá sầu đông, lá ngô đồng vàng rụng. Cả không gian đều là lá vàng rụng, cả không gian mang màu ảm đạm thu về. Và thời gian, nhờ lẫn gót trong không gian nên đã cùng màu sắc với không gian: Màu vàng của lá úa là màu của tương tư, màu cách biệt chia xa…:
“Quân tại Tương giang đầu.
Thiếp tại Tương giang vĩ,
Tương tư bất tương kiếm
Đồng ẩm Tương giang thủy” (25)
Cách xa là nỗi nhớ. Nỗi nhớ là mối chân tình. Thời gian đi xa ngàn vạn dặm với nỗi mong chờ:
“Nước sông Tương một nông sờ
Cho kẻ đấy người đây mong mỏi”. (26)
Nỗi mong chờ ở đây đã kết trái vì sự cách xa đã hiển nhiên thiên định. Nhưng “lá vàng rơi” chưa phải là sự cách xa mà báo hiệu một sự cách xa. Do đó, “thời gian vàng” ở đây là thời gian lo sợ sự cách xa nên khi nhận diện ra người yêu đang ngồi đó cũng là lúc nuốt lệ nghẹn ngào, ngùi ngùi một cuộc đưa tiễn trong tâm…
Hương thời gian ngùi ngùi, không phải thanh thanh như hương thời gian của Đoàn Phú Tứ. Ngùi ngùi là cảm thức của người yêu chứ không phải là mùi của lá. Nó chính là hoài niệm:
“Ôi nàng năm xưa quên lời thề.
Hoa vừa đưa hương gây đê mê.: (27)
Ngọc Kiều và lời thề cá nước towngr gắn bó keo sơn nhưng bây giờ nó trở thành mây khói hoàng hôn. Và vườn lá ngọc, sắc hoa thắm đã bị thời gian rũ tàn, còn lại màu vàng úa với buổi chiều hoang:
“Ô! hay buồn vương cây ngô đồng!
Vàng rơi! Vàng rơi thu mênh mông!” (28)
Đó là buổi chiều thu hiu quạnh, lá thu vàng, sương thu lạnh và hương thời gian vẫn là hương ngùi ngùi. Bài “Hoàng lạc lâu” của Thôi Hiệu, hai câu cuối cho ta cảm nhận được hương thời gian cách xa và nhớ nhung:
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thường sử nhân sầu” (29)
Đó cũng là hương ngùi ngùi hương lẫn lộn giữa thời quá khứ và hiện tại. Mùi hương lan nhẹ vào mắt ta khiến lệ buồn rưng rưng…
Có những âm thanh chen lẫn giữa mùi hương: Tiếng đàn và tiếng đàn, nhưng sắc thái của nó biến đổi theo thời gian… Trong thời gian tiếng đàn không phải là biến cố ở ngoài đời mà là biến cố trong lòng người. Trong không gian, tiếng đàn không phải vùng quê hương còn lại của kẻ ỏ mà là ý thực hiện hữu của người đi (30)
Khúc “Tỳ bà” được gảy lên. Tiếng đàn run run dìu dặt, du dương… ngưng lại đượm một nỗi buồn diệu vợi, buồn vạn dại của sự cách xa, sự biệt ly… Tiếng đàn cât lên để nói rằng “ta đang sống”, đang sống trong đau khổ, nghĩa là chưa đến thời chết. Sống để có những giờ phút bi thiết và những niềm luyến lưu nào đó “khách ngồi lại cùng em đây gối lả! Tay em đây mời khách ngả đầu say!” (31) Sống để mà tìm nhau, để yêu nhau, để bơ vơ, để cô đơn – Cô đơn là ý nghĩa của tình yêu, có yêu nhau mới có sự khát khao tìm kiếm, đợi chờ - Karl Jaspers bảo: yêu nhau là kiếm tìm nhau ở đầu rừng cuối bể, mỗi bước một bơ vơ…”
Tiếng đàn đưa thời gian vào nơi mơ hồ… Âm thanh của tiếng đàn đan quyện lấy không gian, dẫn dắt ta vào một thế giới ảo huyền, một thế giới chen lấn chân hư:
“Tình tang tôi nghe như tình lang” (32)
Đó là thế giới mộng mơ của Bích Khê: Tìm cái đẹp trong thời gian, qua hình hài của mỹ nữ, qua âm thanh của tiếng đàn qua săc màu của hoa lá. Mặc dầu thời gian ở đây là thời gian buồn, âm thanh ở đây là âm thanh não ruột, hình ảnh ở đây là hình ảnh vàng phai và hương vị ở đây là hương vị đắng cay, ngùi ngùi, nhưng thế giới mộng mơ này vẫn mang đến cho ta nét đẹp hư huyền, nhẹ nhàng như trong vũ trụ. Đường thi. Phải tế nhị ta mới có thể đi vào vườn thơ của Bích Khê. Vì tựu trung, thi sĩ đi tìm thời gian ở đây là đi tìm cái đẹp trong Dòng thơ và Khoảng thơ. Đây là cái đẹp u buồn, thê thiết của ngàn đời và khơi dậy mối sầu nhân thế đang lắng đọng trong hồn ta. “Đàn rung tiếng, người yêu đang ngồi” cho ta một hình ảnh ủ rũ của người yêu đang gẩy đàn trước một người yêu đang ngồi nghe, hoặc trái lại. Tiếng đàn làm trỗi dậy tiếng than thầm muôn thuở và muôn nơi trong lòng vạn vật… khiến cho thời gian mang một màu sắc ảm đạm, màu sắc của “một trời yêu thương da diết, một hời tương tư, một thời âm hưởng buồn não buồn nê” (33).
“Vàng rơi! Vàng rơi thu mênh mông!”
Làm cho tâm hồn ta rung động nhẹ nhàng mà thấm thía. Ta còn thấy tất cả những gì xa vắng của một người cô đơn trong một chiều thu lá rụng:
“Vàng rơi! Vàng rơi thu mênh mông!”
Đã nâng hồn ta lên chiều cao, sâu rộng, đưa hồn ta vào một cõi bơ vơ… Hai kẻ yêu nhau đồng bơ vơ với nhau nên dễ dàng gặp nhau trong chốn bơ vơ của vũ trụ… Ai bảo Bích Khê không bơ vơ? Ai bảo Ngọc Kiều không bơ vơ?
II. THỜI NHẬN DIỆN: Không còn là lá vàng rơi mà là mảnh trăng hư huyền “trăng của thời kỳ vừa chớm” (34), ánh sáng đơn sơ rơi xuống một vùng trời nhỏ bé – không phải toàn vẹn cả bầu trời – môi trường thích hợp cho cuộc hẹn hò. Và cuộc tình từ đây là cuộc tình ly gián – bước đầu của ly gián để đi vào cõi âm – “kể từ đây em nhé, Kim Mai. Em không còn là niềm tin tuyệt đối của ta. Em đi và biền biệt, trống lạnh và cô đơn. Em đi và sâu hút, một đáy mồ lụt lội và một nấm mồ cỏ xanh. Còn một phút cuối, tiếng đàn Chánh Thú (35) được gãy lên máu huyết trào đầy mấy ngón tay. Rồi thôi. Con trăng sơ huyền đã chênh chếch phía tây, còn lại ta và bóng tối”. Vâng, trăng sơ huyền là trăng hò hẹn. Hò hẹn để kỷ niệm thăm thẳm vào hồn người. Một mai thức dậy, trăng đi từ cuối hôm, người tình đi từ buổi hẹn, còn ta với kỷ niệm tỏa lên khuôn mặt, len vào đôi mắt làm nổ tuyến nước mắt và những dòng nước mặn nhẹ nhàng chảy ra:
“Trăng vàng rơi
(Tôi khóc anh ơi!)
Đàn nghẹn tiếng
Người yêu đây rồi” (36)
Ta đã gặp em từ muôn kiếp và bây giờ, chỉ một phút thôi, đã nhận diện được em thật thân ái, thật luyến lưu. Ngày mai là bão táp, lửa chiến tranh càng ngày càng ngùn ngụt, làm sao chắc rằng, một ngày nào đó hai ta được ngắm trăng bên kia bờ sông Thạch. Hỡi Thanh Thủy! Còn con thuyền nào trên sông Thu Bồn, còn gì? Còn gì? Chúa nhật nầy em đi vào Cam Ranh hay Đà Nẵng? Ta vẫn nhớ tên em, vẫn nhớ mảnh trăng sơ huyền, vẫn nhớ tiếng đàn ta gảy cho em nghe hôm nay. Diệu Hòa, em hãy nói đi? Ta chỉ cần một lời em nói. Đừng khóc nữa. Đàn đã nghẹn tiếng rồi”. Đàn nghẹn tiếng, đàn nghẹn tiếng… Đó là những điệp âm, mà dù chỉ một lần viết lên, Bích Khê vẫn khiến ta nhắc mãi…
“Trăng vàng rơi
(Tôi khóc anh ơi!)
Đàn nghẹn tiếng
Người yêu đây rồi”
Mấy câu thơ trên không phải là những câu tuyệt tác – có thể nói như Quách Tấn: “Giá trị chỉ ngang gỗ xoài, gỗ trầm” (37) – nhưng ai dám bảo không có thời gian tính ở đây? Có kẻ cho rằng “khi tìm hiểu tư tưởng của tác giả qua những bài thơ, người ta khoác cho thơ một bộ áo mới đôi khi trái với điều tác giả nghĩ suy”. Điều này chỉ có lý khi tác phẩm đó không phải là tác phẩm nghệ thuật. Đã là một tác phẩm nghệ thuật, điều kiện cho nó hiện hữu là phải có người thưởng ngoạn và do nơi người thưởng ngoạn. Người thưởng ngoạn không có quyền sáng tạo lập khuôn y như tác phẩm đó mà có quyền tái tạo một thế giới nào đó lấy từ tác phẩm đã được viết ra. Huỳnh Phan Anh đã từng xác nhận: “Tác giả là kẻ lùi lại, tự bôi xóa trước chính tác phẩm của mình. Tác giả con của sáng tạo trở thành con người vô thẩm quyền nhất về chính tác phẩm của mình. Hắn vô thẩm quyền trước tác phẩm hắn bởi vì hắn chính là tác phẩm hắn. Tác giả là kẻ đã nhập thể vào chính tác phẩm mình, nhập thể vào từng dòng từng chữ của mình. Hắn trở thành chính món đồ hắn tạo nên. Hắn viết không để sở hữu điều hắn viết ra: hắn và vật sở hữu của hắn là một . Và tác phẩm, vật sở hữu của nhà văn cũng chính là nhà văn” (38). Chính vì điểm quan yếu này nên khi muốn lãnh hội một tác phẩm nghệ thuật, ta phải có kiến thức về nghệ thuật. Ví dụ, muốn thưởng thức thơ, bên cạnh sự rung cảm tự nhiên của tâm hồn, ta còn phải có kiến thức về thơ nữa. Nguyễn Văn Trung cho đó là thái độ nghệ thuật: “Tôi ngắm một bức họa, dĩ nhiên bức họa đó phải có một cơ cấu riêng xác định đó là bức họa không phải là cái bảng đen, quyển sách. Nhưng đồng thời tôi cũng phải có một thái độ muốn lãnh họi bức họa đó như một bức họa , tôi chỉ để ý quan sát kích thước, chiều bề hay xem bức họa làm bằng những chất gì, lúc đó bức họa xuất hiện với tôi là một nhà toán học hay vật lý học, như một sự gồm những đường có thể đo lường hau một đối tượng vật lý gồm những chất nọ chất kia có thể phân tách được và bức họa đã biến mất, nghĩa là đã mất cái ý nghĩa là một bức họa. Do đó, sự việc xuất hiện trước ý hướng lãnh hội của tác giả thế mào (se desvsile) là tùy theo thái độ của ta lúc đó. Ta xác định một thái độ trước sự vật xuất hiện với ta theo thái độ đó” (39)
Xác định như thế để ta có thể nhìn tác phẩm qua chiều hướng suy tư của ta. Dĩ nhiên, ta không thể lạm dụng sự hợp lý của thái độ nghệ thuật để nói lên những điều không hợp lý, nghĩa là ta chỉ lấy tác phẩm của tác giả nào đó làm đề tựa để viết về những điều không liên hệ với tác phẩm đó…
Bích Khê cũng được nhìn dưới khía cạnh chủ quan của những người viết về ông. Tuy thế, trong cái nhìn chủ quan vẫn có cái khách quan chiếm cứ một phần nào đó (40). Cho nên khi viết về thời gian, dòng thơ và khoảng thơ, thái độ của kẻ viết cũng được đặt ra để có cái nhìn kết hợp và linh động vậy.
(…)
III – THỜI CHIA TAY: (…)
IV – THỜI CÁCH XA: (…)
V – THỜI VĨNH BIỆT: (…)
Diệu Hòa, người ở lại sân ga vẫn buồn hơn kẻ đi trong chuyến tàu này! Ta và em đừng nằm trong hai giai đoạn cuối… ta không muốn viết ra ba thời kỳ trên bởi ta lo sợ… thế thôi.
Quảng Trị, những ngày mưa lụt
Tháng 10.1974
PHẠM HÒA VIỆT
(Ph. Vọng Mù)
Nguồn:
Văn học, số đặc biệt về Bích Khê, Sài Gòn, (20/11/1974).
Chú thích
(1) Kim Định, chữ thời (Sài Gòn: sáng, 1967), tr. 30-31
(2) Cuộc đời cũng là tấm thảm gai, mời ta đi vào để tìm ý nghĩa của sự khổ đau.
(3) Nguyễn Đăng Thục “BÓNG TRĂNG THIỀN VỚI NGUYỄN DU” Tư tưởng số 8 (1-12-70) tr. 41
(4) Hàn Mặc Tử, “Thánh nữ đồng teinh” Thơ Hàn Mặc tử (Sài Gòn: Tân Việt, 1959), tr. 78
(5) Taanh cùng nhưng vô hạn vì không ai tìm được tuyệt đối cái chân lý, cái mỹ thể của cuộc đời.
(6) Theo ngôn ngữ bình dân.
(7) Bùi Giáng, THI CA TƯ TƯỞNG (Sài Gòn: Ca dao, 1969) tr. 21
(8) Câu thứ mười một trong bài “Nhạc” TINH HUYẾT (Hà Nội: Trọng Miên, 1939 tr. 28. Những câu thơ của Bích Khê được trích dẫn trong bài này đều lấy ở tập TINH HUYẾT.
(9) Câu thứ II
(10) Các câu tiếp theo trong bài “Nhạc”
(11) Bí danh một nữ học sinh của Bích Khê khi chàng mở trường Hồng Đức ở Phan Thiết 1934-1936.
(12) Người ở Sa Kỳ theo anh vào Mũi Né, Bích Khê và Thanh Thủy gặp nhau rồi yêu nhau.
(13) Một nữ sinh học lớp ban đêm với Bích Khê khi chàng cùng người chị Ngọc Sương trở lại Phan Thiết ở trường Quảng Thuận 1938
(14) Là một quả phụ quê ở Đồng Hới khi trường Quảng Thuận mở, nàng vào giúp một chân giáo viên Bích Khê thầm yêu.
(15) Trong bài “Cùng một cô đào hát bộ”, tr. 49 Đoạn I :
“Lạ sao ở rạp không ai khóc
Chỉ có mình cô khóc với cô?
- Nước mắt ly sầu hay giả dối?
Khúc ca như vọng tiếng trong mồ!”
(16) Trong đoạn trên
(17) Cùng bài thơ trên (15) đoạn 4.
(18) Trong bài “Mơ tiên”, tr. 47, đoạn 2
(19) Hàn Mặc Tử “TỰA TINH HUYẾT”
(20) Nguyễn Tấn Long VIỆT NAM THI NHÂN TIỀN CHIẾN q. họ Sài Gòn: sống mới 1969, tr. 32
(21) Đoạn 3
(22) Hoài Thanh và Hoài Chân. THI NHÂN VIỆT NAM Sài Gòn Hoa tiên 1968, tr. 113
(23) Hoài Thanh và Hoài Chân, Sđd, tr. 112
(24) Trong bài “THI VỊ” đoạn 1, tr. 30.
(25) ạ
(26) Cao Bá Quát “TƯƠNG TƯ”.
(27) “TỲ BÀ” đoạn 1, tr. 25
(28) “TỲ BÀ” hai câu cuối tr. 25
(29) Tản Đà dịch “Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai…”
(30) Xin đọc cuốn Chế Lan Viên và cuộc hành trình vào cõi âm của tác giả (Bản ronéo Huế 1973)
(31) Xuân Diệu, “Lời kỹ nữ”, câu 5 và 6
(32) “TỲ BÀ” đoạn 2, tr. 25
(33) Hàn Mặc Tử, “Tựa Tinh Huyết”, sđd, tr. VIV
(34) Tuệ Sỹ TÔ ĐÔNG PHA NHỮNG PHƯƠNG TRỜI VIỄN MỘNG Sài Gòn, Ca dao, 1973), tr. 15
(35) Tên một nhân vật trong tác phẩm CHÙA ĐÀN của Nguyễn Tuân
(38) Huỳnh Phan Anh “HÀNH TRÌNH CỦA TÁC PHẨM” Văn số (142. 15-11-1969)
(39) Nguyễn Văn Trung, Đặt lại vấn đề truyện Kiều hay phê bình văn học CHÂN DUNG NGUYỄN DU (Sài Gòn Nam tr.67
(40) Chúng tôi sẽ nói rõ hơn trong tập tiểu luận “BÍCH KHÊ NHỮNG VÙNG MỘNG MƠ DIỄM TUYỆT”
“TINH HUYẾT” CỦA BÍCH KHÊ
Lê Huy Oanh
Tập thơ Tinh Huyết của thi sĩ Bích Khê là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của kho tàng thi ca thời tiền chiến.
Tinh Huyết đã do Trọng Miên xuất bản vào năm 1939, với một bài đề tựa của một thi sĩ bạn thân của Bích Khê là Hàn Mặc Tử, và một bài “bạt” của Trọng Miên.
Toàn tập gồm 37 bài thơ được chia thành 4 phần: NHẠC VÀ LỆ (11 bài); ĐẸP VÀ DÂM (7 bài); CUỒNG VÀ ÁNH SÁNG (11 bài); CHÂU (8 bài). Trong 3 phần trên, mỗi bài thơ đều có đầu đề riêng. Trong phần 4, tất cả các bài đều không có đầu đề. Riêng bài đầu của phần 4, còn được chia thành 3 đoạn.
Nhìn chung tập Tinh Huyết, người ta nhận thấy có ba đặc điểm nổi bật: 1) Thơ Bích Khê đầy hương vị thơ Tượng Trưng. 2) Thi vị hóa và thanh khiết hóa nhục dục cũng như cái đẹp nhục thể. 3) Vươn tới những cõi siêu thiêng huyền diệu.
Chúng ta hãy lần lượt xét về ba đặc điểm này.
1. KỸ THUẬT VÀ CHỦ THUYẾT TƯỢNG TRƯNG TRONG “TINH HUYẾT”
Trong thế kỷ 20, nhất là thời tiền chiến, tại Việt Nam, hiện tượng thơ Tượng trưng nổi bật trong các thi phẩm của những thi sĩ danh tiếng như Phạm Hầu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Đinh Hùng và nhất là Bích Khê.
Mấy vị này tài nghệ đều rất cao, mỗi người đều có vẻ đặc sắc riêng của mình, chúng ta khó có thể phân định ai hơn ai, kém ai. Tuy nhiên riêng trong lãnh vực tượng trưng, Bích Khê đáng được coi như đứng hàng đầu với thi phẩm Tinh Huyết của chàng, một thi phẩm tiêu biểu nhất cho thơ tượng trưng thế kỷ XX tại xứ ta.
Chúng ta hãy cùng nhau bàn về tính chất tượng trưng trong thi phẩm Tinh Huyết. Nhưng trước khi nới tới nó, có lẽ rất nên nhận định một cách tổng quát về vài nguyên nhân phát động hiện tượng thơ Tượng trưng tại Việt Nam.
TỪ THƠ TƯỢNG TRƯNG TRUNG HOA VÀ PHÁP TỚI THƠ TƯỢNG TRƯNG VIỆT NAM.
Tâm hồn người Á Đông vốn trầm mặc, sâu láng nên sắc thái tượng trưng đã có thấp thoáng từ lâu rồi trong thơ của vài thi sĩ đời Đường như Giả Đảo, Lý Thương Ẩn, Mạnh Giao, Lý Hạ… Thơ Giả Đảo và Mạnh Giao rất xúc tích, lời thật ít gọn nhưng sức gợi cảm, gợi ý rất mạnh: cái sức “gợi” đó, các thi sĩ tượng trưng Pháp sau này gọi là valeur suggestive (giá trị gợi cảm) của thơ. Lý Hạ, kẻ được người đương thời tôn là “qủi tài”. Cũng thường làm những bài thơ rất kín đáo, rất man mác. Trong một bài tiểu luận nhan đề “Quỉ tài và quỉ thi Lý Hạ” đăng trong tập san Thời Tập số 12, Tuệ Sĩ nhận định rằng “Thơ Lý Hạ lúc nào cũng âm u khúc mắc, với những tiếng kêu, tiếng trở mình của côn trùng sâu bọ…”. Cái vẻ âm u khúc mắc đó chính là một trong những sắc thái quan trọng của thơ tượng trưng.
Tính chất tượng trưng còn lên cao hơn nữa trong thơ của Lý Thương Ẩn. Hình thức cũng như ý tưởng trong thơ Lý Thương Ẩn thường có vẻ thâm trầm kín đáo đầy khả năng gợi cảm. Thơ Lý Thương Ẩn đã có phần nào ảnh hưởng vào một nhà thơ lớn của nước ta là cụ Nguyễn Du. Bốn câu thơ quen thuộc dưới đây trong Truyện Kiều:
Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh?
Khúc đâu êm ái xuân tình
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?
Đã chỉ là phóng tác một cách tài tình mấy câu thơ trong bài Cẩm sắt của Lý Thương Ẩn.
Tuy nhiên, trong Truyện Kiều tính chất tượng trưng chỉ có rất ít. Tính chất đó có nhiều hơn trong tập Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều. Tác giả Cung Oán Ngâm Khúc đã tỏ ra sở trường trong việc dùng các biểu tượng để phô diễn ý tưởng, và đó chính là một trong những đặc tính của thơ tượng trưng.
Xem như thế chúng ta thấy thơ Tượng trưng chẳng phải một sản phẩm mới mẻ của Tây Phương, mà ở Á châu, nhất là ở Trung Hoa, thơ Tượng trưng đã có từ lâu lắm rồi. Tuy nhiên, thời xưa, ở Á Châu mới chỉ có hiện tượng tượng trưng trong thơ chứ không có chủ thuyết tượng trưng.
Một số thi sĩ Pháp cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã dần dần đặt vấn đề tượng trưng thành một chủ thuyết và đã chính thức tạo thành cả một phong trào thơ tượng trưng có ảnh hưởng mãnh liệt tới thi ca toàn thể thế giới. Các nhà thơ như Baudelaire, De Nerval, Rimbaud, Verlaine, Mallarmé, Laforgne là những người đã mở đường cho phong trào thơ Tượng Trưng. Tiếp theo đó, một số khá đông thi sĩ khác như ông Jean Moréas, Gustave Khan, René Ghil, Francis Viélé – Griffin, Emile Verhaeren, Albert Samain v.v… cả họp thành cả một trường thơ Tượng Trưng có ra tuyên ngôn cho trường phái của họ. Vài thi sĩ nổi tiếng khác như các ông Pau Valéry, Jean Claudel, mặc dầu không thuộc trường phái này, nhưng cũng đã tỏ ra rất có cảm tình với chủ thuyết tượng trưng, và rất khâm phục những nhà thơ tiền khu của phong trào như Baudelaire, Mallarmé hoặc Rimbaud.
Thơ Tượng Trưng Pháp, nhất là thơ của các ông Baudelaire, Rimbaud, Verlaine, Mallarmé và Veléry (thời kỳ đầu) đã có ảnh hưởng vào thư của các thi sĩ Việt Nam thời Tiền chiến, một cách thấp thoáng phảng phất trong thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, và một cách thật rõ rệt trong thơ Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Phạm Hầu, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh. Đoàn Phú Tứ và nhất là Bích Khê. Những tính chất Tượng Trưng đã phát hiện khá đầy đủ trong tập thơ Tinh Huyết của Bích Khê, vì vậy nếu muốn tìm hiểu ảnh hưởng thơ Tượng trưng Pháp trong thơ Tiền Chiến, không gì hơn là dùng tập Tinh Huyết làm tài liệu tiêu biểu cho việc nghiên cứu.
NHỮNG TÍNH CHẤT TƯỢNG TRƯNG TRONG THI PHẨM “TINH HUYẾT”.
Riêng trong lãnh vực nghệ thuật Tượng trưng, chúng ta thấy tập Tinh Huyết của Bích Khê có những đặc điểm sau đây.
1. CÁC BIỂU TƯỢNG – Biểu tượng tiếng Pháp kêu là symbole, và từ chữ này ra chữ symbolisme (chủ thuyết Tượng trưng). Các thi sĩ Tượng Trưng rất hay dùng biểu tượng để phát biểu tư tưởng. Baudelaire là người đã được người ta gọi là “ông vua của biểu tượng”. Trong bài thơ Correspondances ở tập Les Fleurs du Mal, Baudelaire viết:
La nature est un temple ou de, vivants piliers
Laissent parfois sortir de confuses paroles;
L’homme y passe à travers des foréts de symboles
Qui l’observent avec des regards familiers.
(Vũ trụ là một ngôi đền ở đấy những cột trụ sống động
Đôi khi để thoát ra những lời nói mơ hồ;
Con người đi trong đó ngang qua những ừng biểu tượng.
Những rừng biểu tượng ấy quan sát con người bằng những cái nhìn thân thuộc).
Dùng biểu tượng trong thơ nghĩa là thế nào? Nghĩa là dùng những hình ảnh và những biểu tượng khác lạ có đủ ma lực biểu dương gợi ra hay làm sáng tỏ những đối tượng đích thực hoặc trừu tượng hoặc cụ thể của bài thơ. Thí dụ hai thi sĩ Baudelaire và Thế Lữ đã dùng những biểu tượng như con chim albatros hoặc con hổ (cọp) để nói tới những kẻ có khí phách có tư tưởng cao viễn hơn đời nhưng lỡ sa vào cảnh thất thế. Như vậy con albatros và con hổ đã là những biểu tượng biểu dương đơn thuần.
Cao hơn nữa, là những biểu tượng trùng phức và gợi ý. Chẳng hạn mấy câu thơ dưới đây của Baudelaire, trong bài Spleen:
Et de long corbillards, sans tambours ni musique,
Défilent lentement dans mon aame; l’Époir
Vaincu, pleure, et l’Angoisse atroce, despotique,
Sur mon crâne incliné plante on drapeau noir.
(Và những đám tang dài, không trống không kèn,
Chầm chậm kéo đi trong hồn tôi; Sự Hi Vọng
Bị bại trận, đang khóc lóc, và sự Lo Âu, tàn bạo, độc đoán.
Cắm lá cờ đen của nó vào đỉnh sọ nghiêng nghiêng của tôi).
Chúng ta thấy trong bốn câu thơ đó của Baudelaire có những biểu tượng như “những đám tang dài”, “lá cờ đen”; rồi tới những ý niệm trừu tượng như Hi Vọng, Lo Âu được cụ thể hóa thành những biểu tượng cho chính chúng. Tất cả những biểu tượng đó gợi cho ta ý niệm về trạng thái tâm hồn tác giả.
Trong thi phẩm Tinh Huyết, chúng ta thấy Bích Khê cũng rất hay dùng biểu tượng. Chẳng hạn trong bài Tỳ Bà (trang 25): Tỳ bà là một loại đàn cổ xưa; trong bài thơ, tác giả không có ý tả cây đàn người chơi đàn hoặc tiếng đàn, mà chỉ dùng cây đàn ấy làm biểu tượng cho hai thứ: một người đàn bà và những rung động tuyệt vời do người đàn bà ấy tạo ra. Bởi trái tim người đó được coi như một cây đàn tì bà đang rung tiếng nên tác giả đã:
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Trong bài Sọ Người (trang 57) cũng thế, tác giả không hề có ý tả chiếc sọ người mà chỉ dùng nó làm biểu tượng cho một vẻ đẹp mê hồn rất tàn nhẫn nhưng chắc chắn sẽ phải tàn rữa:
Ôi! Sọ người! Sọ người! – Gương phép tắc!
- Ngọc Kiều ơi! ghé lại ngắm dong nhan.
Ngọc Kiều ơi ta chợp thấy tim nàng,
Tim nàng bằng đá, tim nàng bằng sắt.
Ngọc Kiều! hơi độc sắp tràn lan!
Người ngất ngư – Chết trong muôn thế kỷ!
Chạy điên rồ… đứng sựng giữa xương ma.
Người là ai? Người có phải là ta?
Trong những câu thơ đó, cái Sọ người đã là một biểu tượng trùng phức và gợi ý. Trước hết cái Sọ người biểu hiện cho “gương phép tắc” tức là bộ máy huyền vi của cuộc sống, sự huyền vi đã đào tạo từ hư vô một vẻ đẹp và một sự sống, rồi lại đưa vẻ đẹp ấy, sự sống ấy trở về hư vô. Cái Sọ người cũng biểu dương cho một sự tàn nhẫn của một người đàn bà đẹp: Ngọc Kiều ơi! ta chợp thấy tim nàng./ Tim nàng bằng đá, tim nàng bằng sắt. Cái Sọ người còn biểu dương cho hậu quả của một sự đau khổ, có thể là một sự tuyệt vọng: Ngọc Kiều! hơi độc sắp tràn lan! Sau hết, đó là một biểu tượng trùng phức: Sọ người biểu dương cho sự tàn rữa phải tới của một người đàn bà đẹp, nhưng người đàn bà sẽ phải chết đó cũng biểu dương cho chính tác giả cũng như cho tất cả mọi sinh vật trong vũ trụ: Người là ai? Người có phải là ta?
Bài thơ Đồ Mi Hoa (trang 60) cũng là một bài có nhiều chất biểu tượng. Bài đó không tả bông hoa nào cả, chỉ dùng một bông hoa có cái tên hơi lạ là Đồ Mi để biểu dương cho sự tinh khiết trong thơ của tác giả:
Đây một đóa đồ mi, - ta đón lấy,
Ấp hồn hoa… đem đặt giữa bài thơ.
Đài nộn nhụy hóa nguồn trinh tinh khiết
Ướp một làn hương rượu quyện lâng lâng;
Tràng cánh trắng biến ra da thịt tuyết,
Một tiên nương mừa tựa một giai nhân,
Ngửng đôi mắt chứa mùa xuân phẩm tiết,
Giữa bài thơ… đưa vẳng tiếng ngân ngân.
Đây cũng là một thứ tượng trưng phức hợp, “Đồ mi hoa biến ra da thịt tuyết” thế nhưng chính cái “da thịt tuyết” đó lại là tượng trưng cho thơ, ở đó “vần thơ theo nhịp điệu thuyền quyên”, ở đó “sắc trong màu, màu trong sắc” ở đó “nhạc gầy hương hương gầy nhạc”, ở đó “Đêm nay đây ngời ngọc ngà sa gấm”. Từ cái biểu tượng “Đồ mi hoa” đã tỏa ra biết bao nhiêu hình ảnh, âm thanh, màu sắc khác, man mác và trùng trùng điệp điệp.
SỰ GIAO HƯỞNG GIỮA CÁC LOẠI CẢM GIÁC.
Tất cả những ảnh hưởng đó vời gọi nhau, nhiều khi hợp làm một, “sắc trong màu, màu trong sắc”. Nghĩa là sắc và màu trở thành một nhất thể.
Đây là một điểm rất quan trọng trong thơ tượng trưng.
Người ta thường phân biệt ra năm cảm quan là thính giác, vị giác, khứu giác, thị giác và xúc giác. Nhưng các nhà thơ tượng trưng đã không phân biệt như thế. Trái lại, họ quan niệm rằng tất cả những giác quan ấy nhiều khi chỉ là một: người ta có thể cảm thấy một ảnh hưởng nào đó bằng bất cứ giác quan nào, chẳng hạn có thể nghe thấy một hương thơm hoặc ngửi thấy một mầu sắc.
Trong bài thơ Les Voyelles (Những Nguyên Âm) nhà thơ Rimbaud không những nhìn thấy các nguyên âm qua những hình ảnh thật bất ngờ mà còn nghe thấy, ngửi thấy những chữ đó. Chẳng hạn chữ A đã hiến cho chàng hình ảnh cái “yếm đen rậm lông của lũ ruồi rực rỡ (thuộc về thị giác) đang bay ào ào (thính giác) quanh những đám hôi thối hung dữ (khứu giác)”.
Trong bài thơ Apparition, thi sĩ Mallarmé viết:
De blancs sanglots glissant sur l’azur des corolles
(Những tiếng nức nở trắng đang lướt trên mầu thanh thiên của những vành cánh hoa).
Chúng ta thấy, ở câu thơ đó, âm thanh (những tiếng nức nở) có màu sắc (trắng)
Trong bài Corespondances, Baudelaire viết:
Les parfams, les couleurs et les sons se respondent.
(Những hương thơm, những mầu sắc và những âm thanh giao hưởng với nhau)
Tiếp ngay ở câu thơ dưới ông viết:
Il est des parfums frais comme des chairs d’enfants,
Doux comme les hautbois, verts comme les prairies,
(Vốn có những hương thơm mát như thịt những đứa trẻ con,
Êm như những tiếng kèn hô-boa, xanh như những đồng cỏ).
Như vậy là ở đây ba cảm quan (khứu quan, xúc quan và thính quan) chỉ là một, do đây “hương thơm” đã còn “mát” và “êm”.
Sự kiện đó được Baudelaire gọi là sự nhất thể của những giác quan (unité de sens) hoặc những sự giao hưởng giữa những cảm giác (corespondances entre lé sensations). Rimbaud thì gọi đó là sự hỗ loạn của các giác quan (dérefglemet des sens). Danh từ của Baudelaire (unité, corespondances) và của Rimbaud (dérefglemet) thấy như trái nghĩa với nhau, nhưng thực ra chúng lại có ý nghĩa tương tự với nhau.
Bích Khê không đặt tên cho sự kiện ấy nhưng chàng đã mặc nhiên công nhận nó như chúng ta đã thấy trong bài Đồ Mi Hoa một sự nhất trí giữa thính giác va khứu giác (Nhạc gầy hương, hương gầy nhạc). Trong bài Sọ người, ông viết: “Máy thu thanh hòa âm nhạc thơm tho!”. Trong bài Nhạc (trang 28) ông viết: “Ô! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc,/ Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây;/ Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,”. Trong bài Hiện Hình (trang 32) ông viết: “Nường hé môi ra. Bay điệu nhạc – Mát như xuân mà ngọt tợ hương”. Cũng tương tự mấy câu dẫn ở trên (trong Đồ Mi Hoa và Sọ Người) chúng ta thấy trong hai câu này có sự nhất thể của nhiều cảm quan như thính quan nhạc), xúc quan (mát), vị quan (ngọt) và khứu quan (hương).
NHẠC TÍNH TRONG THƠ
Ngoài sự chú trọng tới các biểu tượng và sự kiện nhất thể của những cảm quan, thơ Bích Khê còn rất chú trọng tới nhạc tính.
Đây cũng là một điểm quan trọng của thơ Tượng trưng.
Các thi sĩ tượng trưng Pháp rất để tâm đến nhạc tính của thơ. Trong bài Art poétique (Thi nghệ), Paul Verlaine kêu gọi bằng câu mở bài: De la musique avant toute chose (cần có nhạc tính trước hết mọi thứ…) Ở khổ cuối bài thơ, Verlaine nhắc lại: De la musique encore et tujours (cần có nhạc tính thêm nữa và luôn luôn phải có nhạc tính).
Như vậy, thơ cần có nhạc. Nhưng một điều quan trọng mà chúng ta phải để ý: nhạc điệu của thơ Tượng trưng không phải thứ nhạc điệu hùng hồn sôi nổi. Nhạc điệu đó cần phải thật êm dịu. Nhạc điệu đó đôi khi ta không cảm thấy nó rõ rệt nhưng nó vẫn có: nó thấm dần vào lòng ta, len lấn, lê thê khiến ta bâng khuâng ngây ngất. Đó là thứ nhạc điệu có công dụng làm cho độc giả là dần vào cõi mộng.
Quan niệm theo Mallarmé thì đó phải là thứ nhạc điệu ma quái, dễ quyến rũ lòng người: với nhạc điệu ấy thơ sẽ có một giá trị thần chú (valeur incantatoire) có thể mê hoặc độc giả.
Trong thi phẩm Tinh Huyết, Bích Khê cũng đã tỏ ra rất chú trọng tới nhạc tính của thơ. Trong những bài như Mộng Cầm Ca, Tỳ Bà, Nhạc, Thi Vị, Cơn Mê, Hoàng Hoa, Nghê Thường, Bích Khê đã cố gắng tạo cho thơ một thứ âm nhạc thật êm đềm có nhiều sức gợi cảm. Hãy đọc bài thơ Tỳ Bà dưới đây, đọc thật chậm, thật sẽ sàng đấy nhé:
TỲ BÀ
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Buồn lưu cây đào xin hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông
Các bạn thấy chăng, bài thơ Tỳ Bà có một nhạc điệu rất êm đềm, được phát sinh từ những sư dung ý sau đây của tác giả:
-- Tất cả những tiếng trong bài thơ đều là tiếng bằng, không có một tiếng nào trắc cả.
-- Sự láy đi láy lại của một số dụng ngữ chẳng hạn dụng ngữ “tôi” (tôi qua… tôi mang… tôi không… tôi nghe…); của nhóm chữ “yêu nàng bao nhiêu…” (Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi – Yêu nàng; bao nhiêu trên đôi môi); của tiếng “Đào nguyên”; của tiếng “buồn” của nhóm chữ “vàng rơi!”
Hãy đọc bài Thi Vị, chậm, thật chậm:
THI VỊ
Lá vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn rung tiếng:
Người yêu đương ngồi...
Trăng vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn nghẹn tiếng:
Người yêu đây rồi...
Hoa vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn rụng tiếng:
Người yêu đi rồi...
Sao vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn câm tiếng:
Người yêu xa rồi...
……………
Đêm vàng rơi,
(Thôi hết, anh ơi!)
Đàn bẻ phím:
Người yêu chết rồi.
Bài Thi Vị cũng rất giàu nhạc tính, phát sinh từ những sự kiện sau đây của một kỹ thuật tác thi có tính chất cố ý:
-- Sự nhắc đi nhắc lại một trạng thái tương đồng (vàng và rơi) của Lá, Trăng, Hoa, Sao, Đêm. Đồng thời còn có những trạng thái và cử động khác nhau (rung tiếng, nghẹn tiếng, rụng tiếng, câm tiếng, bẻ phím) của danh từ “đàn”; (đương ngồi, đây rồi, đi rồi, xa rồi, chết rồi) của danh từ “người yêu”. Tất cả những tiếng như thế được láy đi láy lại quấn quít với nhau thành những điệp khúc nhỏ quây quanh một điệp khúc nổi hơn (Tôi khóc anh ơi!) trong bốn khổ và vụt đồi trong khổ cuối cùng thành (thôi hết, anh ơi!)
-- Không những các âm thanh của những dụng ngữ tạo ra nhạc, mà ngay cả những hình ảnh cũng tạo ra nhạc, thứ nhạc chuyển từ thấp lên cao (crescendo). Đó là những hình ảnh của chủ từ “người yêu” trong các trạng thái đương ngồi, dậy rồi, đi rồi, xa rồi, chết rồi cứ mỗi trạng thái lại gợi ra một âm thanh trừu tượng càng lúc lúc cang nức nở thêm.
Về kỹ thuật tạo nhạc tính cho thơ, Bích Khê rất giống với Baudelaire. Cái lối đáy đi láy lại một số câu trong các bài thơ của Bích Khê tương tự với kỹ thuật tạo nhạc trong các bài thơ như Réversilité hoặc Harmonie du Soir của Baudelaire.
Hãy thử so sánh ba khổ cuối trong bài Mộng Cầm Ca của Bích Khê với bài Harmonie du Soir của Baudelaire:
Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc?
Vú non non? Da dịu dịu, êm êm?
Đâu hang báu cho người ta phải khóc?
-- Trên môi son, ta liếc lưỡi gươm mềm!
Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc?
-- Lưới lông mi rờn rợn ánh tơ đêm!
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của gương hồ im lặng tợ bài thơ.
Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nằng nặng
Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ.
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của hồn thu đi lạc ở trong mơ...
Người cho ta một thanh gươm rất sắc?
Ô vung lên... cắt mạch nguyệt vàng xanh!
Xẻ mạch trời, -- mây xô sao, răng rắc!
Phăng mạch đêm, -- hương vỡ, ứa ngầm tinh!
Người cho ta một thanh gươm rất sắc?
-- Ta điên rồ... múa giữa áng bình minh.
HARMONIE DU SOIR
Voici venir les temps où vibrant sur sa tige
Chaque fleur s’esvapore ainsi qu’on encensoir;
Les sons et les parfums tournent dans l’air du soir;
Valse meslancclique et langoureux vertige!
Chaque fleur s’esvapore ainsi qu’on encensoir;
Le violon frémit comme un coeur qu’on aflige;
Valse meslancclique et langoureux vertige!
Le ciel est triste et beau comme un grand reposoir.
Le violon frémit comme un coeur qu’on aflige;
Un coeur tendre, qui hait le nesant vaste et noir!
Le ciel est triste et beau comme un grand reposoir
Le solei s’est noyé dans son sang qui se fige…
Un coeur tendre, qui hait le nesant vaste et noir!
Du passé lumineux rocueille tout vestige!
Le solei s’est noyé dans son sang qui se fige…
Ton souvenir en moi luit comme un ostensoir.
Dịch nghĩa:
HÒA ÂM CỦA BUỔI CHIỀU TỐI
Này đây đã tới lúc, rung rung trên cái thân của nó
Mỗi bông hoa đang tỏa hơi giống như một cái bình xông hương;
Những âm thanh và những hương thơm quay lộn trong
bầu không khí chiều tối
Điệu luân vũ buồn thảm và cơn chóng mặt uể oải!
Mỗi bông hoa đang tỏa hơi giống như một cái bình xông hương;
Cây vĩ cầm run sợ như một trái tim đang bị người ta hành hạ;
Điệu luân vũ buồn thảm và cơn chóng mặt uể oải!
Bầu trời thì buồn và đẹp giống như một chỗ an nghỉ rộng lớn
Cây vĩ cầm run sợ như một trái tim đang bị người ta hành hạ;
Một trái tim dễ cảm vốn ghê sợ sự hư vô rộng bao la và đen ngòm!
Bầu trời thì buồn và đẹp giống như một chỗ an nghỉ rộng lớn
Mặt trời đắm chìm vào trong vũng máu của nó đang đông lại
Một trái tim dễ cảm vốn ghê sợ sự hư vô rộng bao la và đen ngòm!
Đang thâu nhặt lại tất cả vết tích của quá khứ sáng rực rỡ
Mặt trời đóng vào trong vũng máu của nó đang đông lại
Kỷ niệm về ưm rực sáng trong hồn tôi như một bình Thánh Thể (2)
CHARLES BAUDELAIRE
Bài Harmonie du Soi có một nhạc điệu đặc biệt do ở sự láy đi láy lại một số những câu thơ. Mấy khổ thơ của Bích Khê cũng thế. Chúng có một nhạc điệu đặc biệt do ở sự láy lại những câu như: “Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc?”, “Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng”, “Người cho ta một thanh gươm rất sắc?”.
Cả hai câu thơ đều đã thành công trong việc thực hiện mục đích của hai tác giả: một thứ âm điệu lê thê vừa u uất vừa êm ái đã trợ lực mạnh mẽ cho tác động gợi cảm và truyền cảm của ngôn ngữ, hình ảnh và ý tưởng trong thơ.
SỨC GỢI CẢM CỦA THƠ
Gợi cảm là tính chất quan trọng và thiết yếu nhất của thơ Tượng Trưng.
Trước hết hãy phân biệt gợi cảm và truyền cảm:
Truyền cảm: truyền ý tưởng và ảnh hưởng sự sáng tạo của tác giả đi thẳng vào tâm hồn độc giả. Trong loại thơ truyền cảm, những cảm xúc do thơ tạo ra chỉ là đồng hạng, nghĩa là bất cứ độc giả nào cũng thấy rõ ràng những ý tưởng những hình ảnh, và thu nhận những cảm xúc y hệt nhau. Một thí dụ: bài thơ Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp. Thử nhìn vài khổ:
Em chưa tỉnh giấc nồng
Mây núi đã pha hồng
Thầy mẹ em sắm sửa
Vàng hương vào chùa trong
Đường mây đá cheo leo
Hoa đỏ tím vàng leo
Vì thương mẹ quá mệt
Săn sóc, chàng đi theo.
……………………..
…………………….
Đọc tới đâu, độc giả hiểu ngay tới đó, hiểu rõ ràng từng tiếng từng câu, từng đoạn, mọi người nhận thức giống hệt nhau về câu chuyện tác giả muốn kể, và những xúc cảm mà họ nhận lãnh do vậy có tính chất đồng hạng. Bài thơ của Nguyễn Nhược Pháp đã truyền ý tưởng và xúc cảm thẳng vào lòng người đọc, khiến họ không còn bâng khuâng thắc mắc gì nữa.
Khác với thơ của Nguyễn Nhược Pháp, thơ Bích Khê thường có vẻ kín đáo mung lung thiếu điều khiến cho độc giả phải thảng thốt choáng váng khi nhận thức ý nghĩa của nó.
Sự gợi cảm là tính chất quan trọng nhất của thơ Tượng Trưng. Bích Khê thường không để cho độc giả ddocjd thơ đến đâu hiểu ngay đến đó, bởi chắc hẳn chàng quan niệm rằng thi ca là một cái gì huyền diệu cao cả, là tinh túy của ký hiệu ngôn ngữ. Thơ Bích Khê đã vượt khỏi cái vẻ tầm thường của những kiến tạo ngôn ngữ thông thường. Sứ mệnh của thơ chàng là đưa chúng ta từ thế giới hạ đẳng của cảm giác đến thế giới siêu đẳng của tâm linh. Vì thế khi đọc thơ Bích Khê, độc giả cần phải mở thật rộng tâm linh để có thể thâu nhận những ý tưởng và hình ảnh mơ ảo nhất, tinh vi nhất, kỳ diệu nhất.
Bạn hãy mở lại bài thơ Tỳ Bà ở bên trên. Bạn thấy không khí của bài thơ rất man mác, rất mơ ảo, phải không? Cái man mác mơ ảo đó chính là yếu tố gợi cảm. Tỳ Bà là tên một thứ đàn loại cổ. Đầu đề bài thơ thì như vậy, thế nhưng ta không thấy tác giả tả cây đàn, tả tiếng đàn, hoặc tả một người chơi đàn. Chúng ta chỉ thấy âm điệu bài thơ êm dịu như một điệu đàn nó có những dụng ngữ như “du dương”, “cung Thương”, “tình tang” nhắc đến tiếng đàn, rồi lại có thấp thoáng hình ảnh một người đàn bà bị vây bủa bởi những lời say đắm, thiết tha ngậm ngùi của một gã đàn ông si tình nào đó. Tất cả những hình ảnh, những âm thanh những ý tứ của bài thơ đều lung linh, rời rạc khiến cho trí tưởng tượng của độc giả phải hoạt động, để sắp đặt chúng vào một thứ tự, một hệ thống của một câu chuyện khả thủ. Thế nhưng, óc tưởng tượng của độc giả đã không chỉ nẩy ra một giả thuyết mà có thể là nhiều giả thuyết. Giả thuyết nào đúng? Độc giả phải đoán hiểu lấy và khi đoán hiểu như thế tức thị độc giả góp công sáng tạo với tác giả. Bài Tỳ Bà, cũng như nhiều bài thơ khác của Bích Khê, đã không truyền thẳng những dữ kiện tâm linh cố định nào đó vào tâm hồn độc giả, nhưng đã gợi cho độc giả những dữ kiện trùng điệp để độc giả tự lựa chọn lấy khi định tìm hiểu bài thơ.
2. NHỤC CẢM TRONG “TINH HUYẾT”
Một số n hà luân lý thường hay phân biệt xác thịt và tâm hồn. Họ thường coi nhục dục như những sự ham muốn xấu, do đấy, họ thường tránh nói tới những nhục cảm của con người.
Trong Tinh Huyết, Bích Khê không hề phân biệt như vậy. Bằng một giọng cực kỳ say mê ông nói tới nhục cảm, nói tới mọi vẻ đẹp trên thân thể người đàn bà. Thái độ này của ông cũng giống như thái độ của Baudelaire, tác giả cuốn Les Fleurs du Mal. Cả Baudelaire lẫn Bích Khê đều mặc nhiên chủ trương rằng thi sĩ có thể nói tới tất cả mọi tình cảm mọi dục vọng của con người, miễn những điều nói tới không hạ thấp tâm hồn con người xuống.
Trong bài Tranh lõa thể, Bích Khê viết:
Hai vú nàng! Hai vú nàng! Chao ôi!
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng.
Ôi lồ lộ một tòa hoa nghiêm động!
Tôi run run hãm lại cánh hồn si…
Trong bài Bàn Chân, ông hạ bút:
Ô cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm!
… Một bàn chân ve vuốt một bàn chân!
Mát làm sao! mát rợn cả châu thân.
Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực.
Ôi! Thớ thịt có đàn lên cung bực
Trong bài Mộng Lạ, ông lớn tiếng:
Khoái lạc ửng hồng như quả gấc.
-- Đi đâu ăn cả hương ngây ngất…
Ôi đi! Đoàn tiên lột khỏa thân
Hoan hô xác thịt chiếm ngôi thần.
Những câu thơ như thế không phải là những câu khiêu dâm hạ thấp mà là những câu ca ngợi nhục dục con người như một cái gì quí giá và thiết yếu. Nhục dục vốn làm cho đời người thêm phong phú, thêm có mục đích, có ý nghĩa nên hiển nhiên nó chẳng phải điều xấu xa. Như vậy, chủ đích của Bích Khê là lý tưởng hóa nhục dục và cái đẹp nhục thể.
Trong bài Bích Khê, thi sĩ thần linh, đăng ở đầu tập Tinh Huyết, Hàn Mặc Tử có dẫn chứng mấy câu thơ sau đây trong bài Xác thịt (2) của Bích Khê.
Tôi vồ như một miếng mồi ngon;
Miệng ngậm hờn riết chặt lấy môi son;
Mắt đổ lửa lườm qua làn sóng sắc…
Tôi giật nẩy rồi cười lên sặc sặc,
Hai tay cào đôi vú trắng như bông…
Rồi Hàn Mặc Tử đưa ra nhận định: “Ở địa hạt dâm cuồng này, ta thấy thi sĩ Bích Khê hoàn toàn là Baudelaire. Vì trong tác phẩm chàng, gợi dục tình thì ít, mà làm cho người ta ghê rởn đến gớm guốc cái cảnh trần truồng khả ố thì nhiều”.
Nhận định này của Hàn Mặc Tử đã khiến tôi nhớ tới một lời cãi của luật sư Chaix d’Est-Ange trước tòa án Pháp khi ông ta bào chữa cho thi phẩm Les Fleurs du Mal của Baudelaire: “Baudelaire trình bày với các ngài những tính mê nết xấu, nhưng ông trình bày chúng trong cái vẻ gớm ghiếc; ông vẽ ra chúng bằng những mầu sắc ghê tởm, vì ông không ưa chúng và muốn khiến cho chúng trở nên khả ố, vì ông ghét chúng và muốn khiến cho chúng trở nên đáng ghét, vì ông khinh bỉ chúng và muốn các ngài khinh bỉ chúng”.
Chúng tôi nhận thấy ý kiến đó của Chaix d’Est-Ange không đúng. Có lẽ vì đã bị huyễn hoặc bởi câu nói ấy của Chaix d’Est-Ange nên Hàn Mặc Tử cũng đã nhận định không đúng vì thực ra khi cho nhục dục vào thơ Bích Khê chẳng hề có ý định “làm cho người ta ghê rởn gớm guốc cái cảnh trần truồng khả ố” như Hàn Mặc Tử nói. Trong thơ Bích Khê, cũng như trong thơ Baudelaire nhục cảm cũng như những sự vật và những hành động liên quan tới nhục cảm chẳng hề có vẻ gì là khả ố, gớm guốc cả. Baudelaire và Bích Khê không hề có hành động khiêu dâm, nhưng cũng không hề có ý làm cho người ta gớm ghiếc nhục dục. Hai ông chỉ coi nhục cảm như một sự kiện, hoặc cụ thể hoặc trừu tượng, có đầy nhân bản tính, thế thôi. Vì nó có đầy nhân bản tính, nó đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong cuộc sống con người, nên những nhà thi sĩ như Bích Khê hay Baudelaire, những kẻ chuộng sự thành thật, những kẻ chủ trương dùng nghệ thuật để khám phá bầy tỏ mọi sắc thái của con người, đã không ngần ngại nói nó ra, coi nó như một sự kiện tự nhiên chứ không phải một điều cấm kỵ.
Luật sư Chaix d’Est-Ange nhận xét về Baudelaire sai hay đúng cái gì đó cũng không có gì quan trọng cả: ông ta chỉ là một thầy cãi, ông muốn cãi sao thì cãi miễn những lời ông có lợi cho thân chủ của ông. Nhưng còn Hàn Mặc Tử, một nghệ sĩ đại danh, một nhà thám hiểm và khai thác tâm linh, mà lại nhận xét hồ đồ như vậy về nhục cảm trong thơ Bích Khê thì quả là điều đáng cho ta ngạc nhiên.
3.- SIÊU TÍNH TRONG “TINH HUYẾT”
Bích Khê cũng như hầu hết các thi sĩ Tượng Trưng, đều là những người có tham vọng khai phá những chiều sâu u ẩn của tâm hồn và đời sống con người. Ông lại là một nghệ sĩ rất nhạy cảm. Khát vọng đó và khả năng đó đã khiến cho ông có được và thấy được những cảm giác, những ý tưởng hoặc hình ảnh thật tinh vi, mới lạ mà những tâm hồn thường nhân khó có thể thấy được. Chúng ta có thể coi những sự cảm thụ đặc biệt đó của Bích Khê là một thứ siêu cảm tính.
Chỉ những người nhạy cảm, giàu óc tưởng tượng và có ngôn ngữ thơ đặc biệt như Bích Khê mới có thể thấy được để rồi trình bày ra được những hình ảnh, khả năng và sự tác động sau đây của sắc đẹp:
Mộng rất xanh, mộng rất xanh, rất xanh…
Choáng thời gian vây môn đầu thục nữ.
Hồn đê mê, trong khi lòng giận dữ,
Và tạo ra một thứ sáng hào quang:
Những mặt tươi, nhan sắc đẹp như trăng
Và sắc lẻm như thanh gươm vấy máu;
Những đôi mắt, kho tàng muôn châu báu,
Có những hàng đũa ngọc gắp hương yêu;
Những môi son phản ảnh một trời chiều,
-- Một trời chiều mà muôn hoa nín thở;
Những vú nõn: đồi cong thon, nho nhỏ,
Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh;
Thơ Bích Khê đã cực kỳ phong phú một phần lớn nhờ ở những cảm giác phi thường như vậy. Có lẽ chính ông cũng tự phụ thơ ông có nhiều cái siêu việt, nên ông đã không ngần ngại cất tiếng mời mọi người đến chơi “cõi trời” thơ ông, “cõi trời” tâm hồn ông:
Ồ, đừng có ngớp! mời anh hãy bước.
Qua nơi này là cách biệt trần gian.
Điềm anh hoa!
Nức nở tiếng tơ vàng
Lùa hết trọi vào trong khung cửa ngọc;
-- Trời tôi rộng, mịn màng hơn suối tóc,
Ngả ngớn trong hương xạ hiệp hương thần
Anh bước đi là lảo đảo hai chân
Mắt rất mát và miệng nghe ngòn ngọt.
Đây bay ra! Bay ra… êm rót rót
Anh ghé tai! – tiếng nhạc dẫn hồn hoa
-- Cả trăm hoa, phong vị sắc quần thoa,
Đi vào cõi mê ly không bờ bến…
(Một cõi trời, trang 78)
Dẫu Bích Khê không mời, thì chúng ta cũng đến. Chúng ta nên đến, phải đến và không thể nào không đến.
Hãy vào thế giới “Tinh Huyết” mà coi những vẻ đẹp vừa mơ ảo vừa lộng lẫy của nghệ thuật; hãy đến mà coi một kho tàng những cảm xúc và những ảo giác rất lạ lùng mà vẫn rất thật. Hãy đến để cảm thấy thể xác mình, tâm hồn mình ngất ngây say đắm với những tư tưởng cao sang, những rung động tuyệt vời mà Bích Khê, nhà thơ điển hình nhất trong hàng ngũ những thi sĩ Tượng Trưng Việt Nam, hiến tặng cho chúng ta.
5.11.1974
Nguồn:
Văn học, số chuyên đề về Bích Khê, Sài Gòn, (20/11/1974), tr. 51-70
Chú thích
(1) Tất cả những số trang viện dẫn trong bài này đều căn cứ vào bản in năm 1930, do Trọng Miên xuất bản
(2) Bình Thánh Thể: bình đựng bánh Thánh, thứ bánh bằng lúa miến đã được làm phép được coi như thịt và máu chúa Jesus Christ. Bình Thánh Thể, cũng như bình xông hương (encensoir) là những vật dụng dùng trong nghi thức tẻ lẻ của đạo Thiên Chúa.
THẾ GIỚI THƠ TƯỢNG TRƯNG BÍCH KHÊ
Phan Kim Thịnh
Một trong số những thi sĩ tiền chiến đã làm giàu có cho thế giới thi ca tượng trưng của nước nhà mà chúng tôi có dịp gửi đến cùng bạn đọc trong bài này là thi sĩ Bích Khê và tập Tinh Huyết.
Thực ra thì “Tinh Huyết” đã được người đề tựa cho tác phẩm, thi sĩ Hàn Mặc Tử, chia hẳn ra làm 3 phần có tính cách khác nhau:
1. Thơ tượng trưng
2. Thơ huyền diệu
3. Thơ trụy lạc
Nhưng mặc dầu sự phân chia của chính một thi sĩ cùng trường phái đó, người đọc vẫn nhận ra tính cách tượng trưng bàng bạc trên mỗi câu thơ của Bích Khê, giống như những dòng tinh huyết luân lưu trong một thân thể.
Bích Khê đã dẫn người đọc bước vào một không gian trạm trổ những trăng sao, màu sắc, làm no nê tất cả mọi giác quan, vì những hình ảnh, âm thanh, khoái lạc, ông mô tả. Trong một thế giới mà với chiếc đũa thần của tài năng thi sĩ đã thu gọn mọi hình ảnh vào một cái nhìn cảm giác, biến cái ảo thành cái thật, dẫn thực tế vào những cơn mơ mộng, nói đến chiêm bao như một vạt sờ mó được, trong một tráng thái thức tỉnh lẫn lộn, dù là lẫn lộn một cách cố ý như một người đánh đồng thiếp thơ như thế, mọi sự đều đã được tượng trưng hóa vậy.
Cũng vì thế người ta không ngạc nhiên khi thấy Bích Khê nhìn một chiếc sọ người với những mảnh óc trắng với hàm răng như tinh, thành những chiếc bình vàng chén ngọc!
Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng!
Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương!
Ôi bình vàng! Ôi chén ngọc đầy hương!
Ôi hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng!
Ôi thần tỉnh! Người chứa một trời thương.
Người yên tịnh nhưng người đi muôn dặm
Máy thu thanh hòa âm nhạc thơm tho!
Miệng yêu kiều mơn ánh sáng say no!
Nguồn trinh tiết gây hồng tươi xanh thắm!
Bầu sữa người êm mát vạn sầu lo.
Người ta thấy Bích Khê đã đưa đẩy từng bước nhịp nhàng hồn người đọc vào cái khung cảnh chếnh choáng của một thứ men không tên, nhìn mọi vật đều mờ ảo, rồi ngất ngây vì hương nhạc, đẩy lên môi cái ánh sáng say no và nuốt ực vào lòng chất sữa lạnh mát mà ông gọi là sầu lo nào đó lúc nào không hay.
Đọc thơ Bích Khê người ta luôn có cảm giác ớn lạnh của một người nuốt phải một vật lạ gì đó, uống khỏi môi vào đến ruột gan rồi, mà không biết cái thứ đó là cái gì và có ăn hay uống được không. Người ta sống trong một sự âu lo, sượng sùng, nhưng không vì thế mà muốn ngừng lại, không tiếp tục cuộc phiêu du. Bởi vì người ta muốn nhận biết, muốn thấy rõ, thấy rõ cái gì đây:
Ô! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc,
Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơm
Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương;
Màu trăng không gian như gờn gợn sóng.
Từ ở phương mô nhạn mang thơ về,
Đàn thơ cơ hồ lên cung âm điệu.
Đây giây trinh bạch khóc mướt trong mơ;
Đây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ?
Người đọc đã lẫn mộng với thực, nghi ngờ cả giác quan của chính mình. Thi sĩ đã vẽ ra rõ ràng từng hình ảnh ông nhìn thấy từng âm thanh ông nghe động, nhưng người đọc không thể làm sao trong một giây phút mà phân biệt được. “Đây giây trinh bạch khóc mướt trong mơ?”
Ai khóc? Giây trinh bạch mà khóc ư? Yêu ma nào ám ảnh chúng ta đây? Khóc mướt trong mơ là khóc như thế nào? Đó là câu hỏi chúng ta và có lẽ ngay cả thi nhân cũng không trả lời được nhưng không ai chối cãi được rằng ở đằng sau sự nhợt nhạt của tri thức đó, chúng ta vẫn mường tượng thấy một cái gì mềm mại, nao núng, khiến chúng ta mủi lòng, muốn tiến tới, muốn ôm lấy mà vỗ về.
Chúng ta lại nghe thi nhân nói:
Ô! Côi lầu mây ánh gì kim cương,
Áo nàng thơ ngây nao nao nghê thường.
Thơ bay! Thơ bay vô bàn tay ngà,
Thơ ngà ngà say! Thơ ngà ngà say!
Nàng ơi! đừng động… có nhạc trong giây,
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây;
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,
Ô nàng tiên nương! Hợp nhạc đầy hương.
Chúng ta đã theo người thơ đến bước cuối cùng bỗng nghe ông gọi một người khác, ta biết rằng ta không cùng đi với ông, vậy sự đưa dẫn lúc đầu vào cái thế giới mà mọi vật đều mờ ảo này, ta tưởng đước theo người thơ chỉ lối bước vào, ta biết ta không phải vậy hồn ma nào đã ốp vào ta dẫn ta tới đây. Đàn nào đâu? Nhạc nào đâu? Người đẹp nào đâu? Hương hoa nào đâu? Sao bỗng dưng biến hết? Vậy mà dư vị một “hớp nhạc đầy hương” vẫn còn lại trong cổ họng chúng ta. Nhưng không, chúng ta đã bị lừa dối, không có nhạc, không có hương nào hết, chỉ có một cuộc lầm lẫn cảm giác mà thôi…
Chạm vào người run rẩy cả châu thân
Ngọc đồng trinh nên thanh bạch trăm phần
Ngọc ra đời – Tình tôi run đến óc…
Nàng! A nàng! Sao nàng tên là Ngọc?
Nàng muốn ta quỳ gối dưới chân nàng?
Nàng muốn ta cung phụng rất cao sang?
Đặt bàn thờ ở trong phòng cẩm thạch?
Nàng muốn ta dâng cả hồn và phách?
Trời ơi trời! nàng là Ngọc hay sao?
Tôi ôm nàng trong một giấc chiêm bao…
Nàng là Ngọc? Hàng quan sao nóng hổi?
Chất da thịt sáng rần qua tim phổi…
Ôi thôi rồi! Ngọc vỡ cả màn trinh!
Nguồn phúc hậu trắng rợn một giòng tinh
Ta muốn uống cho mê cơn khoái lạc
Cho đê mê mà lên cung trụy lạc
Ở trong hồn chảy máu mãi không thôi.
Giây phút bàng hoàng đó trôi qua, chúng ta tỉnh lại, ngỡ ngàng trong chốt lát. Men thơ đã ra. Đề tựa cho tập “Tinh huyết” Hàn Mặc Tử đã giải thích cho giây phút ngỡ ngàng đó như sau:
“Sự phát triển bồng bột quá, dồi dào quá, sẽ đưa linh cảm chàng đến một địa hạt siêu thần hơn, thơ chàng cũng như hồn chàng, sẽ qua hết những không khí, nhiệm mầu bay cao đến tột cùng của Nước Trời hay chìm đắm xuống đáy Địa Ngục.
Sự điên cuồng ấy nguyên ở một phần thiên tài và ở một phần của “Đau Khổ”. Chàng là người đã sống. Những tình cảm sâu xa dù là ở cõi tiềm thức đi nữa, cũng đã hơn một lần này nở rồi… Tình cảm càng giàu sang bao nhiêu tâm hồn chàng càng thanh thoát bấy nhiêu. Tư tưởng vì thế nhiều khi biến đổi bất thường, tin tưởng đó rồi lại ngờ vực liền”.
Vậy Bích Khê được Hàn Mặc Tử công nhận như một nhà thơ có tài, từng sống và đau khổ. Sự choáng váng chúng ta cảm thấy khi đọc thơ Bích Khê có lẽ bởi vì cùng một lúc chúng ta phảo theo kịp sự phóng mình lên cao tới tột cùng Nước Trời hay chìm sâu đến đáy. Địa ngục của ông theo một lòng tin, rồi lại ngờ vực ngay đấy. Giọng thơ gấp gáp của Bích Khê trong cùng một câu chứa vội cả những âm thanh từ cõi huyễn hoặc nào tới, giữ cả hình ảnh chồng chất, đáng nhẽ nếu ông chặt đứt, sắp xếp cho có thứ riêng biệt, thì người đọc mới kịp nhận ra, nhưng giống như một ngọn suối trôi tuột cả trăng sao, chứa dấu trong lòng, thơ Bích Khê đã tràn ra mọi hình ảnh đã đảo lộn, quay cuồng, đã biến đổi:
Nhưng nhiệm màu! Trước mặt ánh trăng hường
Bay lả tả muôn hoa đều nín thở
Một sắc động! một mùi hương như mới vỡ
Một màu son phảng phất ý mơ màng?
Không ! từ trong thanh khí dội dương vang
Bỗng đôi mắt hiện hình – đôi mắt ngọc
Ôi ! Đôi mắt – Toàn thân tôi rởn ốc!
Cả linh hồn óc não phổi tim gan
Đều say rêm trong sáng điện rang rang
Ma cốt tinh thần và khí phách
Hỡi đôi mắt! Nơi người là ngọc thạch
Nơi giếng người phản chiếu ảnh thiên thần,
Nơi suối người giữ kín tiếng châu ngân
Nơi triển lãm cả một bầu tiên động,
Nơi rung rinh cả một trời thơ mộng,
Người là ai? Người hỡi! Người là ai?
Cũng có người cho rằng mỗi bài thơ của Bích Khê là một bức tranh trạm trổ. Đường nét đều sắc bén, tinh vi. Nhưng chính vì cái tính chất tinh vi điêu khắc đó nên tác phẩm đã dừng lại ở giá trị tự tại của nó, nó không mở thêm mội lối tưởng tượng nào ngoài những gì vây quanh nó. Nói cách khác cái đẹp trong thơ Bích Khê là một cái đẹp tĩnh, nó ngủ yên trên từng mỗi chữ đã được lựa chọn chắc chắn của thi sĩ. Ngọn suối trong thơ ông là một ngọn suối đào đã được tính toán cho chảy qua những đâu, điển hình nhất cho cái đẹp trong thơ Bích Khê là bức tranh lõa thể của ông:
Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ,
Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
Ở đây mọi sự trần tục của xác thịt đã được thanh khiết hóa, cái thân thể đàn bà trở thành một tác phẩm nghệ thuật với những màu sắc, đường nét trác tuyệt, nhưng chính từ đó nó mất đi cái ấm nóng của đời sống, nó giá băng và cách biệt.
Nhưng Hàn Mặc tử thì lại quan niệm ngược hẳn lại. Ông viết:
“Nếu chẳng phải là một nghệ thuật siêu thần, thi nhân làm sao đưa đến một nguồn sống phong tình mà thanh khiết cho giai nhân. Để có cái ma lực huyền diệu cám dỗ được ngũ quan của người trần…”
“Sự say mê, tìm kiếm những nguồn hoan lạc vô biên đã dần dần đẩy thi nhân vào bờ bến của Huyền Diệu. Ở đây sự mườn tượng của thi nhân lại dồi dào hơn nữa, người ta chỉ gặp toàn âm thanh đang ngả ngớn, với muôn thứ hương đang bay lẳng lơ trong lồng nhạc, trong khi có hàng hà sa số là ánh hào quang va vào hồn hoa, chạm nhằm không khí lạ. Không có sự say đắm nào ở phương xa, hay sự mong nhớ nào cách biệt mà không đến đây để sum vầy, gây nên cảnh tượng đoàn viên của một mùa thơ, mùa trăng bát ngát”.
Người ta e Hàn Mặc Tử đã lạc vào thế giới thơ không phải của Bích Khê cũng không phải của riêng mình, mà họ Hàn đã sa lạc vào trời thơ Hằng Cửu.
Nói như thế không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận cái giá trị cao sang của thơ Bích Khê mà chỉ trình bày một vài ý kiến sau khi đã ra khỏi cuộc phiêu du qua những “khúc nghê thường” những “cơn mê” và thôi làm “người say rượu” để nhìn lại những cảnh sắc, trạng thái đã đi qua. Cái đặc điểm của thơ Bích Khê là như thế. Khi đọc chúng ta cũng có thể ngả ngớn say như Hàn Mặc Tử, nhưng khi buông tập thơ ra, choáng váng trong giây phút, rồi quên đi:
Nàng! hở nàng! hãy cắn vào hồn ta.
Hồn nguyệt bạch ran lên chiều háo hức!
Tôi uống trọn cặp môi hường thơm phức.
Ô cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm!
… Một bàn chân ve vuốt một bàn chân!
Mát làm sao! mát rợn cả châu thân.
Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực.
Ôi! Thớ thịt có đàn lên cung bực
Hồn tôi ôm gót ngọc, lắng âm thanh…
Nguồn :
Văn học, số đặc biệt về Bích Khê, Sài Gòn, ( 20/11/1974) tr. 71-77.
BÍCH KHÊ, QUA CÁI NHÌN CỦA NHÀ VĂN, NHÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC
Ở MIỀN NAM 1954-1975
Trần Hoài Anh
Bích Khê là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới vừa xuất hiện trên thi đàn đã làm kinh ngạc biết bao người. Ông là một "đỉnh núi lạ"(Chế Lan Viên) mà tài năng tỏa sáng ngay ở tập thơ đầu, đến nỗi thi sĩ thiên tài Hàn Mặc Tử đã phải ngưỡng mộ ngợi ca:" Một bông lạ nở hương, một thứ hương quí trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc. Ta có thể sánh văn thơ Bích Khê như một đóa hoa thần dị ấy " (1). Và từ đó đến nay đã có biết bao nhà văn, nhà lý luận phê bình văn học tìm đọc, giới thiệu, luận bàn về Bích Khê trên sách báo cả nước.
Ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1975, do đặc thù của hoàn cảnh xã hội, việc nghiên cứu, giảng dạy văn học lãng mạn trong đó có phong trào Thơ mới (1932 -1945) (mà ở miền Nam gọi là thi ca tiền chiến) luôn được chú trọng. Trong các văn thi sĩ tiền chiến, Bích Khê là một trong không nhiều nhà thơ được biết đến như một thiên tài thơ ca mà sự đóng góp của ông vào nền thi ca hiện đại Việt Nam là điều không thể phủ nhận. Vì vậy, trên báo Văn, một tập san Văn học nghệ thuật có uy tín được xuất bản ở miền Nam trước 1975 số 64 ra ngày 15 tháng 8 năm 1966, trong lời tưởng niệm Bích Khê đã viết "Mặc dầu mệnh yểu, từ trần khi sự nghiệp còn dang dở nhưng thi sĩ Bích Khê đã là nhà thơ lỗi lạc, có một vị trí rõ rệt trong lịch sử thi ca Việt Nam” (2). Và cũng ở số báo này, Bích Khê được giới thiệu một cách trân trọng với 8 bài viết đặc sắc của các tác giả là nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình văn học. Đó là các bài Đôi nét về cuộc đời Bích Khê của Quách Tấn; Bích Khê có khuynh hướng chính trị không và Nhân nhớ Bích Khê và thơ Bích Khê bàn về thơ tượng trưng của Tam Ích; Người em Bích Khê của Lê Thị Ngọc Sương; Thu Xà và phần mộ Bích Khê, Nhạc và họa trong thơ Bích Khê của Đinh Cường; Bích Khê thi sĩ thần linh của Hàn Mặc Tử; Lời bạt "Tinh huyết" của Hoàng Trọng Miên.Và sau đó cũng trên Văn số 66 ra ngày 15/9/1966 lại đăng bài Nhân đọc bài hồi ký của anh Hồ Hữu Tường của Ngọc Sương với lời giới thiệu đặc biệt của toà soạn: “Chúng tôi xin cống hiến bạn đọc thêm một tài liệu về thi sĩ Bích Khê. Mong bạn đọc coi bài dưới đây như một phụ đính cho Văn số 64”. Còn trên tạp chí Văn học số chuyên đề về Bích Khê ra ngày 20/11/1974 có bài viết Bích Khê : Dòng thơ, khoảng thơ và thời gian của Phạm Hoài Việt; Tinh huyết của Bích Khê của Lê Huy Oanh và Thế giới thơ tượng trưng Bích Khê của Phan Kim Thịnh.
Ngoài các số báo chuyên đề, Bích Khê còn xuất hiện trong các báo, tạp chí khác như: Bách Khoa, Văn học, Nghiên cứu văn học, Thời tập, Khởi hành... và các tuyển thơ như Thi nhân tiền chiến (quyển hạ) của Nguyễn Tấn Long (Sống Mới Xb., Sài Gòn, 1969), Thi ca Việt Nam hiện đại của Trần Tuấn Kiệt (Khai trí Xb., Sài Gòn, 1965), hay trong các tác phẩm tiểu luận phê bình như Ý Văn 1 của Tam Ích (Lá Bối Xb., Sài Gòn, 1967), Đời Bích Khê của Quách Tấn (Lửa Thiêng Xb., Sài Gòn, 1971)..., Bên cạnh đó, Bích Khê còn hiện diện trong sách giáo khoa Việt văn trung học và giáo trình đại học. Nhìn chung, qua các bài viết được đăng tải trên sách báo ở miền Nam 1954 – 1975, các tác giả đều tập trung nghiên cứu về đời và thơ Bích Khê.
Viết về đời Bích Khê ngoài việc giới thiệu khá chi tiết về thân thế như quê hương, gia đình, tình bạn, tình yêu...các tác giả còn giới thiệu về sự nghiệp văn học của ông với nhiều tư liệu quí hiếm và đều thống nhất cho rằng Bích Khê là một nhà thơ tài hoa nhưng mệnh bạc. Cũng trong các bài viết trên, có rất nhiều chi tiết về cuộc đời ngắn ngủi của thi nhân khiến người đọc xúc động. Đó là những dòng hồi tưởng về những tháng ngày lang thang trong nghèo đói để sống và viết ở Phan Thiết mà nữ sĩ Ngọc Sương, người chị ruột, người bạn văn của Bích Khê đã ghi lại trong bài Nhân đọc bài hồi ký của Hồ Hữu Tường: “Chúng tôi sống rõ nghèo, nghèo đến nỗi không sắm nổi giường phản để nằm. Chúng tôi thuê một căn nhà ba đồng một tháng bề ngang bốn thước bề sâu mười bốn thước. So với đô thị Sài Gòn thì gọi là bảnh, nhưng so với Phan Thiết hồi đó thì lại là bỏ hoang. Gia tài chúng tôi chỉ sắm nổi hai chiếc chiếu, ban đêm làm giường ngủ, ban ngày làm bàn ăn. Nhờ có đất để làm ghế” (3). Trong bài viết nầy Ngọc Sương cũng cho biết một tư liệu quí về bốn tập bản thảo tiểu thuyết của Bích Khê gởi cho người anh ở Tuy Hoà đã bị đốt cháy vì sợ liên lụy trước sự truy lùng của giặc “Anh tôi đốt nó cũng vì anh tôi chẳng biết nội dung tinh thần tác phẩm ấy ra sao !..Sợ mà đốt ! Cấp bách mà đốt!...” vì khi gởi “Bích Khê thận trọng niêm lại rất kỹ.” (4 ). Giá các tập bản thảo tiểu thuyết nầy không bị đốt mà được cứu sống và lưu giữ như “Nhật kí Đặng Thùy Trâm”, biết đâu ta lại có một Bích Khê tiểu thuyết bên cạnh một Bích Khê thi nhân !? Hoặc trong bài viết của Quách Tấn, những câu văn ghi lại nỗ lực của Bích Khê vượt lên bệnh tật đến bây giờ vẫn làm người đọc rưng rưng: “Biết mình mắc chứng nan y, nhưng Khê vẫn nuôi hy vọng có ngày khỏi được, nên ai bày vẽ gì, dù vật khó tìm đến đâu người nhà cũng gắng tìm cho kỳ được, món khó ăn uống đến đâu Khê cũng cố sức mà nuốt cho trôi’’(5) ...
Bên cạnh giới thiệu với độc giả về thân thế, sự nghiệp sáng tác, các tác giả còn chú trọng khắc hoạ chân dung tinh thần của nhà thơ. Một trong những vẻ đẹp nổi bật của bức chân dung tinh thần đó là lòng yêu quê hương đất nước thiết tha, sâu sắc. Bài viết của Ngọc Sương đã ghi lại thật cảm động tình cảm của Bích Khê đối với dân tộc trong những ngày cách mạng Tháng Tám: “Ai nói rằng nhà văn, nhà thơ là ích kỷ chỉ biết làm thỏa mãn cho đời mình, cho tình yêu của mình, chỉ biết ca tụng màu áo sặc sỡ, chiếc cài óng ánh, hoặc gió ghẹo rèm, trăng hôn má, chim hót ca thì là sai, hoàn toàn sai đối với em tôi. Em tôi một người làm thơ được duyên may người đời gọi bằng thi sĩ mang nặng trong lòng một tình thương rộng lớn đối với dân tộc và nhân loại, chẳng biết có phải vì truyền thống của máu huyết yêu giống nòi và non nước như yêu thơ, yêu nhân loại, như yêu chính mình? Vì vậy Bích Khê đã từng đau cái đau của dân tộc, từng rơi nước mắt trước cảnh đầu rơi máu chảy, do thực dân gây ra. Sở dĩ Bích Khê trước khi tắt thở đã có nhiều lần khóc cho những cái chết trong phong trào khởi nghĩa ở Quảng Ngãi vừa mừng sáng trưng đôi mắt khi nghe tin cuộc khởi nghĩa toàn dân ở mùa thu Tháng tám dành trong tay Nhật mà người nhà phải bỏ Khê trong cái chõng tre khênh ra cổng để cho Bích Khê mục kích cuộc biểu tình hoan hô cách mạng thành công của toàn dân, là vì Bích Khê đã từng thương đau trong lòng, cái đau thương phải làm một người dân mất nước. Mùa thu năm đó, nhìn đám biểu tình qua ngõ Bích Khê sung sướng mỉm cười, nụ cười chào cách mạng thành công cũng là nụ cười chào đời trước khi chàng từ giã cõi trần vào tiết lập xuân năm ấy” (6).
Hồi ức của nữ sĩ Ngọc Sương về Bích Khê được viết trong những năm đất nước còn chia cắt, khi miền Nam còn nằm trong sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, không phải viết sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng nhằm "kê khai thành tích" với cách mạng như người ta vẫn làm để nhận huân chương, bổng lộc... Thế mới biết lòng yêu nước và truyền thống cách mạng của Bích Khê và gia đình ông thật vô tư và trong sáng như nhà thơ Thanh Thảo đã khẳng định: "Gia đình nhà thơ Bích Khê, một gia đình cách mạng " (7)
Ngoài tấm lòng yêu thiết tha đối với đất nước quê hương, Bích khê còn có tình yêu sâu nặng với thơ. Thơ với ông như một thứ nghiệp chướng. Nó là lẽ sống của đời ông, là sức mạnh giúp nhà thơ vượt lên bệnh tật, khổ đau để sống và sáng tạo. Hoạ sĩ Đinh Cường trong bài Nhạc và họa trong thơ Bích Khê đã viết: "Sống mấy năm khoắc khoải với vi trùng lao Bích Khê đã nằm xuống, nhưng tiếng thơ Bích Khê ở mãi trong lòng trần gian. Đời Bích Khê ngắn ngủi buồn đau (...) nhưng dù buồn đau, Bích Khê cũng đã hướng lòng lên cao để đạt đến cái đẹp và cái thực. Bích Khê đã sống và chỉ sống vì thơ (...) Phải chăng cuộc đời ngắn ngủi và tính cách thuần túy của thơ đã khiến chúng ta mến cảm và yêu thơ Bích Khê? Trong làng thơ Tây phương lắm thi sĩ tiếng tăm lẫy lừng không phải vì đã bày ra một chủ nghĩa gì. Người ta yêu thơ Francis Jammes, Tristan Dereme Henri de Régnier vì đó là thơ, thơ của muôn đời”.(8) Thật vậy, đời Bích Khê chỉ có thơ chứ không có một thứ chủ nghĩa nào khác, như người ta đã nhầm lẫn gán ghép cho ông một cách oan khuất. Sống 30 năm ngắn ngủi trên cõi đời, Bích Khê đã lăn lộn với thơ và bệnh tật, liệu ông có còn thời gian để làm điều gì khác!? Bởi lẽ, đối với Bích Khê thơ là hơi thở, là máu thịt, là lẽ sống, là tâm linh. Chính khát vọng và niềm đam mê thơ cháy bỏng là nguồn năng lượng đốt cháy hồn ông và phóng chiếu lên thành những cơn đau sáng tạo. Cho nên trong một thời gian không dài, ông đã hạ sinh cho đời đứa con Tinh huyết làm bừng sáng thi đàn bởi giá trị cách tân của nó, đến mức một thiên tài như Hàn Mặc Tử đã ca ngợi Bích Khê là “thi sĩ thần linh”.
Một lĩnh vực khác về Bích Khê được lí luận phê bình văn học ở miền Nam quan tâm nghiên cứu đó là những giá trị về nhiều mặt của thơ ông. Mặc dù còn có nhiều cách tiếp nhận không giống nhau do khác nhau về tầm đón đợi song nhìn chung các tác giả đều khẳng định Bích Khê là nhà thơ tượng trưng tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Lê Huy Oanh cho rằng: “Trong thế kỷ XX, nhất là thời tiền chiến, tại Việt Nam, hiện tượng thơ tượng trưng nổi bật trong các thi phẩm của thi sĩ danh tiếng như Phạm Hầu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Đinh Hùng và nhất là Bích Khê. Mấy vị nầy tài nghệ rất cao, mỗi người điều có vẻ đặc sắc riêng của mình, chúng ta khó có thể phân định ai hơn ai kém ai. Tuy nhiên trong lĩnh vực tượng trưng, Bích Khê đáng được coi như đứng hàng đầu với thi phẩm Tinh huyết của chàng, một thi phẩm tiêu biểu nhất cho thơ tượng trưng thế kỷ XX tại xứ ta’’(9). Và để minh chứng cho nhận định của mình cũng như góp phần thức nhận tư duy người đọc về thơ tượng trưng của Bích Khê, Lê Huy Oanh đã đưa người đọc đi vào thế giới thơ của Tinh huyết: "Hãy vào thế giới Tinh huyết mà coi những vẽ đẹp vừa mơ vừa ảo vừa lộng lẫy của nghệ thuật. Hãy đến mà coi một kho tàng những cảm xúc và những ảo giác rất lạ lùng mà vẫn rất thật. Hãy đến để cảm thấy thể xác mình, tâm hồn mình ngây ngất say đắm với những tư tưởng cao sang, những rung động tuyệt vời mà Bích Khê, nhà thơ điển hình nhất trong hàng ngũ những thi sĩ tượng trưng Việt Nam hiến tặng cho chúng ta." (10). Bởi vì: "Thơ Bích Khê đã vượt khỏi cái vẻ tầm thường của những kiến tạo ngôn ngữ thông thường. Sứ mệnh của thơ chàng là đưa chúng ta từ thế giới hạ đẳng của cảm giác đến thế giới siêu đẳng của tâm linh. Vì thế, khi đọc thơ Bích Khê, độc giả cần phải mở thật rộng tâm linh để có thể thâu nhận những ý tưởng và hình ảnh mờ ảo nhất, tinh vi nhất, kỳ diệu nhất" (11). Còn Phan Kim Thịnh trong bài Thế giới thơ tượng trưng Bích Khê thì cho rằng: "Bích Khê đã dẫn người đọc bước vào một không gian trạm trổ những trăng sao, màu sắc, làm no nê tất cả mọi giác quan, vì những hình ảnh âm thanh, khoái lạc ông mô tả. Trong một thế giới mà chiếc đũa thần của tài năng thi sĩ đã thu gọn mọi hình ảnh vào một cái nhìn cảm giác, biến cái ảo thành cái thật, dẫn thực tế vào những cơn mơ mộng, nói đến chiêm bao như một vật sờ mó được, trong một trạng thái thức tỉnh lẫn lộn, dù là lẫn lộn một cách cố ý như một người đánh đồng thiếp thơ như thế, mọi sự điều được tượng trưng hóa vậy "(12).
Không những khẳng định Bích Khê là nhà thơ tượng trưng, các tác giả còn lý giải tính chất tượng trưng trong thơ Bích Khê. Tam Ích trong bài Nhân nhớ Bích Khê ... bàn về thơ tượng trưng cho rằng: "Hàn Mặc Tử và Bích Khê hai người làm thơ tượng trưng và gần như không vay mượn của chân trời mới Âu Tây một mẫu âm nào. Đất Á đông vốn là đất phong phú về nhạc tính: Nhạc tính là vốn liếng á đông có từ ngàn năm từ muôn thuở: người làm thơ chỉ cần nuôi dưỡng tình ý và nuôi dưỡng tài làm thơ: nhạc tính từ đó vang lên vang lên..."(13). Còn theo Lê Huy Oanh: "Bích Khê cũng như hầu hết các thi sĩ tượng trưng đều là những người có tham vọng khai phá những chiều sâu u ẩn của tâm hồn và đời sống con người. Ông lại là người nghệ sĩ rất nhạy cảm, khát vọng đó và khả năng đó đã khiến ông có được và thấy được những cảm giác, những ý tưởng hoặc hình ảnh thật tinh vi, mới lạ mà những tâm hồn thường nhân khó có thể nhận thấy được. Chúng ta có thể coi những sự cảm thụ đặc biệt đó của Bích Khê là một thứ siêu cảm tính"(14). Song cũng như các nhà thơ trong phong trào Thơ mới, thơ tượng trưng của Bích Khê chịu ảnh hưởng từ thơ tượng trưng Pháp. Đó cũng chính là ý kiến của Lê Huy Oanh khi bàn về tập thơ Tinh Huyết của Bích Khê: "Thơ tượng trưng Pháp nhất là thơ các ông Baudelaire, Rimbaud, Verlaine, Mallarmé... và Valery (thời kỳ đầu) đã ảnh hưởng vào thơ của các thi sĩ Việt Nam thời tiền chiến, một cách thấp thoáng, phảng phất trong thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư và một cách thật rõ rệt trong thơ Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử , Phạm Hầu, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh, Đào Phú Tứ và nhất là Bích Khê. Những tính chất tượng trưng đã phát hiện khá đầy đủ trong tập thơ Tinh Huyết của Bích Khê. Vì vậy muốn tìm hiểu ảnh hưởng thơ tượng trưng Pháp trong thơ Tiền Chiến không gì hơn là dùng tập Tinh Huyết làm tài liệu tiêu biểu cho việc nghiên cứu"(15).
Có thể nói rằng, thành công lớn nhất trong hành trình sáng tạo thi ca của Bích Khê là lĩnh vực thơ tượng trưng. Đây cũng là đóng góp lớn lao của ông vào việc hiện đại hoá thơ ca dân tộc trong giai đoạn 1932 -1945 như Nguyễn Tấn Long đã khẳng định: “Ngày nay Bích Khê đã tiêu dao nơi thế giới khác, nhưng thơ Bích Khê còn đọng mãi trong lòng đời,và nói đến Bích Khê là nói đến một thành công lớn lao trong lĩnh vực thơ tượng trưng, một cường độ cao trong nghệ thuật diễn tả hình ảnh của thực thể”.(16) Chính điều nầy đã đưa Bích Khê lên vị trí là một trong những thi sĩ tiên phong của phong trào Thơ mới trong việc cách tân thơ Việt .Và cho đến nay sự cách tân nầy vẫn là thách thức đối với những tìm tòi sáng tạo của thơ ca đương đại. Bởi nói như nhà nghiên cứu văn học Hoàng Thiệu Khang: “ Bích khê đã thực thi một đoạn tuyệt cao hơn thời đại mình với thơ cũ và mọi thách đố đáng sợ hơn với thơ đương đại”(17).
Ngoài tính chất tượng trưng như một dấu ấn trong thơ Bích Khê hằn lên cuộc hành trình của thơ ca dân tộc, các tác giả còn đề cập đến một số khía cạnh khác trong thơ ông như vấn đề nhạc và họa, vấn đề nhục cảm, vấn đề phong cách thơ Bích Khê... Đinh Cường trong bài Nhạc họa trong thơ Bích Khê đã chỉ ra: "Ngoài hình ảnh tân kỳ, biểu tượng đặc sắc, thơ Bích Khê còn hay về nhạc điệu. Bích Khê coi nhạc điệu là một yếu tố cần thiết trong việc truyền cảm. Bích Khê đã dùng những vần, những tiếng có âm thanh phù hợp với ý để tạo ra một âm điệu thần tình" (18), và "Nhờ có nhạc điệu thi sĩ đã truyền sang tâm hồn người đọc một cách dễ dàng, cho nên Bích Khê còn là một nhạc sĩ. Ngoài âm thanh ra Bích Khê còn làm sáng tỏ đối tượng bằng màu sắc hoặc trừu tượng hoặc cụ thể. Khi thì huyền mơ diễm ảo khi thì âm u chói chang"(19) Hoặc khi đánh giá về yếu tố nhục cảm trong thơ Bích Khê - một vấn đề khá nhạy cảm đã tạo nên nhiều ý kiến trái ngược nhau trong quá trình tiếp nhận thơ Bích Khê, Lê Huy Oanh cho rằng: "Một số nhà luận lý thường hay phân biệt xác thịt và tâm hồn. Họ thường coi nhục dục như những sự ham muốn xấu, do đấy họ thường tránh nói tới những nhục cảm của con người .
Trong Tinh Huyết, Bích Khê không hề phân biệt như vậy. Bằng một cực kỳ say mê ông nói tới nhục cảm, nói đến mọi vẽ đẹp trên thân thể người đàn bà. Thái độ nầy của ông cũng giống như thái độ của Baudelaire, tác giả cuốn Les Fleurs du Mal. Cả Baudelaire lẫn Bích Khê đều mặc nhiên chủ trương rằng thi sĩ có thể nói tới tất cả mọi tình cảm, mọi dục vọng, miễn những điều được nói tới không hạ thấp tâm hồn con người xuống” (20). Còn theo Nguyễn Tấn Long trong Thi Nhân Tiền Chiến: “Bích Khê là người đã sống đã đụng chạm thái cực: tội lỗi và thanh cao, vật dục và tinh thần. Tiếng thơ Bích Khê là tổng hợp của tất cả những xao xuyến thắc mắc giữa tâm hồn và thể xác. Thi nhân đã từ cảm giác đi đến trụy lạc sa đoạ rồi lại vươn lên ở địa hạt truyền thần, trước khi kết thúc ở lĩnh vực siêu tưởng” (21). Theo chúng tôi đây là những ý kiến đúng đắn cả về mặt khoa học lẫn thực tiển. Nói đến yếu tố nhục cảm là nói đến một phần không thể thiếu trong đời sống con người, tại sao chúng ta lại tránh né hoặc xem như một thứ cấm kỵ vô hình ? Thơ là tiếng nói sâu thẳm và thiêng liêng của đời sống con người lẽ nào lại chối từ vấn đề nhục cảm - một vấn đề thuộc bản thể của con người và được coi là thuộc tính của nhân loại. Thánh Bernard nói: “Cái thiêng không đi trước cái súc vật, trái lại cái thiêng liêng chỉ đến sau, vì vậy trước khi mang hình ảnh của cỏi trời, chúng ta phải mang hình ảnh người cõi thế”. Thơ không thể thoát ly đời sống. Vì vậy, thơ không thể xa lạ với những gì thuộc bản chất của đời sống. Và quan niệm về vấn đề nhục cảm trong thơ cũng không nằm ngoài qui luật nầy.
Về phong cách thơ Bích Khê, Tam Ích trong bài Nhân nhớ Bích Khê ... bàn về thơ tượng trưng gọi đó là "cái một". Theo ông, "Những nghệ sĩ theo cái nghĩa chân chính của nó - của cả lòai người cũng như của riêng một dân tộc nào đều có một nếp sống, một tác phong tư tuởng và tưởng tượng... một mình một cõi, họ cũng không giống thiên hạ, Cummings gọi nó là "Unicité", có người gọi tác phong ấy là độc đáo. Tôi thì gọi là cái một. Ai đã gần Bích Khê đều thấy chàng có cái một ấy - cả một đời Bích Khê chàng trung thành với cái một ấy, và không muốn ai chạm đến cái một của chàng - cho đến ngày chàng nằm xuống , một đi ... Tôi xin nói lại: cái một ấy, chàng nâng niu nó, nuôi dưỡng nó ... đến cái trình độ người ta nhìn chàng như nhìn một ngôi sao lẻ tránh một ngàn lẻ một ngôi sao khác để đi con đường hành tinh riêng của mình. Thi nhân họ bướng bỉnh và ngả nghiêng như vậy: ai lại gần được Bích Khê thì lại gần được Edward Cummings một nhà thơ trứ danh của Mỹ hiện thời (...) Ai đã gần Bích Khê đều biết : mỗi bài thơ của chàng là mỗi một và cả tập thơ cả một cái một toàn diện” (22).Quả vậy, nói đến cá tính sáng tạo và phong cách của nhà thơ là nói đến một loại “thước đo nghệ thuật” (Khrapchenko), bởi “người nghệ sĩ đích thực, người nghệ sĩ có tài năng bao giờ cũng mang đến cho đời một cái mới, cái riêng biệt đó làm cho cuộc sống luôn luôn phong phú, lạ lùng hấp dẫn” (23). Phong cách mỗi nhà thơ là yếu tính tạo nên sự hiện hữu của thơ. Nhà thơ có phong cách sẽ tạo nên sự bất tử trong lòng người đọc. Và như thế họ sẽ có vị trí xứng đáng trên thi đàn, Còn ngược lại họ sẽ tan biến vào cõi hư vô. Vì “nếu cá tính nhà văn mờ nhạt, không tạo ra được tiếng nói riêng thì đó là sự tự sát trong văn học một lĩnh vực tối kỵ sự nhai lại ngay cả đối với những chân lý quan trọng” (24). Bích Khê thì khác! Ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn ông đã là một nhà thơ có cá tính và phong cách, đã tạo cho mình một dấu ấn trong lòng người đọc. Chính vì vậy thơ Bích Khê sống mãi với thời gian. Đời và thơ Bích Khê sẽ không bao giờ chết, đúng như lời Ngọc Sương đã viết: "Em tôi đã chết nhưng mãi đến bây giờ tôi vẫn không tin là em tôi đã chết ... có những người khác cũng không muốn tin rằng em tôi đã chết” (25). Và việc chúng ta tổ chức hội thảo thơ toàn quốc về Bích Khê trên chính quê hương núi Ấn sông Trà , nơi đã sinh ra ông một lần nữa đã khẳng định thêm điều ấy.
Như vậy, ở miền Nam giai đọan 1954-1975, việc nghiên cứu về thơ ca lãng mạn nói chung và thơ Bích Khê nói riêng là vấn đề được các nhà lý luận phê bình đề cập khá nhiều trên sách báo. Tuy ý kiến của các bài viết nhiều khi chưa có sự thống nhất nhưng nhìn chung đều khẳng định vẻ đẹp cuộc đời và thơ Bích Khê với những giá trị mà sự khắc nghiệt của qui luật thời gian chỉ làm cho những giá trị đó sáng rực hơn, mới lạ hơn nên càng kích thích sự tìm hiểu, khám phá của người đọc. Bởi nói như Hoài Thanh: "thơ Bích Khê đọc đôi ba lần cũng như chưa đọc" (26). Bởi "Bích Khê xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như nhà cách tân đi xa hơn cả so với đương thời” (27). Vì “Có những nhà thơ làm thơ, có những nhà thơ vừa làm thơ vừa đẩy lịch sử thơ ca duy tân thêm một bước, có những nhà thơ đem đến một mùa lương thực. Lại có nhà thơ cầm một dúm hạt giống mới trên tay. Khê thuộc hạng thứ hai” (28).
Bích Khê qua cái nhìn của lý luận phê bình văn học ở miền Nam 1954-1975 là một nhà thơ của sáng tạo và cách tân, là người gieo hạt giống thơ cho mùa sau, là người sống “dấn thân” (J.Paul Sarte) cho những giá trị đích thực của thơ ca và cuộc sống. Đó cũng chính là khát vọng cháy bỏng của thi nhân như lời thơ ông viết: Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới/ của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong (Duy Tân).
Quảng Ngãi, tháng 2 năm 2006
Sài Gòn, tháng 3 năm 2016
Nguồn:
Tham luận Hội thảo nhân kỷ niệm 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 2006; bổ sung 2016.
Chú thích:
(1) (17) (27) Nhiều tác giả (2003), 70 năm thơ Bích Khê, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, tr. 100, tr.137, tr. 135
(2) (5) (8) (13) (18) (19) (22) (25) Văn số 64 ra ngày 15/8/1966 tr.01, tr.9, tr.73, tr.14, tr.68, tr.70, tr.18, tr.41
(3) (4) (6) Văn số 66 ra ngày 15/9/1966 tr.112, tr.114, tr 111
(7) Thanh Thảo “Gia đình Bích Khê”, Báo Văn Nghệ số 38 ra ngày 21/9/2002
(9) (10) (11) (12) (14) (15) (20) Văn học số chuyên đề về Bích Khê 1974, tr.51, , tr. 70, tr.65, tr.71, tr.68, tr.52, tr.66
(16) (21) Nguyễn Tấn Long (1969), Thi nhân tiền chiến (Q. hạ), Sống Mới xb., Sài Gòn, tr.323, tr.323
(23) Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1999) Lí luận văn học, vấn đề và suy nghĩ, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, tr.24
(24) Phượng Lựu (chủ biên) (2002) Lí luận Văn học tập 1 Nxb. ĐHSP, Hà Nội, tr.36
(26) Hoài Thanh, Hoài Chân (2003) Thi Nhân Việt Nam, Nxb.Văn học, Hà Nội, tr.228
(28) Thơ Bích Khê (1988) , Sở Văn hoá Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, tr.26
PHẦN III C
DƯ LUẬN VỀ BÍCH KHÊ NHỮNG NĂM 1975-2016
------------------------
THƠ BÍCH KHÊ
Chế Lan Viên
Đến Quảng Nghĩa, chúng tôi đi tuột ngay về Thu Xà cho kịp thăm mộ Bích Khê trước khi trời tối. Trong đời tôi, tôi đã thăm Khê vẻn vẹn bốn lần. Một lần anh nằm ở Bệnh viện lao Pasquier, một lần anh nằm tại Hoàng Hoa Trang (vẫn lao vẫn bệnh), và hai lần anh nằm dưới đất. Thăm mộ Khê lần này cách lần trước (1946) là 42 năm. Đủ thời gian cho hai cuộc chiến tranh, một “cuộc” hòa bình, cộng thêm cái không gian chia cắt về đất đai và tư tưởng nữa. Ấy thế nhưng chiều nay hình như các thứ đó chả có hiệu lực gì. Nhà cửa, ruộng đồng, phố xá quê anh đã đổi thay dữ dội, vì đạn bom, vì xây dựng, nhưng tôi vẫn thấy mình đi trong không khí, khí hậu các câu thơ:
... Nơi đây làng cũ buồn thu quạnh ...
…Nơi đây thành phố đời ngưng mạch
Những nàng lai khách vẫn buồn mơ
Tôi hỏi người cháu Khê cùng đi “ở đây có phụ nữ Hoa Kiều chứ?”. Vừa hỏi vừa nghĩ: “Khê là người đầu tiền đưa hai chữ lai khách vào thơ” và nghĩ “con gái lai khách chắc là rất đẹp”.
- Dạ, ở đây có đông Hoa Kiều đến từ đời Thanh. Nay còn vài ba hộ.
Những nàng lai khách vẫn buồn mơ
Đường lên hội quán sương khuya xuống
Đâu mấy chàng trai rõi nhớ hờ .
Một người phụ nữ bà con cùng Khê chỉ cho tôi mái nhà Hội quán sau các lùm cây. Nhà phê bình trong tôi nghĩ: “Khê là nguời đầu tiên dùng chữ hội quán. Hội quán mới gặp sương khuya cũ, ngộ lắm”, còn “nhà” tò mò trong tôi tự hỏi: “Có Khê trong các chàng trai kia không? Cô buồn thì buồn mơ chàng lại nhớ hờ, được lắm!”
Tìm ngõ nhà em, anh sẽ thay
Nhà Khê đây rồi, giữa phố, không có ngõ. Tôi bỗng dưng tiếc cái ngõ trong thơ ấy. Như ngày nào về thôn Vỹ Dạ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” tiếc không thấy trúc ở đâu.
Những cành nhãn muộn bóng giơi lay
Những gốc nhãn, cành nhãn Khê tả ấy không còn. Vườn đầy chuối. Đứng giữa chuối, người cháu đưa tay chỉ xa xa chỗ Khê nằm.
Em đang nổi bệnh trong phòng vắng
Tình đậm theo trăng sáng sáng đầy
Bỗng dưng ta thấy Khê đang nằm trong phòng ấy, thiêm thiếp thiêm thiếp như tôi thấy anh nằm ở Pasteur ngoài Huế, ở Hoàng Hoa Trang quê chồng chị Ngọc Sương trong Quảng, nằm và cười một nụ cười nhợt nhạt héo hon, he hé đôi mắt chào tôi.
Trên mồ con quạ đứng im hơi
Mộ Khê đây rồi, không có con quạ vĩnh cửu thiên thu nào đe doạ mồ Khê cả. Có, thì chúng ta cũng xua đi cho Khê đỡ sợ. Khê nằm giữa mộ các người thân trong quyến tộc. Tôi, Yến Lan và anh Thu Hoài (người có công tổ chức chuyến đi này) thắp một tuần nhang trước mộ người đã khuất. Hai ngày trước đây, chúng tôi cũng đã thắp hương trên mộ Tử ở Quy Nhơn. Tôi báo cho Khê một tin mừng:
Những tờ thơ nát đầy hơi hám
Tay khách đa tình sẽ chuyển trao
Lời mơ ước ấy của Khê sắp được thực hiện. Quê hương Nghĩa Bình của Khê không muốn Khê nằm lâu trong quên lãng. Đã hai năm nay, Sở Văn hóa Nghĩa Bình và anh Hồng Nhân giám đốc Sở thiết tha có một tập thơ Hàn Mạc Tử, một tập thơ Khê. Thơ Tử đã có rồi, thơ Khê cũng đã tuyển chọn xong, chỉ chờ có giấy, chỉ chờ có tựa. Tôi cũng báo cho Khê rõ người tuyển chọn và đề tựa vẫn là người Khê đã giao phó 44 năm xưa, hồi 1943, 1944. Và tinh thần tuyển chọn cũng là tinh thần mà chúng ta đã đồng ý với nhau hồi ấy, nghĩa là phần thơ trong Tinh Hoa (chưa in) được đánh giá cao hơn Tinh Huyết. Trong Tinh Huyết, thì cái tịnh nhất, tinh chất không phải là loại bài “đây sự thật trần truồng nằm giữa háng”, mà dù cho đổi ra “đây hư áo phủ che nằm giữa háng” thì cũng chẳng phải là thơ. Thơ nằm chỗ khác. Đâu trong trái tim mình.
***
Một bài thơ của Khê lấy tên Duy Tân. Có dính dáng gì không đến ông vua yêu nước trùng tên. Khê vốn hay làm thơ vịnh sử. Nhưng dịch cái đề ấy ra ngôn ngữ thời sự thì nó là “đổi mói tư duy” đấy. Đổi mới tư duy về thơ:
Rồng vẽ lối xưa toàn những sáo
Cua bò thơ mới chả nên thơ
Khê đã tự phê bình rồng xưa và cua mới của mình như vậy, như chính là Khê đã không vui lòng lắm với những cái sáo ngữ của thơ cũ, cũng như các cái chả nên thơ, chả phải thơ mới đương thời... Anh muốn duy tân, để có một thứ thơ khác:
Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới,
Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong,
Thơ ấy sẽ là nhiếp ảnh:
Đường nhiếp ảnh sắc khua màu, tiếng thở,
Cũng là hội họa:
Hỡi hội họa đến muôn đời nức nở,
Là âm nhạc:
Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mái,
Là điêu khắc:
Đầy thẩm mỹ như một pho thần tượng,
Là vũ đạo:
Múa song song khiêu vũ giữa đêm hồng,
Như người xưa xem múa kiếm mà tìm ra cách viết chữ, thay đổi biến hóa thủ pháp, bút pháp của mình. Nhưng đây là các quan niệm về thơ “tổng hợp” của Châu Âu lúc đó. Quả măng cụt của Khê, ta biết đấy là quả lựu của Valéry. Valéry hóa thân, con quạ trên mồ Khê là con quạ của Edgar Poe, của thơ Mallarmé bay đến, da thịt, rồi xác thịt, rồi xác chết trong anh, nguyên là Baudelaire.
Những nhà thơ ít rạch ròi trong các vụ việc này, họ vay mượn nhau, giật tạm nhau là thường, vốn cùng gia đình, cùng bộ tộc. Vấn đề vay mượn thế rồi có ăn nên làm ra không, có gây được vốn liếng riêng gì, của mình, cho mình không có thêm lãi thêm lời không hay lại ăn cụt vốn! Phải nói ngay Khê không phải là kẻ ăn theo, anh đã từ đường băng của thầy, của bạn mà cất cánh mình lên nhanh, bay những đường bay đẹp. Thậm chí anh có những hơi thở riêng mà các thầy không có. Anh nhờ các thầy Tây phương đánh thức bản năng, trí tuệ mà anh vốn có, nhờ các thầy cho những phương thức tìm hiểu sự vật, và tương quan giữa các sự vật đã có sẵn đấy rồi, khi chưa có các thầy, Khê muốn tạo ra giữa thơ rồng hay cua đều khá yên tĩnh lúc bấy giờ.
Mỗi hỗn độn đẹp xô bồ say dậy
Bằng cảm tình, bằng hình ảnh yêu thương
Và mới mẻ...
Nhưng cái mới ấy có nền, có gốc nữa chứ. Nó mói mẻ ở đâu, ở giữa trời à? Không phải...
Và mới mẻ, trên viện cổ Đông Phương
Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật
Và chính nhờ các sức tiềm tàng của Đông Phương chưa ai hiểu hết, kể cả thầy Tây, nhờ Khê quá nửa đời người, quá nửa tâm hồn thân thể đắm mình trong Đông Phương, trong dân tộc ấy, mà Khê đã tìm ra cái mới. Khê viết:
Trập trùng màu xiêm áo
Lớt đớt trận mưa bông
Phật Như Lai thoạt hiện
Trên bảy sắc cầu vồng
Quái thay hòn Non Nước
Nghe giảng đủ mười tông
Đừng cười anh duy tâm, lạc hậu. Anh là người tự cho mình “Ta trên đài Vọng Hải, chỉ nhượng Phật Như Lai” như Hàn Mạc Tử tự cho mình không phải “là cát bụi trở về cát bụi” mà là “thánh thể kết tinh”. Các anh đâu có dễ dàng mê tín.
Những danh nhân lớn của Đức từ triết gia Schopenhauer, Nietzsche đến nhạc sĩ Wagner không dấu giếm quan hệ mình với Đông Phương, với vài ba tông của Phật, khi Khê viết:
Kim, Mộc, Thủy, Hỏa lạy
Trên, dưới đất, trời chầu
Đừng thấy chữ lạy, chữ chầu mà bảo anh là thầy phù thủy, anh đang nói về hòn Kim, hòn Mộc, hòn Thủy, hòn Hỏa của Ngũ Hành Sơn đương phủ phục trước quyền hành của thi ca. Một trong những vị thầy của nền phê bình Pháp hiện nay, người ta gọi ông là Copernic trong phê bình (như Copernic trong khoa học) Bachelard khi nói đến hai lực, bốn yếu tố, khi xếp các nhà thơ theo dòng Thủy, dòng Hỏa, dòng Thổ, dòng Không khí, phải chăng đã dựa vào của Phương Đông thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành? Ta ở phương Đông nhàm chán nó, xem nó và viện cổ, nhưng nhiều viện sĩ Tây Phương lại liếc mắt về nó mà tìm mới mẻ mà kiếm đề tài.
Đầu tiên ta thấy Khê muốn duy tân, đổi mới tư duy trong chữ:
Chữ biến hình ảnh mới lúc trong ngâm
Chữ trong vắt sáng nghệ thuật sầu câm
Ta viết cây cao cây thấp, cây gần cây xa, cây xanh cây héo. Ta thấy, Khê viết:
Cây du dương lâu đài song sóng
Mắt Khê thấy và nghe, thấy cây giống lâu đài và nghe cây du dương như nhạc, so với ta, Khê có con mắt “kép” giàu hơn.
Ta viết tia trăng ánh trăng. Khê lại viết: “Da trăng trắng tợ hàu”. Trăng thành cô gái, Khê sờ được làn da trắng ấy. Cảm giác của Khê nhiều hiệu quả hơn, Khê duy tân câu. Câu với anh không chỉ là đường thẳng, đường cong mà còn là chữ chi, cửu khúc hay đường gãy gập. Câu thơ không chỉ liền một hơi mà tấm tức, ray rứt, nối đứt, đứt nối nhiều lần:
Buồn và xanh trời (Tôi trôi với bờ,
Êm biếc - khóc với thu: Lời úa ngô
Vàng - khi cách biệt
Có phải học Khê, tôi đã tập qua hàng:
Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ
Trở về. Nắng sáng cũng mong. Cây
Cũng nhớ. Ngõ cũng chờ. Và bướm
Cũng thêm màu trên cánh đang bay
Khê duy tân cách qua hàng, khá độc đáo:
Thoảng tiếng gáy của cu
Cườm, hiu hiu vàng đượm
Chữ Cườm tách riêng ra, đứng đầu câu, long lanh như một hạt cườm. Hoặc:
Như mặt trời lọc qua khóm liễu, một
Hoàng hôn. Đàn môi, chim báu tớt
Chữ một ăn với một hoàng hôn câu dưới. Nhưng Khê tách đặt ở câu trên sát kề khóm liễu, nhờ thế ta có khóm liễu cô đơn, khóm liễu một lọc mặt trời. Chữ hoàng hôn, tách riêng ra, càng rực rỡ hơn, và đứng đầu câu sau chói rọi khắp mình câu, chim báu, và môi đều có ánh rọi của nó.
Ta thấy ở đây kỹ thuật về TRANG, về PAGE của MALLARMÉ. Ta thấy Khê làm kỹ thuật ghê lắm. Làm, bố trí, chế tạo rất có ý thức. Anh làm thơ chứ không bị thơ làm như Hàn Mạc Tử, đó là chỗ yếu và chỗ mạnh của Khê.
Khê duy tân đoạn, mảng, bài, những bộ phận trên câu. Trong bản thảo chị Ngọc Sương giao cho Sở Văn Hóa Nghĩa Bình, rồi Sở chuyển cho tôi, tôi thấy thiếu đôi bạn, đôi câu xưa kia tôi biết. Câu:
Nụ cười ai trắng như hoa lê
Tráng xóa bên kia vùng Phan Thiết
Nụ cuời không mang sắc hồng của môi mà lại mang sắc trắng của tình yêu trong trắng, tình yêu không với được nơi xa kia trắng xóa một vùng. Về đoạn thiếu đi đoạn này, tôi vừa phục hồi lại được:
Hoàng hôn ở bên cồn
Bên cồn ô cô thôn
Cô thôn ô trúc vàng
Trúc vàng điểm riêng thu
Thoảng tiếng gáy của cu
Cườm. Hiu hiu vàng đượm.
Vì sao tôi nhớ được? Không phải nhờ bộ óc của tôi mà chính nhờ bộ óc của Khê đã dựa vào, đã nắm đuợc các qui luật của sự nhớ mà làm ra đoạn, mảng bài thơ dễ nhớ này. Đọc lại xem, những chữ ngỡ mất đi với câu trên, lại hồi sinh ở câu dưới, cô thôn rồi cô thôn, trúc vàng rồi trúc vàng; những ô, những cô, những hôn, những cồn, những thôn ngoặc vào nhau chặt chẽ mà đi qua sóng gió giông bão của thời gian. Bìu díu với nhau thành một khối bền chặt về âm thanh, về ý nghĩa như thế, thời gian nào làm tan rã chúng được. Nhờ thế, sau gần nửa thế kỷ, bộ óc già nua của tôi vẫn nhớ.
Khê duy tân trong Nhạc. Xưa nay ta hay dùng bằng trắc. Nay cùng Xuân Diệu ở Nhị hồ, cùng Xuân Sanh trong bài thơ Tay sương lam mờ đường giăng tơ đăng ở báo Tiếng Địch (1) (Bình Định). Bích Khê dùng vần bằng làm chủ lực. Nhưng Xuân Sanh, Xuân Diệu chỉ làm một bài. Bích Khê không phải chỉ thể nghiệm mà sản xuất đại trà chủ trương tạo hẳn một thể loại.
Khê duy tân trong lối tạo hình. Hình ảnh cũ vốn tĩnh. Khê làm cho nó động, hoạt động. Thơ cũ nói trăng như sữa. Khê làm cho trăng ấy thành sữa, sữa kia nhỏ giọt, nhỏ từ vú hẳn hoi là các núm đồi:
Nâng lên vú núm đồi
Sữa trăng nhi nhỉ giọt
Hình ảnh động theo bề dọc thời gian và bề ngang không gian. Theo bề dọc thời gian, nó tiến triển, nó dây chuyền, con tinh đứng, con tinh nằm, con tinh đưa võng, con tinh ru con hát, rồi thì tiếng hát ru con ấy lại thay nó, tiếp nó mà tác động lên vành trăng, vành trăng ứa nước ra và luồn qua cửa động .v.v.
Bề ngang không gian, mỗi hình ảnh trong đoạn thơ này cùng hoạt động với một quần thể các hình ảnh khác đồng thời với nó, bao vây quanh nó, tác động lên nó.
Lên Kim tinh xác bằng thanh khí
Đốt lưu ly không khí xạ hương
Cây du dương lâu đài song sóng
Trên biển châu - trời lộn kim cương
Để làm các duy tân trên, Khê đã húc đầu vào nhiều cánh cửa, vái đủ tứ phương, áp dụng các thuyết của Valéry, Rimbaud, Mallarmé, Poe, Baudelaire và của vị “thiền sư công giáo” là Henri Brémond nữa. Ông có thuyết thơ thuần tuý sực nức vị thiền là món Khê khá sở trường:
Hỡi lời ca man dại
Điệu nhạc thở hơi rừng
Đêm nay xuân đã lại
Thuần túy và tượng trưng
Khê mê một thứ thơ thuần túy, một thứ vàng ròng, chỉ là thơ thôi, không có tạp chất nào khác. Đồng thời nó lại đại diện, tượng trưng, nói giùm cho những cái không phải nó, oái ăm chưa? Nó được làm ra, chế tạo ra, nhưng lại phải hồn nhiên như của trời cho, như của tự nhiên, thở hơi rừng, man dại. Thế lại càng oái ăm hơn nữa! Tóm lại từ gần nửa thế kỷ trước, Khê đã động đến các vấn đề sự vật (chose) và ký hiệu (signe), vấn đề đa nghĩa, vấn đề lao động và cảm hứng, ý thức hay tiềm thức .v.v... Ban nãy tôi có nói Khê làm thơ và Tử bị làm thơ. Cả hai phương pháp đều có cái mạnh cái yếu của nó. Tháp Eiffel người làm cũng đẹp như mây trời mà trời tự làm ra trên tháp. Đúng ra phải nói Hàn Mạc Tử bị thơ làm (bị bệnh tật, bị tình yêu làm) và anh đã làm thơ. Còn Bích Khê thì đã làm trên chữ, trên câu, trên trang giấy, - trên các yếu tố, năng lực của tâm hồn mình, rồi thì các cái ấy làm anh trở lại. Chữ Pháp có chữ travail de sol sur sol mình làm tác động lên chính bản thân mình, động tay, động chân, động lòng, động não của mình, và một khía cạnh của cái động ấy biểu hiện ra ngoài là động chữ, động câu, động nhạc, động hình trên trang giấy. Khê đánh động bộ gõ của trí tuệ, nó đẻ ra những danh từ khô khốc, ồ, gồ, và sắt cũng rất cần trong việc kiến trúc lâu đài thơ chớ sao?
Đường kinh tuyến hút nhiễm chốt vô hình
Hoặc:
Lời truyền sóng đánh điện khắp muôn trời
Chữ bí mật chứa ngầm bao chất nổ
Nhưng Khê cũng đánh lên, động vào bộ giây, bộ hơi, của cảm xúc, cảm tình, bản năng, kể cả bản năng vật dục nữa... Tôi đã nói, ngoài thì anh vái tứ phương, trong thì anh húc vào mọi cửa mà. Thời gian ở trái đất của anh có còn dài đâu. Anh định trong sáu tháng thôi phải giải quyết cho xong khối lượng hay đúng hơn chất lượng Thơ một đời. Một câu thôi cũng được, nhưng nó là thứ vàng ròng thuần túy, tượng trưng mà anh mơ ước đó. Thơ có thứ đơn chất và loại đa chất có thứ là nguyên chất, có thứ lại là hợp chất, hóa chất kia. Khê thích biến hóa, tổng hợp. Anh nhặt các chất, cái thì bên Tây, cái thì bên Tàu, cái trên tòa sen, cái ở hang âm phủ, cái ở hồn anh, cái ở ngoài đời, đầu cua tai nheo trên trời dưới bể rồi bỏ cái lò bát - quái thơ của anh mà nung lên vạn độ, bỏ vào cái hồ lô thơ anh mà lắc đến triệu lần. Từ đấy sẽ chảy ra chất thơ anh tâm niệm. Việc làm trên có thể nghiêm túc, có thể lố bịch, hóa trò cười.
Nếu ra được một chút gì đấy từ các hồ lô kia, lò bát quái kia, nếu thành công thì người ta gọi đấy là tập đại thành như khi người ta đánh giá Đỗ Phủ, là somme (tổng hòa, tổng hợp). Khi người ta đánh giá Saint John Perse, hoặc lai được giống-mới khi đánh giá con bò sữa Hà Lan (xin nói rằng nhà thơ lớn Guillen của Cuba và cũng của thế giới nói rằng bản sắc dân tộc Cuba là mutala (mulâtre) là lai, hỗn hợp tinh hoa của người da trắng, da đen và da đỏ. (Xuân Diệu đã thuật lại quan niệm này trong tựa thơ Guillen).
Còn khi lai không thành công, lắc không thành công, đun lò bát quái không thành công, làm cái việc đem trăm thứ đầu Ngô mình Sở bò vào một cái bị kia không thành công, đến nỗi Ngô đi đằng Ngô, Sở đi đằng Sở, đầu đi đằng đầu, mình đi đằng mình, thì người ta sẽ bảo đấy không phải là lai mà lai căng, mất gốc, là hổ lốn, là tạp-pí-lù, là chợ giời, là xúp bát nháo, là loạn Âu... có một trăm thứ danh từ dành cho.
Thế mà để làm việc thơ, Khê chả còn bao nhiêu sinh mệnh, bao nhiêu thì giờ. Trong sáu tháng quyết thành thiên tài, quyết có văn chương quán thế không ai biết, gọi Xuân Hương trong mộng mình về thưởng với tôi... thế có liều không? Hàn Mạc Tử cũng góp phần vào ảo tưởng ấy, gọi anh là thi sĩ thần linh. Thần thì ai chẳng thích!
May thay Khê không phải chỉ có thất bại. Cùng với thất bại, Khê có những thành công, thế mới là Khê chứ. Nhưng đấy là nhờ con người Khê, chớ chả nhờ thần linh nào cả, dù đó là thần Khê, hay các vị thần tứ phương Tây phương ta nói trên kia.
Ngay từ thuở xửa xừa xưa khi còn làm các bài thơ cũ, Khê cũng đã có những câu thơ rất hay, rất lạ rồi. Dạng chữ Hán:
Ngỡ như các câu này là các tìm tòi năm 87 mà nhiều thi sĩ trẻ đem khoe một cách huênh hoang! Hoài Thanh tuy rất dè dặt, ngại ngần nữa, khi đánh giá Bích Khê và Hàn Mạc Tử, cũng đã mở đầu bài viết về Khê: “Tôi đã gặp trong Tinh Huyết những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”.
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông
Thế giới thơ rất dân chủ hay nói đúng hơn có lối công bằng kỳ quặc. Người có một câu hay được nhắc đến như người có vạn bài, miễn rằng câu ấy đã đến được xứ thơ, và câu kia quả thực hái từ xứ ấy hái về. Khê không chỉ có một câu, không chỉ có hai câu. Anh có nhiều câu và nhiều bài mà... các thầy có khi không có, Hàn Mạc Tử không có, thơ Việt Nam trước đây không có.
***
Cái đáng cho ta yêu Khê, bắt ta phải tìm đến anh, phải lôi anh ra khỏi lãng quên, đó là chất nhạc của thơ anh. Không, không phải chỉ có cái thanh bằng, chỉ cái giọng trầm, chỉ tiếng nói thầm, chỉ cái ngọn đèn anh hạ thấp xuống cho vừa nội tâm, vừa tầm tâm sự:
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình Iang
Nói thầm, nói lơ mơ mà thốt ra đuợc “Tình tang tôi nghe như tình lang” thì tình tang kiểu ấy còn gấp trăm nói thật. Rồi lại lên cung thương cung yêu, vay mượn du dương, vay mượn tình yêu muôn thuở, thế thì là ý đấy rồi chứ đâu chỉ nhạc. Nhạc vả chăng chả phải chỉ là lúc nói thầm. Có khi reo vang, sảng khoái.
Tiếp ly cạn, cạn ly đầy
Năm con, một vợ ngồi vòng xây
Nhạc chim xanh tước rót về đây
Đỗ vàng cành lá lục
Nâng chén tinh ròng ca một khúc
Tiệc hoa hề, chén ngọc hề
Giang hồ vút cánh sau chung rượu
Năm vẻ rồng bay áng sắc mây
Hoặc trong đoạn “Hoàng hôn ô bên cồn” đã trích trên kia, những ô, những cô, những cồn, những thôn dập dồn rộn rã.
Nhưng nhạc cũng là bước đi dịu dàng, nhịp nhàng của những lứa đôi câu, từng cặp, từng cặp dìu nhau qua trang giấy:
Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
Cây đàn yêu đương run trong mơ
…
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
….
Buồn lưu cây đào xin hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Nhạc cũng là nhóm chữ đi về, lặp lại, như chu kỳ ngày đêm, năm tháng, như nhịp sóng vỗ bờ, bàn tay vỗ về lên thân thể.v.v…
Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơm
Nhẹ nhàng, nhịp nhàng… thở đều trong sương
Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà
Thơ ngà ngà say, thơ ngà ngà say…
Ý nghĩa đòi âm thanh rồi âm thanh lại đẻ ra ý nghĩa. Saint John Perse, Péguy rất thích kiểu này. Nhưng Khê thì khai thác lối nhạc này, chính là dựa vào vốn liếng Đông Phương, hơi thở dân tộc.
Nhờ Khê ta nghe được những âm điệu trước đó chưa có, nhưng cũng nhờ Khê ta thấy được những cảnh chưa từng. Cái nhìn của Khê có nhiều cung bực, khi thì mờ ảo huyền hồ:
Huyền hồ nhìn không ra
Hay là tôi hóa hai
Đã chết đi một nửa
Hay là trời ban mai
Bị mù sương vây bũa
Khi thì rạng rỡ:
Vàng ròng bạc tốt trong tay trắng
Danh nghĩa cao sang tợ mặt trời
Tiếng xe rổn rảng sau bờ trúc
Bóng vợ bóng con lẫn bóng cây
Khi thì bát ngát:
Một bóng giăng rồi một bóng giăng
Hồn vẫn phiêu lưu rất nhẹ nhàng
Đến mút không gian là bát ngát
Một trời thơ mộng đẹp mê man
Kể cả những lúc khá thật thà:
Người em rày mệt quá
Hai tay đây ra rã
Dìu lấy cùng nhau đi!
Thế nhưng anh nhìn thấy những cảnh ấy ở đâu, ở đâu? Ở bên ngoài hay ở nội tâm anh? Anh phản ánh hay là anh sáng tạo? Có thể nói anh nhìn hai nơi một lần:
Lò mò đường lên mây
Chén trăng vừa tầm với
Chàng ơil Vàng ròng đây
Kề môi, say ân ái
Trăng không chỉ là trăng, mà là chén rượu ân ái, là vàng ròng. Anh cũng không chỉ phản ánh trăng mà còn phản ánh lòng anh đang say, muốn cầm, muốn hôn, muốn uống:
Quái thay hòn Non Nước
Nghe giảng đủ mười tông
Muôn năm lòng đá rắn
Nhuần thấm giọt từ bi
Biển xanh thay chất mặn
Rừng thẩm lọc hơi sầu
Anh đang thấy cái bên ngoài của sự vật, nào hòn Non Nước, nào đá rắn, nào rừng thẳm, nào biển xanh, hay đang thấy cả cái chuyển hoá bên trong của nó, đá thì nhuần thắm tình thương mà thôi. Không đá nữa, biển thì rút chất mặn khắc nghiệt của mình, và rừng kia cũng đang thanh lọc. Nhờ nghe kinh chăng? Kinh gì? Thơ anh đấy, lời đấy, ngôn ngữ đấy. Anh đã từng ví anh là trên đài Vọng Hải, chỉ nhượng Phật Như Lai kia mà.
Thương cho anh, bên vực thẳm của nấm mồ đang đợi vẫn không thôi tin ở quyền lực của con người, của thi ca, đã tạo ra những bức tranh hoành tráng, những cơn mơ tổng hợp thì hai bài Ngũ Hành Sơn tiền và hậu ấy. Tuy biết rằng: Khi xong cơn mơ ấy, thì anh lại bị trả về thực tại phũ phàng:
Trở lại giữa bạn bè
Với hai tay bàn tay trắng!
Nhưng mơ được thì cứ mơ.
Tôi thường so sánh hai bài Ngũ Hành Sơn với bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp. Chỉ vì cả hai thi sĩ đều tả cảnh đất nước, cả hai đều dùng thể ngũ ngôn. Cố nhiên tôi rất yêu Nguyễn Nhược Pháp ở Chùa Hương. Nhưng tôi xin phép được đánh giá Bích Khê cao hơn Nguyễn Nhược Pháp. Nguyễn Nhược Pháp tả một cảnh, kể một chuyện có thể có. Bích Khê tạo ra một điều khó thể có. Nguyễn Nhược Pháp dẫn bài thơ dọc theo chiều dài một tuyến. Bích Khê tung hoành, hoành tráng dọc ngang qua nhiều tuyến. Chữ ở Bích Khê cũng phát huy hiệu lực cả ba tầng hơn chữ của Nguyễn Nhược Pháp. Số là Bachelard có nói chữ như ngôi nhà, có tầng trệt ăn ở, ra vào, giao tiếp lại có lẫm cao nơi ta lên với các vấn đề trừu tuợng, có hầm sâu nơi ta xuống các tầng tiềm thức của ta. Theo Bachelard: thơ thường từ tầng trệt đối ngoại đó, lên xuống các tầng cao và tầng hầm đối nội kia. Thơ Khê mạnh hơn Pháp chỗ ấy. Hãy đọc các chữ của anh:
Da trời màu thịt sứa
Da trời se chất sữa
Truyền cảm hứng mênh mông
Hoặc:
Miệng nào giục điệu ca
Tóc nào buông lõa xõa
Mắt nào điện long lanh
Tay nào như sắp bay
Gió lồng hang Âm Phủ
Hoa mộng thẳm màu thâm
Bóng đa phờ tóc rũ...
Ta thấy thoắt cái anh ở tầng trệt, thoắt cái anh lên cao trên trừu tượng, thoắt cái anh chấn động ta nơi thẳm sâu tiềm ẩn của ta. Năm vừa rồi, chúng ta đã tái bản Nguyễn Bính. Anh được yêu mến ào ạt xứng đáng với tài năng anh, cộng với sự bù chì cho những người đã lâu vắng mặt. Nhưng dù sao gặp lại Nguyễn Bính là gặp lại một cái gì quen thuộc. Còn Khê, thì khác. Sợ e bây giờ người ta cũng chưa quen anh dễ dàng đâu. Nếu Nguyễn Bính là một miền đồng bằng thân thuộc, thì Khê là một đỉnh núi lạ. Có những nhà thơ làm thơ. Có những nhà thơ vừa làm thơ vừa đẩy lịch sử thơ ca, duy tân thêm một bước, có những nhà thơ đem đến một mùa luơng thực. Lại có nhà thơ cầm một dúm hạt giống mới trên tay. Khê thuộc vào hạng thứ hai.
***
Loại thứ hai này, cái lõi của nó, trái tim của nó, vẫn là loại thứ nhất. Người ta yêu thơ Khê, vì thơ anh chớ đâu chỉ vì anh là kẻ đi tìm. Huống nữa đi năm đồng bảy đỗi, anh tìm ra ai? Anh tìm ra anh. Có điều không bõ công vòng quanh như thế, đâu có tìm được ra mình. Anh đi khá xa trong kỹ thuật, nghệ thuật, để tìm được cái rất gần là trái tim người. Những lúc ấy anh vứt hết văn chương và kêu lên rất thật:
Anh ơi, từ đâu đến?
Em buồn em đang bệnh
….
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
….
Lên chơi hòn Non Nước
Ôm nhau chết bên đường
v.v...
Ta đang xem một người tung dao, múa kiếm tuyệt vời. Ta đang hoa mắt lên vì đường kiếm, ánh dao kia bỗng ô kìa sao có máu ai tia ra vậy? Máu của người đang trổ tài tung dao múa kiếm đấy.
Và chính anh ta cũng không biết nữa:
Anh ơi tôi mới đến
Là hiện thân của bệnh
Hai ta đều quạnh quẽ
Đứt ruột nhớ thương nhau
Nấn ná sẽ lìa nhau
Chiêm bao còn thấy nhau
Đọc thơ Bích Khê nhiều lúc ta có cảm giác ấy. Ba chữ xoáy vào như ba mũi dao liên tiếp và máu đã tuôn ra.
Khê tìm ra mình, tìm ra Đông phương, tìm ra Dân tộc. Những lúc ấy anh viết như không:
Thưa chị, đêm nay dường nhớ quá
Đưa thư, hồng nhạn biết mang không?
Muốn thấy người xa trong giấc mộng
Khuya lơ còn tựa ở bên song
Nào bên song, nào hồng nhạn, nào giấc mộng, nào đưa thư, ngỡ như chuyện cũ, lời xưa, tự thuở nào. Không đâu, chỉ chút thưa chị, chỉ một chữ khuya lơ, thì ta đã ở giữa thực tại bây giờ rồi. Chỉ cần một chút nhấn nhẹ thế thôi, đã là hiện tại. Chính Apolinaire, chính Lorca đã chinh phục chúng ta nhờ sự kết hợp truyền thống và cách tân, dân tộc và hiện đại này. Cô Hồ Xuân Hương truyền thống đã thành người vợ mới cưới của Bích Khê:
Người vợ trong thơ, gần, cách mộng
Đêm nay không biết có về không?
Nhưng cô Hồ Xuân Hương ấy không phải là nguời vợ theo công thức muôn thuở.
...Nàng Xuân Hương ngực để trần
Ngâm bài “Vấn nguyệt” tiếng trong ngần
Nhìn xuống nhân gian cười như điên
Chính phải đi vòng quanh thế giới để lúc trở về mới tìm ra cô có tiếng cười điên và bộ ngực để trần như vậy…
Từ giã anh em trước gió xuân
Khê báo trước mình sẽ chết vào mùa đông, cái mùa hộc máu của những người lao phổi. Cách mạng 1945 nổ vào mùa thu tháng 8. Khê bảo người nhà đưa anh ra ngõ, để anh nằm trên giường bệnh, sắp kề cái chết vẫn có thể chào được cờ đỏ sao vàng. Bõ công cho anh nhìn được ngọn cờ thiêng liêng ấy của dân tộc. Chúng ta, những người của ngọn cờ đỏ ấy, với tấm lòng trân trọng những giọt máu tài năng của đất nước, trân trọng những lời thơ viết bằng tiếng nói dân tộc còn lại sau bao binh lửa, đạn bom chúng ta làm Tuyển cho anh. Xua con quạ đứng im hơi vỗ cánh bay trên mồ anh đi. Gỡ đi các nhãn hiệu mà anh tự dán, hay người khác dán cho anh đi, kể cả tự điển ta đã gán cho anh và cho Hàn Mạc Tử nhiều từ thô bạo! Ô, cái chế độ Sài Gòn làm rùm beng về anh, về Hàn Mạc Tử, mà họ chỉ khai thác tình yêu, bệnh tật, đời riêng các anh thôi, chớ tuyển tập đầy đủ nhất về tác phẩm Hàn Mạc Tử vẫn là những người của ngọn cờ đỏ sao vàng làm, còn tuyển thơ Bích Khê thì cũng đến chúng ta làm thôi. Năm 1963 chị Ngọc Sương - chị ruột Bích Khê - định in cho em. Nhưng người chị cách mạng ấy làm gì có tiền! Cái một gia đình không làm được thì hôm nay một cơ quan cách mạng làm, một tỉnh quê hương cùng với gia đình chị Ngọc Sương làm! Cũng không phải chỉ có tỉnh Nghĩa Bình, vì tình quê hương mới nghĩ đến Bích Khê. Tuần trước, nhà thơ Hoàng Trung Thông viết cho tôi: “làm tuyển Hàn Mạc Tử rồi, chờ gì mà không làm tuyển Bích Khê đi? Mình rất thích thơ cậu ấy”. Anh Vũ Quần Phương, một cây bút phê bình thơ khá có trọng lượng hiện nay là biên tập viên của nhà xuất bản văn học cũng vừa viết thư cho tôi nhắc chuyện Bích Khê.
Tôi tin không lâu nữa Khê sẽ có mặt trong các tuyển toàn quốc. Mặc dù thế, tôi nghĩ là nếu Bích Khê còn sống hẳn Khê rất sung sướng được in tại quê nhà, nơi Khê đã sống, nơi Khê đang yên nghỉ. Nơi Khê chào ngọn cờ đỏ sao vàng trước lúc qua đời. Còn chúng ta, chúng ta hãnh diện tuyên bố rằng: Từ mảnh đất miền Trung, từ Nghĩa Bình, sau thơ Hàn Mạc Tử, giờ đến lượt thơ Bích Khê đang nhập vào lưới điện quốc gia. Những câu thơ bừng sáng.
Viên Tĩnh Viên, 5-2-1988
Nguồn:
Thơ Bích Khê, Sở VH-TT Nghĩa Bình xb., 1988, tr. 9-29.
THƠ SUỐI LỜI XANH LUYỆN Ý VÀNG
Phạm Đán Bình
Tựa đề hai tập thơ Tinh Huyết và Tinh Hoa đã biểu lộ rõ ràng chủ ý của nhà thơ: vận dụng nghệ thuật từ ngữ mong đạt những gì thuần khiết, hay nói như Hàn Mặc Tử, để tìm về “nguồn trong trẻo”.
Trên nẻo “thơ thuần túy” theo bước Rimbaud, Bích Khê đã khai thác thần tình hai tiềm năng: linh thị và âm hưởng, biết nhìn từ linh giác và nghe tiếng cộng hưởng giữa hai thế giới hữu hình và vô hình. Hai đặc tính ấy đã được Hàn Mặc Tử phát hiện và nhiệt liệt giới thiệu trong bài “Bích Khê, thi sĩ thần linh” đăng báo Trong khuê phòng số 98, ngày 10.06.1939, trước khi in thành tựa tập Tinh Huyết: “Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu”. Nếu phương thức linh thị này thường thấy trong khu vực Tượng Trưng, thì ở địa hạt huyền diệu lại gặp nghệ thuật âm hưởng: “Đây là cả một trời yêu thương da diết, một trời tương tư, một trời âm hưởng, buồn não buồn nê”.
Tiêu biểu cho lối linh thị là bài Đôi mắt. Giữa cảnh thu tàn tạ và trong tăm tối khổ đau của cuộc đời đương lên lại bị tử thần rình rập trong bệnh lao, thi sĩ được “đôi mắt” tuyệt vời của người yêu chiếu dọi. Bài thơ mang tựa đề ấy phần nào tương tự bài Tặng Hélène của Edgar Poe, do Mallarmé dịch. (1)
Phần giống nhau trước hết về mặt bối cảnh: Đôi mắt biểu hiện giữa một đêm trăng, trong vườn hồng. Nơi nhà thơ Mỹ thì:
“Buông xuống lung linh màn trăng lụa…
Ngẩng nhìn đáp tạ ánh yêu đương,
Hoa trút hồn thơm phút ngất ngây” (2)
Còn phía nhà thơ Việt:
Mỗi tơ trăng run rẩy một đường say
Mỗi hơi thở hoa hồng vang nức nở
Thứ đến những hình aanhr do “đôi mắt” gợi nên, hai bên cũng gần như đồng loại. Trong thị kiến Edgar Poe, mắt là:
– “những tinh cầu pha lê”
– “biển trầm lặng đọng kiêu sa”
– “năng lực sâu thẳm khôn dò của tình yêu” (3)
Còn đối với Bích Khê, mắt là:
– “hồ thủy tinh trong suốt”
– “ngọc thạch”
– “giếng phản chiếu ánh tử thần”
– “suối giữ kín tiếng châu ngân”
Hình ảnh cuối cùng này phải chăng do sự kết hợp ý nghĩa hai tên Bích Khê – Song Châu, cũng như tựa đề bài thơ liên hệ đến tên bạn tình?
Nếu đôi mắt của Hélène làm cho tâm hồn Edgar Poe tràn ngập “vẻ đẹp (tức là hy vọng) và ngự vì nơi xa thẳm cõi trời cao – như những vì sao làm thi sĩ quỳ gối chiêm ngưỡng trong lúc canh khuya thao thức lặng buồn”, (4) thì đôi mắt của Song Châu là “cả một trời thơ mộng” đối với Bích Khê, khiến chàng dâng hết tinh anh và thể phách như chất liệu “Để xây đắp bàn thờ cao chất ngất/ Lút mây xanh và lút cả thiên thai”.
Ngoài thị giác linh diệu, Bích Khê còn kêu gọi đến thính giác tinh vi để truyền cảm trước vẻ đẹp và tình yêu thuần túy.
Phương thức âm hưởng là đường lối thứ hai thể hiện ước mơ và cảm xúc của nhà thơ. Theo kỹ thuật này, một số thi bản được tiết tấu như nhạc phẩm. Có những bài chỉ toàn thanh bằng hay toàn vần bằng. Hình thức, số chữ, cách gieo vần hay láy tiếng, dìu dặt như tình ca, hòa tấu màu sắc và hương vị, giao hưởng ngữ nghĩa với âm thanh, hình ảnh và cung nhịp. Thơ Bích Khê nhằm kiến tạo một nghệ thuật tổng hợp kiến trúc – vũ – họa – nhạc:
“Ô trời hôm nay sao mà xanh
Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành
Nhung mây tê ngời sao kim cương
Dạ lan tê ngời say men hương”
Nguồn:
Trích dịch luận án “Thi nhân Việt Nam và thơ ca Pháp 1932-1945” tại Paris-Sorbone, 1988.
In phụ lục trong tập Tinh Hoa, thơ Bích Khê, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 1997, tr. 131-135.
Chú thích
(1) Mallarmé, Oeuvres complètes. Bibl. de la Pleiade, NRF, Paris, 1945, p. 207: “À Hélène”
(2) “tombait de soie et argenté un voile de lumière (…) sur les figures levées de ces roses qui rendaient, en retour de la lumière d’ amour, leurs odorantes aames en une mort extatique”
(3) …“cristallines, célestes sphères”; …“mer silencieusement sereine d’ orgueil” ; …“profonde, insondable puissance pour l’ amour”.
(4) “de beauté (qui est espoir), et sont loin, au haut des cieux – les étoiles devant qui (il) s’ agenouille dans les tristes, taciturnes veilles de la nuit”
NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HỌC CÒN LẠI
Nguyễn Giao Thủy
Trong văn học nghệ thuật, có một quy luật không ai có thể phủ nhận được, đó là: Thời gian là vị quan tòa khắc nghiệt nhưng công bằng nhất. Dù vì bất cứ một lý do gì - kể cả những thiết chế xã hội - một tài năng thật sự không bao giờ bị hoàn toàn quên lãng. Lớp bụi thời gian khi đã được giũ sạch sẽ lại làm lộ rõ lóng lánh của tài năng. Bích Khê là một truờng hợp như vậy.
Tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24/3/1915 tại làng Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi và qua đời vào ngày 17/1/1946, Bích Khê chỉ có mặt trên cõi đời này 31 năm. Nhưng chàng trai bạc mệnh ấy quả thật đã để lại một dấu ấn khó quên trước chuyến viễn du cuối cùng của chàng.
Ngay từ 1941, với cái nhìn tinh tế, Hoài Thanh đã viết trong Thi nhân Việt Nam: “Tôi đã gặp trong Tinh Huyết những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam: Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng / Vàng rơi! Vàng rơil Thu mênh mông.” Và Hoài Thanh kết luận phần viết rất ngắn về Bích Khê bằng một câu chính xác nhất (nhưng cũng trân trọng vào bậc nhất): “…Thơ Bích Khê, đọc đôi ba lần cũng như chưa đọc”.
Vậy đó, mà có đến 42 năm Bích Khê bị bỏ quên.... Nhưng cho tới nay, vẫn chưa thấy một nhà viết Văn học sử nào đặt Bích Khê trở lại vị trí cần phải có của nhà thơ.
Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, Bích Khê có cả một quãng thời gian dài sống tiêu dao, hòa nhập hoàn toàn với thiên nhiền, ngoại giới, để từ đó soi tìm những cảnh sắc kỳ lạ của thế giới nội tâm. Bắt đầu từ năm 1937, Bích Khê nhuốm bệnh lao phổi. Sau thời kỳ chữa bệnh ở Huế, Bích Khê trở về nhà mẹ ở Thu Xà (Quảng Ngãi). Và từ đây, có đến mấy lần chàng sống trên núi (Tà Cú, Thiên Ân), lại có lúc với một chiếc thuyền con, Bích Khê bồng bềnh trên sóng nước, “nay ghé Phú Thọ, mai Cổ Lũy, Sa Kỳ...”, như lời chị ruột của nhà thơ, bà Lê Thị Ngọc Sương thuật lại. Và ba năm 1937, 1938, 1939 là ba năm sáng tạo phong phú của Bích Khê. Vượt lên nỗi đau của thân xác, bệnh tật và nỗi đau của tâm hồn (cả ba mối tình với ba người đẹp Song Châu, Bích Thủy, Ngọc Kiều đều đổ vỡ), Bích Khê đã để lại cho đời những tập thơ giá trị như Tình Huyết, Tinh Hoa. Sinh thời, Bích Khê chỉ mới in được Tinh Huyết (1939) với lời tựa của Hàn Mạc Tử. Nhưng chỉ riêng với Tinh Huyết thôi, giá trị cách tân trong nghệ thuật của Bích Khê đã đáng kể lắm rồi.
Sau một thời gian phá thể (so với thơ Đường), thơ Mới dần dần cũng đi vào ổn định về mặt thi pháp. Chẳng hạn, ở thơ 8 chữ điệu thơ thường ngắt nhịp ở chữ thứ 3, thứ 5, thứ 6 trong câu: Tôi không muốn / đất trời xoay chuyển nữa. Với tháng ngày / buồn bực / đuổi nhau đi - (Những sợi tơ lòng - Chế Lan Viên), hay: Bữa nay lạnh / mặt trời đi ngủ sớm. Anh nhớ em /em hỡi anh nhớem (Xuân Diệu), thì Bích Khê đưa ra một cách ngắt nhịp mới, ngắt ở chữ thứ 4 trong câu. Có khi toàn bài, Bích Khê đều dùng cách ngắt nhịp này. Ví dụ bài Nhạc là một trường hợp tiêu biểu.
Ngoài ra, sự cách tân nghệ thuật còn được Bích Khê khai thác ở lối bình thanh. Toàn bài thơ, câu nào, chữ nào cũng là tiếng bình (không dấu hoặc dấu huyền). Bích Khê đã tạo ra hẳn một lối thơ mới, hay nói đúng hơn, một nhạc điệu mới cho thơ 8 chữ. Tỳ bà là một tuyệt tác trong lối thơ này, mà sau Bích Khê không thấy ai theo được chàng, chứ đừng nói đến chuyện vượt chàng, về điểm này Chế Lan Viên có một nhận xét rất hay: “Nếu Nguyễn Bính là một miền đồng bằng thân thuộc, thì Bích Khê là một đỉnh núi lạ”. Đó là về mặt nhạc điệu trong thơ. Còn về mặt tư tưởng thơ Bích Khê cũng đã có những cái mới, ngay trong thế hệ của chàng. Nhận xét về tập thơ thứ hai của Khê, Tinh Hoa, Quách Tấn đã viết: “Tập Tinh Hoa rất có giá trị, giá trị cao hơn Tinh Huyết một bậc. Nếu sánh cùng sông, thì Tinh Huyết là dòng sông mùa lụt, láng lai cuồn cuộn, song không thể giặt dải mũ của đám sĩ phu. Còn Tinh Hoa là dòng sông xuân nước vừa thiếp bờ, dễ khiến khách mỹ nhân nghiên mình cười nụ...”.
Riêng tôi, say mê Bích Khê từ thuở còn là cậu học trò nhỏ, nay có dịp đọc lại gần như toàn bộ thơ của thi nhân bạc mệnh này, tôi hiểu đuợc điều này: Khi một người bị bạo bệnh đã vuợt lên cơn đau thân xác, khi một người đau khổ vì tình đã vượt lên nỗi thống khổ của lòng mình để nói về những nỗi đau kia, thì đó không còn là nỗi đau nữa. Đó là khát vọng sống. Đó là sự thăng hoa của tâm hồn con người. Và đó là sự phân biệt có tính tuyệt đối để thấy rõ cái khác nhau giữa con người với một sinh vật khác. Và trong chiều hướng ấy, đúng như Hégel đã nói: “Thơ là tiếng nói mới nhất của nhân loại”.
Khi viết bài này, tôi đã tìm đến chị Nguyễn Lê Thu An, thư ký toà soạn của báo Điểm phim, con của bà Lê Thị Ngọc Sương và ông Lạc Nhân Nguyễn Qúi Hương (vốn là thư ký toà soạn báo Tiếng Dân của nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng), người có cái may mắn là cháu gọi Bích Khê bằng cậu ruột, để xin một tấm ảnh (chưa công bố) của nhà thơ rất tiếc là không có. Nhờ vậy, tôi biết thêm một chi tiết: Bích Khê rất thương và cưng chiều cháu, nhưng không cho cháu gần gũi, vì sợ sẽ lây bệnh cho cháu. Với một con người như thế, và nhất là một thi tài như thế đâu có đáng bị đời lãng quên.
Nguồn:
báo Phụ Nữ Việt Nam (03/4/1993)
BÍCH KHÊ VÀ CÁCH TÂN CÂU THƠ
Nguyễn Hữu Vĩnh
Khi bàn đến thơ Bích Khê, Chế Lan Viên viết: “Nếu Nguyễn Bính là một đồng bằng thân thuộc, thì Bích Khê là một đỉnh núi lạ”. Điểm khác biệt đặc trưng ấy là do phong cách của từng người. Phong cách được xem như là thước đo tài năng người nghệ sĩ.
Đi vào nghiên cứu phong cách thơ Bích Khê, chúng tôi đã lưu tâm đến các vấn đề như: quá trình cách tân ngôn ngữ thơ, nhạc tính trong thơ, họa tính trong thơ, ẩn dụ và tượng trưng trong thơ… Trong bài viết này, chúng tôi chỉ trình bày sự cách tân câu thơ Bích Khê – một yếu tố trong quá trình cách tân ngôn ngữ của thi nhân – để từ đó có cơ sở nhận diện ra Bích Khê giữa bầu trời thi ca Việt Nam.
Bích Khê viết:
Rồng vẽ lối xưa toàn những sáo
Cua bò thơ mới chả nên câu
(Bán thơ)
Bích Khê phê phán lối thơ cũ sáo rỗng, lối thơ mới ngoằn ngoèo. Phải chăng câu thơ mới vẫn còn gượng gạo, không tạo ra một sức hấp dẫn đối với Bích Khê. Và thi nhân đã chọn cho mình lối đi mới, lối đi đó làm thành phong cách câu thơ Bích Khê.
Chúng tôi hoàn toàn không cho rằng số chữ của câu thơ (cơ sở qui định thể loại) là yếu tố tiên quyết về phong cách câu thơ Bích Khê. Thử đi vào thống kê và so sánh các thể thơ của Bích Khê với các nhà thơ cùng thời, song chúng tôi chẳng thu lại được một kết quả khả dĩ nào. Thực ra, Bích Khê không bộc lộ phong cách của mình về thể loại. Với Bích Khê, nét đặc trưng nhất của câu thơ là ở chỗ sự thống nhất kỳ lạ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong quá trình hình thành câu thơ.
Sau đây là những loại hình câu thơ đặc trưng của Bích Khê:
-- Câu thơ tương hợp: Là loại hình câu thơ hàm chứa nhiều phạm trù khác nhau của cuộc sống. Loại hình câu thơ này là kết quả của quá trình ảnh hưởng thuyết tương hợp (correspondance) của chủ nghĩa tượng trưng Pháp. Trước hết là câu thơ thể hiện sự tương hợp giữa các giác quan.
Cây du dương lâu đài song sóng
Bích Khê vừa thấy lại vừa nghe, thấy cây giống lâu đài song sóng, nghe cây phát nhạc du dương. Vì vậy mà cái được biểu đạt của khái niệm “cây” có khả năng đánh thức cùng một lúc thị giác và thính giác người đọc.
Trong bài “Tranh lõa thể”, Bích Khê viết:
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương.
Sự tương hợp giữa các giác quan cũng chính là sự tương hợp giữa các đối tượng của chúng. Do đó, mà âm thanh, màu sắc, hương thơm … có thể hòa hợp trong một thực thể. Đối tượng phản ảnh của thơ ca được hiện lên nhiều chiều, nhiều sắc thái, câu thơ lúc đó trở nên sống động và quá trình tri giác nghệ thuật cũng trở nên phong phú và hấp dẫn. Thuyết tương hợp mở ra một hướng nhìn nhận đa diện về sự vật, thi nhân dễ dàng nắm bắt bản chất của đối tượng thẫm mỹ. Bởi lẽ, tổng số những trực quan sinh động do ngũ quan đưa lại về một sự vật hiện tượng sẽ cho ra một phán đoán chính xác hơn của một giác quan đem lại. Thuyết tương hợp không chỉ là một cố gắng tâm linh mà còn là một thực tiễn lý luận khoa học giúp con người khắc phục được sự đơn điệu và phiếm diện trong việc khám phá mọi lĩnh vực đời sống.
Ở một khía cạnh khác, Bích Khê sử dụng thuyết tương hợp để đi đến việc thống nhất của các hoạt động nghệ thuật lại với nhau. Bích Khê chủ động mở rộng biên độ của thơ, đưa cả âm nhạc, hội họa, kiến trúc, vũ điệu… vào trong thơ, khiến thơ ông không chỉ là thơ mà còn là nhạc điệu, bức tranh, lâu đài…; ngôn ngữ không chỉ là ngôn ngữ, mà còn là âm thanh, màu sắc đường nét, hình khối v.v…
Âm nhạc: Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mát
Hội họa: Hỡi hội họa đến muôn đời nức nở
Kiến trúc: Đời kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới
Của lời thơ lòng đẹp. Hạt châu trong …
Ngôn ngữ lúc này thôi là một phương tiện mà trở thành một cứu cánh của thơ, làm cơ sở cho việc xây dựng tính liên ngành của các hoạt động nghệ thuật. Phá vỡ những khu tự trị riêng của các ngành nghệ thuật vốn dĩ ăn sâu vào nhận thức của nhiều người.
-- Câu thơ tương đồng: là loại hình câu thơ mà trong đó có nhiều yếu tố ngôn ngữ tương đồng với nhau. Câu thơ tương đồng thường có nhiều tiết tấu mới lạ cho phép tầng tầng, lớp lớp cảm xúc chồng chất lên nhau, giá trị biểu cảm của câu thơ sẽ mạnh mẽ hơn và dễ gây ấn tượng hơn. Có rất nhiều kiểu tương đồng, bởi lẽ trong ngôn ngữ có bao nhiêu yếu tố thì có bấy nhiêu cách tương đồng. Câu thơ truyền thống Việt Nam thường thể hiện sự tương đồng về phụ âm đầu, vần, từ… tạo thành những câu thơ điệp phụ âm đầu, điệp vần, điệp từ…
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang
(Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử)
Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Đến Bích Khê, thi sĩ đã đi vào khai thác một ngạch riêng của mình. Đó là sự tương đồng về âm thanh và tạo hẳn ra một lối thơ bình thanh đặc sắc.
Ô hay! buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi! thu mênh mông.
(Tỳ Bà)
Thực sự lối thơ bình thanh cũng đã xuất hiện ở một vài thi sĩ cùng thời như: Xuân Diệu, Nguyễn Xuân Sanh… Tuy nhiên, đó chỉ là cảm hứng ngẫu nhiên chứ chưa phải là ý thức cách tân của các thi sĩ. Bích Khê là người chủ động đến với thơ bình thanh và đạt được những thành công rực rỡ với những bài: Hoàng hoa, Tỳ bà, Nghê thường v.v …
Bản chất của lối thơ này đã phá vỡ âm luật thơ truyền thống, câu thơ bình thanh tạo cho mình một thứ nhạc điệu mới có khả năng làm mê hoặc lòng người. Điều này cũng không nằm ngoài quan niệm của thi phái tượng trưng, xem “âm nhạc trước mọi sự” (Verlaine); mỗi chữ là một nốt nhạc, bài thơ là một giai điệu chủ quan có thiên chức phát khởi những ý niệm nguyên sơ, khải thị chân lý. “Thơ là sự giao động giữa âm thanh và ý nghĩa” (Valéry).
Đứng trên một khía cạnh khác, câu thơ tương đồng Bích Khê còn thể hiện ở chỗ tương đồng theo âm vận cặp đôi. Loại hình câu thơ này Paul Eluya (Nhà thơ siêu thực Pháp) rất chú ý.
Trước hết, câu thơ tương đồng âm vận cặp đôi theo chiều dọc:
Un berceau dans les feuilles mortes du jour.
Un bouquet de pluie nue.
(Một cái nôi giữa những chiếc lá rụng
Một bó nước mưa trần trụi)
Bích Khê sử dụng thao tác này rất linh hoạt, thậm chí ngay cả trong thể thơ truyền thống mà vẫn không phá vỡ đặc trưng thể loại.
Bụi hồng cách mấy hoa đào
Bụi hồng cách mấy hoa đào năm xưa
Hay: Sông Ngân cách mấy sông Tương
Sông Ngân cách với sông Tương mấy trời.
Thứ hai là câu thơ tương đồng âm vận cặp đôi theo chiều ngang. Paul Eluya viết:
Source des sources
Miroir des miroirs
(Ngọn nguồn của những ngọn nguồn
Tấm gương của những tấm gương)
Trong thơ Bích Khê có vô số những câu thơ như vậy.
Ôi nàng tiên nương!hớp nhạc đầy hương
Khung trắng trời mây trắng lạ thường
Nhạc gầy hương, hương gầy nhạc lan man…
Tình tang tôi nghe như tình lang…
Để tránh sự nhầm lẫn trong cách gọi tên, cần phải phân biệt câu thơ tương đồng âm vận với câu thơ điệp từ, điệp ngữ… Thực ra đây là hai cấp độ tương đồng của những chữ, những từ trong một câu thơ. Một bên là tương đồng bộ phận, còn một bên là tương đồng toàn bộ. Câu thơ điệp từ, điệp ngữ là đỉnh cao của sự tương đồng âm vận.
-- Câu thơ bắc cầu: là loại hình câu thơ trong đó tín hiệu thứ nhất xuất hiện thì cần
thiết phải xuất hiện tín hiệu thứ hai, và sau khi tín hiệu thứ hai xuất hiện thì tự nhiên nó réo gọi tín hiệu thứ ba xuất hiện và cứ thế xuất hiện tín hiệu thứ tư, thứ năm… Và giữa các tín hiệu đó luôn luôn chịu sự chi phối bởi một mối quan hệ nhất định.
Lờ mờ đường lên mây
Chén trăng vừa tầm với
Chàng ơi! Vàng ròng đây
Kề môi say ân ái
(Ngũ Hành Sơn)
Tín hiệu “chén trăng” xuất hiện, thoạt nhiên nó réo gọi các động tác liên quan đến cái chén cụ thể. Mối quan hệ vốn có giữa cái chén và các hoạt động ăn uống trở thành mối quan hệ tạm thời cho “chén trăng” và “kề môi ân ái”. Nhờ mối quan hệ đó mà một khi “chén trăng” xuất hiện thì buộc động tác “kề môi say ân ái” phải xuất hiện tiếp theo sau. Đồng thời cũng nhờ thế mà tư duy nhà thơ có khả năng nhảy vọt từ địa hạt này sang địa hạt khác. Trường liên tưởng dựa trên mối quan hệ tạm thời đó là chiếc cầu nối giữa các câu thơ, các phạm trù khác nhau.
Câu thơ bắc cầu thể hiện tính phong phú, đa dạng của trường liên tưởng và tư duy thơ Bích Khê. Thi nhân đã làm thành phong cách riêng với hàng loạt câu thơ bắt cầu, như:
- Nâng lên núm vú đồi
Sữa trăng nhi nhỉ giọt.
- Không gian tơ, không gian tơ gợn sóng
Ngọc Kiều ơi, hồn đến bến khơi xa…
Câu thơ bắc cầu, trước hết tạo ra những ý thơ mới lạ, gây được khoái cảm thẫm mĩ trong lòng người đọc. Hơn thế nữa, nhờ câu thơ bắc cầu, Bích Khê đã xây dựng thành công những biểu tượng sinh động, hấp dẫn. Bức tranh về cuộc sống được thi nhân thể hiện vừa cụ thể, vừa khái quát. Đây cũng là thủ pháp nghệ thuật mà những người theo chủ nghĩa tượng trưng khai thác triệt để.
-- Câu thơ xuống dòng: là loại hình câu thơ, trong đó các qui tắc ngữ pháp bị phá vỡ theo ý chủ quan của tác giả. Câu thơ xuống dòng có chức năng làm cắt đứt mạch thơ và chuyển câu thơ vào trường tư duy khác.
Trong thơ Bích Khê, câu thơ xuống dòng xuất hiện với tần số lớn, làm thành nét độc đáo trong phong cách câu thơ của tác giả:
Buồn và xanh trời (tôi trôi tới bờ)
Êm biếc - khóc với thu; lời úa ngô
Vàng - khi cách biệt
- Thoảng tiếng gáy của cu
Cườm. Hiu hiu vàng đượm
- Như mặt trời lọc qua khóm liễu, một
Hoàng hôn - Đàn môi, chim báu tớt…
Những chữ qua hàng như những cánh cửa khép mở hai luồng tư duy, hai trường liên tưởng – Nếu “Thoảng tiếng gáy của cu” chưa có gì lạ, thì thao tác chiết tự, qua hàng tạo thành “Cườm” đứng ở đầu câu làm cho câu thơ có cái gì đó long lanh và tĩnh tại v.v…
Bằng những thủ pháp nghệ thuật riêng, Bích Khê đã xây dựng hàng loạt kiểu câu thơ đặc sắc, như: Câu thơ tương hợp, câu thơ tương đồng, câu thơ bắc cầu, câu thơ xuống dòng v.v… Suy cho cùng, mục đích hướng đến của thi nhân là mong muốn thể hiện đầy đủ và toàn vẹn hơn các lĩnh vực của đời sống. Đó cũng là khát vọng muôn đời của người nghệ sĩ muốn vươn đến bến bờ Chân – Thiện – Mỹ.
“ Thơ Bích Khê đọc đôi ba lần cũng như chưa đọc”. Bởi lẽ, đó là một thế giới huyền diệu vừa xa lạ vừa kỳ bí. Khảo sát câu thơ Bích Khê, giúp chúng ta tìm ra chiếc gậy thần chỉ đá hóa vàng, mở được cánh cửa bí mật của “Viện cổ Đông phương”, và có thể cùng với thi nhân bay vào thế giới huyền diệu đó.
Huế, 6 – 1994
Nguồn:
(đã đăng báo, tạp chí nào, số? ngày tháng năm?)
BÍCH KHÊ, TRUYỀN THỐNG VÀ CÁCH TÂN
Gs. Lê Đình Kỵ
Sáng tác đầu đời của Bích Khê là thơ luật Đường, thơ ca trù. Nhưng Bích Khê thực sự gây ấn tượng là với loại thơ được coi thuộc chủ nghĩa tượng trưng. Thành tựu nổi trội nhất của nhà thơ là gắn liền với lối thơ tượng trưng, như chính nhà thơ đã từng tuyên ngôn:
Hỡi lời ca man dại
Điệu nhạc thở hơi rừng
Đêm nay xuân đã lại
Thuần túy và tượng trưng
Man dại, nhạc rừng… thuần túy và tượng trưng – Bích Khê tâm niệm một thứ thơ tuyệt đối, thuần túy. Tham vọng này đã có trước Bích Khê gần nửa thế kỷ, từ cuối thế kỷ 19 ở châu Âu.
Nhưng thơ Bích Khê ra đời trong cái nôi của thơ mới lãng mạn. Chủ nghĩa lãng mạn vốn đã không thuần túy (như chủ nghĩa cổ điển chẳng hạn), đến Việt Nam lại sinh sau nở muộn, chịu ảnh hưởng của đủ thứ chủ nghĩa khác qua Baudelaire và văn chương Pháp nói chung. Tuy được coi là chủ soái của phái Thi Sơn (Parnasse), trên thực tế ở Baudelaire có đủ các mầm mống, yếu tố của thơ hiện đại vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 (chủ nghĩa ấn tượng, tượng trưng, siêu thực) – những mầm mống mà Xuân Diệu đã ghi nhận trong bài thơ Huyền diệu có lấy một câu thơ của Baudelaire làm đề từ: Mùi hương, màu sắc, âm thanh hô ứng với nhau (Les parfums, les couleurs, et les sons se répondent). Nhưng Xuân Diệu cũng như Bích Khê trước hết là nhà thơ của Việt Nam, của Đông phương. Dù mới mẻ, “man dại” thì cũng không bật khỏi gốc rễ dân tộc. Có lẽ trong thơ ca, hồn dân tộc dễ nhận ra hơn cả là ở nhạc điệu của thơ. Điều may mắn đối với Bích Khê cũng là dù có hướng tới hiện đại đến đâu cũng không coi thường tính nhạc của thơ.
Với chủ nghĩa tượng trưng, được quan tâm trên hết mọi sự là nhạc điệu trong thơ (De la musique avant toute chose – Verlaine). Không phải ngẫu nhiên mà Bích Khê có nhiều bài thơ, đoạn thơ dành cho nhạc, cho vũ: Nghe chuông, Mộng cầm ca, Tỳ bà, Nghê thường, Đây bản đàn thơ, Tiếng ca, Nam hành, Đàn sáo dưới trăng, Tiếng đàn mưa… Điệu thơ nghe rất lạ, rất mới, mà cũng thật gần gũi, với những mâm vàng đũa ngọc chung rượu, muôn trùng, nước ái non tình…
Mâm vàng đây, đũa ngọc đây
Tiệc hoa sáng, rượu chung đầy
Trông ra mây nước muôn trùng biếc
Nước ái non tình bóng nguyệt rây
Tiếp ly cạn, cạn ly đầy
Năm con một vợ ngồi vòng xây
Nhạc chim thanh tước rót về đây…
(Nam hành)
Có lẽ do yêu cầu nhạc tình mà Bích Khê không chỉ sáng tạo ra hai câu như trong Nhị hồ của Xuân Diệu, mà cả một lối thơ toàn thanh bằng như Hoàng hôn, Tỳ bà; Bích Khê cũng tiếp thu rất sáng tạo lối thơ ngắt nhịp ở từ thứ tư, chia câu thơ bát cú ra làm hai nửa tứ ngôn, tạo thành cái giai điệu nửa riêng tây, nửa thuận hòa mà Hàn Mặc Tử đặc biệt tán thưởng. Dẫn mấy câu trong bài Nhạc:
Ồ ! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc
Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơm
Nhịp nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương…
Từ ở phương mô nhạn mang thơ về
Đây dây trinh bạch khóe mướt trong mơ
Đây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ
Hàn Mặc Tử có lời bình: “Phải chăng ta nhận thấy sóng âm thanh xao gợn, nổi trôi lên xuống như muôn hoa gió lùa”.
Bích Khê quan niệm thơ phải là:
Một hỗn độn xô bồ say dậy
… Lời truyền sóng đánh điên tới muôn nơi
Chữ bí mật chứa ngầm bao chất nổ.
Hỗn độn, xô bồ, nhưng phải say dậy, vực dậy sự sống, đánh thức tâm linh. Bí mật để gây nên sức nổ dây chuyền của cái lạ lẫm, cái tiềm thức, cái vô thức qua những ấn tượng, những liên tưởng đột xuất, bất ngờ, xóa tan mọi khoảng cách, đem nhích lại gần nhau, chồng kề bên nhau giữa những cái vốn xa lạ, vô can… Chữ ở đây vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh. Có khi chữ đến trước nghĩa, chữ kéo theo nghĩa, âm thanh gọi âm thanh.
Những nhà thơ tiên phong “khinh rẻ khuôn mòn bỏ lối quen”, dù là thói quen đã đưa thơ tiền bối cổ kim Đông Tây đến những đỉnh cao rực rỡ. Thơ hiện đại có thiên hướng cái trừu tượng thành cái cụ thể hay ngược lại, sống động, có hồn, biến đối tượng thành chủ thể, từ là định ngữ, bổ ngữ vụt trở thành chủ ngữ, cựa quậy, phá phách, khi cần thì vặn vẹo, tháo tung câu thơ, xô đẩy tiết tấu, tạo nên cái cảm giác tán loạn “một hỗn độn xô bồ, say dậy” trong cái thế giới hiện đại đầy trăn trở, bất an. Chỉ có Bích Khê mới có thể xô đẩy, đảo lộn từ ngữ, cú pháp, tiết tấu:
Buồn và xanh trời (Tôi trôi với bờ
biếc - khóc với thu; lời úa ngô
vàng… Khi cách biệt giữa hồn xây mộ
tình hôm qua - dài hôm nay thương nhớ
im lặng nhìn bông ý, lặng lờ lên
những dáng hình thanh khí…) Giữa mông mênh…
(Duy Tân)
Bích Khê xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như nhà cách tân đi xa hơn cả so với đương thời. Thơ Bích Khê khi mới ra đời (tập Tinh huyết in năm 1939) được Hàn Mặc Tử đánh giá cao nhưng người thưởng thức thơ Bích Khê không nhiều. Đến tinh tế như Hoài Thanh mà cũng đành viết: “Tôi đã đọc không biết mấy chục lần bài Duy Tân, tôi thấy trong đó có nhiều câu thật đẹp. Nhưng tôi không dám chắc bài thơ đã nói hết cùng tôi những nỗi niềm riêng của nó… Hình như vẫn còn gì nữa… Còn các bài khác hoặc chưa xem, hoặc mới đọc có đôi ba lần. Mà thơ Bích Khê, đọc đôi ba lần thì cũng như chưa đọc”.
Năm 1988, Chế Lan Viên tuyển chọn và giới thiệu, đã phân tích cặn kẽ và biểu dương tác giả Tinh huyết, Tinh hoa, vẫn thấy cần phải dè dặt: “May thay Khê không chỉ có thất bại, cùng với thất bại Khê có thành công”. Kể ra người sáng tác nào mà bên cạnh thành công lại không có ít nhiều “thất bại”. Mà thành công ở Bích Khê được tác giả Thi nhân Việt Nam trích bình tuy ít ỏi nhưng cũng đủ gây ấn tượng cho một ý niệm về tài năng lớn của nhà thơ “bí hiểm” này:
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông
và mấy câu trích trong bài Tranh lõa thể:
Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ
Ồ tiên nương! Nàng lại ngự nơi này?
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
Hoài Thanh nghĩ rằng đó là “những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam”. Hẳn rằng người đọc cũng dễ đồng tình với sự thẩm định ấy, cũng như với lời bình của Hàn Mặc Tử “thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào sự thực thì sự thực sẽ thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu”.
Bích Khê không chỉ có bấy nhiêu, mà còn nhiều bài, nhiều đoạn, nhiều câu khác, hình thành thế giới thơ, bộ mặt thơ riêng của mình mà lịch sử thơ Việt Nam không thể không tính đến. Có thêm những lời bình của Hoài Thanh và Hàn Mặc Tử thì người đọc dễ vượt qua cái cảm giác “khó hiểu” ban đầu, để nhập vào thế giới thơ này, mà có được sự đền đáp xứng đáng.
Nguồn:
- Lê Đình Kỵ: Trên đường văn học, Nxb. Văn học, H., 1995
Muốn hình dung chiều cao của một vật, chúng ta phải để vật đó bên cạnh một vật khác. Muốn biết chiều cao của thơ Bích Khê, chúng ta phải đặt những bài thơ ấy trong tiến trình của Thơ Mới - thời đại thơ Bích Khê và có lẽ cũng phải đặt chúng cả bên thơ đương đại Việt Nam, đành rằng, mọi so sánh đều khập khễnh.
Thơ Mới chưa mới được như thơ Bích Khê về cả hai phương diện nội dung cảm hứng và cấu trúc ngôn ngữ thơ. Bích Khê đã thực thi một đoạn tuyệt cao hơn thời đại mình với thơ cũ và một thách đố đáng sợ hơn với thơ đương đại.
Trong “Chương Dân thi thoại”, học giả Phan Khôi đã bàn đến thơ ca với trí tuệ uyên bác. Chúng ta đã tìm thấy những ý tưởng ấy ở Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm... Nhưng trong những ý tưởng ấy, chúng ta chưa thấy có bóng dáng thơ Bích Khê. Trong “Thi nhân Việt Nam”, ông Hoài Thanh - đại diện có thẩm quyền cho những trái tim biết cảm thụ thơ ca của thời đại (1930-1945), chúng ta có một chút thất vọng về những lời bàn về thơ Bích Khê của tác giả đó. Hầu như, ông Hoài Thanh phải nhờ đến Hàn Mạc Tử khá nhiều khi nói về Bích Khê. Có lẽ với thời ấy, thơ Bích Khê phù hợp với nội dung “hình nhi thượng” trong Tuyên ngôn thơ của Xuân Thu Nhã tập hơn cả.
Thơ Bích Khê là hội họa trừu tượng.
Họa không phải là bản thể của ngôn ngữ thơ, cho nên, thơ thường phải mượn đến họa. “Thi trung hữu họa” là một lời dặn dò của kinh nghiệm làm thơ. Muốn vào trong thơ như là cái bản thể của thơ thì họa phải tự hủy cái chất tạo hình vật lý cụ thể của mình, nghĩa là phải hủy cái hình thái tự nhiên vốn dĩ của mình, để hóa thân thành họa siêu hình - cái họa lung linh trong cảm xúc của một người, khúc xạ trong một chất chủ quan cá thể.
Thơ Mới chưa ai làm điều ấy, chỉ trừ một Bích Khê.
Tiên cảnh của Thế Lữ dẫu có huyền ảo thì cũng chỉ là bức hội họa tả thực...
Tiên nga tóc xoã bên nguồn
Hàng tùng rủ rỉ bên cồn đìu hiu...
Hình trong thơ Xuân Diệu, Huy Cận đều là hình thật, chưa là siêu hình. Thậm chí cái không gian thẩm mỹ trong thơ Huy Cận cũng là một không gian ba chiều của vật lý cổ điển:
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu...
Hình trong thơ Bích Khê không còn là hình vật lý nữa, nó đã là hình của hình dung:
Nàng ở mô! Xiêm áo bỏ đâu đây
Đến triền lãm cả tấm thân kiều diễm
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường...
... Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làn môi
Hình trong thơ Bích Khê đúng như nhà thơ nói: “Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới”. Thơ Bích Khê mang chất hội họa mới, hội họa hài hòa kiểu hiện đại; nghĩa là có bất hòa trên bề mặt, để đi tới thống nhất trong bề sâu:
Chữ biến hình ảnh mới, lúc trong ngâm
Chữ điêu khắc, tỉa nghệ thuật sầu câm
Đầy thẩm mỹ của một pho thần tượng
Lúc trong ngâm, giữa kho vàng mộng tưởng
Múa song song khiêu vũ dưới đêm hồng...
Đúng là, nhà thơ đã là Đấng sáng tạo của hội họa trong thơ:
Hỡi hội họa, đến muôn đời nức nở
Ta nhịp nhàng ý nhị nhịp theo ta
Họa trong thơ Bích Khê là một thế giới được triệt để xếp đặt lại bằng cái Ta, bằng cái chủ quan nhà thơ; là hội họa “nức nở” vì phải rơi đau đớn cái thói quen ba chiều muôn thuở của mình, “nức nở” vì hạnh phúc được tái sinh mỹ miều hơn; sang trọng hơn... trong thơ.
Ai cũng biết, hình thái cảm hứng đòi cấu trúc ngôn ngữ thơ tương ứng. Có thể nói, chưa một nhà Thơ Mới nào lại phá được cái cấu trúc văn xuôi trong thơ như Bích Khê. Thơ Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận... hay vô cùng, nhưng xét đến cùng, vẫn mang dáng dấp của văn xuôi có vần, vẫn là câu thơ thoát thai từ câu văn xuôi:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Có tình hình như thế cũng bởi vì trong sâu xa, các nhà thơ nay còn dùng dằng giữa một hiện thực có thật và một thế giới đã được Tôi chiếm lĩnh, giữa một khách thể với một đối tượng. Nhà thơ chưa hoàn toàn về với thế giới đối tượng của mình. Tình hình ấy làm cho nhà thơ nghiêng về loại ngôn ngữ miêu tả hơn là loại ngôn ngữ biểu hiện. Trong khi, thơ đích thực lại là ngôn ngữ biểu hiện.
Thơ Bích Khê chỉ là ngôn ngữ biểu hiện:
Tôi cắn vào trái bổ vỏ xanh mơ
Tìm chất quý thơm tinh mùi khoái lạc
Bồng hơi mộng, trong hàm răng, tản mát
Mộng?
Thiên tài?
- Trên hỗn độn khỏa thân
Đẹp tỉ mỉ, hỡi rung động truyền thần...
Vì là một hệ thống ngôn ngữ biểu hiện, cho nên thơ Bích Khê có những mối liên kết các câu thơ rất lạ với thông thường:
Như mặt trời mọc qua khóm liễu, một
Hoàng hôn. Ôi đàn môi, chim báu tớt:
Có khi giữa đoạn thơ, Bích Khê lại cho một vài câu thơ đi vào vòng đơn:
Người hòa điệu với thiên nhiên ân ái
Buồn, và xanh trời, (Tôi trôi với bờ
Êm biếc - khóc với thu: lời úa ngô
Vàng... Khi cách biệt - giữa hồn xây mộ -
Tình hôm qua - dài hôm nay thương nhớ
Im lặng nhìn bông ý, lặng lờ lên
Những dáng hình thanh khí...) Giữa mông mênh.
Đó là hệ ngôn ngữ hủy diệt logic thông tin thông thường để tạo một logic thông tin giữa hai trái tim đồng điệu độc đáo, là một chiếc cầu nối cái Tôi Bích Khê với cuộc đời hờ...
Mỗi nhà thơ là một chủ nghĩa. Thơ đã hay thì theo kiểu nào cũng hay, cũng làm mê lòng người. Đặt Bích Khê bên cạnh những nhà Thơ Mới không với mục đích khẳng định cái hay hơn của thơ Bích Khê, mà chỉ đi tìm cái mới, cái lạ của thơ ca ấy.
Qua nội dung cảm hứng và cấu trúc ngôn ngữ thơ, người đọc cảm nhận có một Bích Khê rất cô đơn, và ông càng cô đơn trong giải pháp đưa thơ vào cái mới chưa hề có trong thời đại mình, trong Thơ Mới.
Con người cô đơn này đã tìm về với Cách mạng Tháng Tám vì đó là điều hiển nhiên của mọi cô đơn thời ấy. Chỉ tiếc là, có một Bích Khê đã định mệnh trên giường bệnh... thì mới được nhìn lá cờ đỏ sao vàng...
Nguồn:
báo Xưa và Nay, (tháng 1/1997)
HỎI CHUYỆN TẾ HANH VỀ BÍCH KHÊ
Ngô Văn Phú
NGÔ VĂN PHÚ – Thưa anh Tế Hanh, trong phong trào thơ mới, tỉnh Quảng Ngãi quê hương anh có ba nhà thơ. Khá lừng danh, đó là Bích Khê, Nguyễn Vỹ và anh. Các aanh thời đó có quen nhau không ?
TẾ HANH – Ngô Văn Phú nói đúng. Mình, Bích Khê và Nguyễn Vỹ đúng là đồng hương thật. Ở Quảng Ngãi tính từ Bắc vào Nam có ba con sông đều tên Trà: Trà Bồng, Trà Khúc và Trà Câu. Quê mình ở bên sông Trà Bồng, Bích Khê ở Trà Khúc, còn Nguyễn Vỹ ở Trà Câu. Nguyễn Vỹ nhiều tuổi hơn, ông sinh năm 1911. Bích Khê sinh năm 1916, mất năm 1946, nếu còn thì năm nay Bích Khê vừa tròn 80 tuổi.
NGÔ VĂN PHÚ – Xin anh cho vài lời về thơ Nguyễn Vỹ và thơ Bích Khê.
TẾ HANH – Trong thời kỳ phong trào thơ mới, Nguyễn Vỹ làm thơ rồi ra Hà Nội làm báo. Sau này ông vào Nam. Thơ của ông lạ, ảnh hưởng thơ Pháp rất rõ. Ông cũng mang những tiếng nói mới vào phong trào thơ mới. Trong thời kỳ 1936-45, mình và Nguyễn Vỹ chưa hề gặp nhau. Mình chỉ được đọc thơ ông trên báo, cũng rất phục. Nhưng thơ Nguyễn Vỹ, cho đến nay, để người đọc nhớ được là bài Sương rơi và bài Gửi Trương Tửu, hai bài ấy quả là hay thật, độc đáo thật.
NGÔ VĂN PHÚ – Còn về Bích Khê ?
TẾ HANH – Mình cũng chưa hề gặp Bích Khê bao giờ từ hồi ông nổi tiếng, cho đến lúc ông mất. Nhưng hai người chúng mình đều mến phục nhau. Thơ Bích Khê bắt đầu từ thơ Đường luật sau chuyển dần sang thơ mới. Mình đọc thơ mới của Bích Khê có cảm nhận, ông ảnh hưởng khá sâu đậm thơ Baudelaire và Mallarmé. Xa hơn nữa có chút gì đó của nhà thơ Mỹ Edgar Poe. Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử với Bích Khê thân nhau hơn. Họ ở trường phái thơ “Loạn”, như thời ấy người ta thường gọi, thiên về tìm tòi. Hàn Mặc Tử còn viết lời tựa Tinh Huyết của Bích Khê. Chế Lan Viên thì sau này lại viết lời tựa cho tập Thơ Bích Khê do Sở Văn hóa-thông tin Nghĩa Bình xuất bản. Còn mình, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp mới gặp bà Lê Thị Ngọc Sương là chị của Bích Khê. Trong lần gặp gỡ ấy, bà Sương có nói: Bích Khê trước khi chết có nói với bà rằng rất tiếc chưa gặp được Tế Hanh. Mình cũng nói với bà : “Tôi cũng rất tiếc chưa gặp được Bích Khê”.
NGÔ VĂN PHÚ – Nghe nói quê Bích Khê đẹp lắm phải không anh?
TẾ HANH – Đúng. Bích Khê là người vùng Sơn Mỹ, nơi có cuộc tàn sát của lính Mỹ thời chiến tranh đó. Bích Khê quê ở Sơn Tịnh, có Mỹ Khê là một thắng cảnh du lịch, là nơi nghỉ mát, con gái cũng rất đẹp, nhưng mình chưa gặp cô nào (cười). Vùng quê ấy vừa có nhiều người hoạt động cách mạng khá nổi tiếng, lại rất tài hoa. Đánh cờ, đánh đờn đều giỏi. Lại có Thu Xà, như kiểu phố Hội An của Quảng Nam, con gái người Hoa và lai Hoa-Việt nhiều, đẹp. Có lẽ thơ Bích Khê thiên về cái đẹp và những vẻ đẹp lõa thể ông thường nhắc đến trong thơ là vì thế. Nhưng thơ ông dù có nói đến thân xác cụ thể, thường cũng là mê cái đẹp của Trời Đất phú cho con người mà thôi, chứ không khiến cho người ta có những ấn tượng về nhục cảm. Điều này thơ phương Tây cũng đã viết đã tả nhiều rồi.
NGÔ VĂN PHÚ – Xin anh nói kỹ thêm về thơ Bích Khê?
TẾ HANH – Bích Khê là người có học, thơ ông sang trọng, trí tuệ. Nhưng nhiều khi đưa vào thơ những hình ảnh còn mang nhiều dấu ấn của thơ Pháp. Công bằng mà nói, nhiều bài nhiều câu đọc còn thấy sượng. Nhưng câu thơ thì nhiều câu thật là hay, thật tuyệt diệu. Ví dụ câu: Ô ! hay buồn vương cây ngô đồng / Vàng rơi ! vàng rơi thu mênh mông.
NGÔ VĂN PHÚ – Hai câu này được Hoài Thanh bình trong Thi nhân Việt Nam 1032-1941, coi là những câu thơ hay nhất trong thơ Việt Nam !
TẾ HANH – Đúng thế ! Ở quê mình cây ngô đồng rất nhiều. Ngô đồng cây rất lớn, bóng trùm cả đường đi. Thơ Đường có câu: Ngô đồng nhất diệp lạc / Thiên hạ cộng tri thu, quả là thế. Mình nhớ cứ khoảng mùa thu lá ngô đồng bay vàng cả phố xá. Rất gợi cảm. Bây giờ về quê thấy người ta đã chặt hết cả. Thật là buồn.
Ngồi lặng một lúc, Tế Hanh trầm ngâm nói tiếp
TẾ HANH – Bích Khê có một vị trí riêng trong Phong trào Thơ Mới. Đọc lại ông mới thấy sự tìm tòi, chất trí tuệ. Nhưng ông đã đem vào bản sắc thơ mình, trong cái mới, tính hiện đại, cái hồn Việt Nam. Bài Tranh lõa thể cũng là một bài hay. Những câu này thì ai cũng nhớ, cũng thích:
Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ,
Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi nầy?
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
Chế Lan Viên lúc sinh thời cũng hay nhắc hai câu thơ của Bích Khê viết về thôn Vỹ Dạ. Đó là hai câu lục bát : Vỹ Dạ thôn, Vỹ Dạ thôn / Biếc che cần trúc, không buồn mà say. Mình không rõ ở bài nào...
NGÔ VĂN PHÚ – Nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử và thơ Bích Khê thì hai người đều từ thơ Đường luật đều tiến vụt sang Thơ Mới. Nhưng hai phong cách tìm tòi mà cũng rất khác nhau, mà đều sáng tạo cả !
TẾ HANH – Đúng đấy. Nhưng mà ngay từ lúc còn viết thơ Đường luật, thơ cổ, lối suy nghĩ của họ cũng đã khác, đã báo hiệu sự chuyển biến của họ rồi. Ví dụ câu thơ Đường luật của Hàn Mặc Tử :
Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt,
Hiu hắt hơi may thoảng lại rồi…
Nằm gắng đã không thành mộng được
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi!
NGÔ VĂN PHÚ – Bích Khê cũng có những câu Đường luật mà hồn thì đã là “thơ mới”, chẳng hạn:
Cheo leo lắt lẻo đèo treo quán
Róc rách đìu hiu nước xuống ghềnh
Gió thốc rừng mai bông dã dượi
Mây thêu làn nắng chỉ mong manh!
Đó là tình hiện đại và tính truyền thống, bao giờ cũng song song trên đường đổi mới của thi ca, có phải thế không anh?
TẾ HANH – Đúng ! Đúng là như thế !
(Ngô Văn Phú thực hiện, 1996)
Nguồn:
In trong phần phụ lục cuốn: Tinh hoa, thơ Bích Khê, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 1997, tr. 145-150.
HƯƠNG THƠ
Huy Khanh
Thơ Bích Khê tràn ngập mùi hương, có thể nói đó là một thế giới toàn hương từ cảnh vật chung quanh lan tỏa ra:
Đây bát ngát và thơm như sữa lúa
Nhựa đương lên, sức mạnh của lòng thương
Mùi tô hợp quyện trong tơ trăng lụa
Đây dạ lan hương, đây đỉnh trầm hương
Đây bát ngát và thơm như sữa lúa
Hồn xạ hương phơ phất ở trong sương...
(MỘNG CẦM CA)
Đến cả châu thân nhà thơ cũng quyện với thơ làm một:
Chàng ơi đêm nín thở
Để hồn biến ra hương
(NGŨ HÀNH SƠN, Tiền)
Hương hoà nhập vào tất cả, đồng hoá với tất cả sự vật. Như trăng cũng là hương:
Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc
Như nắng thơm hớp đặc cỏ nguồn hương
(NÀNG BƯỚC TỚI)
Lời nói cũng là hương:
Lời nức ra hơi hương
Dìu dịu tỏa trong buồng
(HÀN MẠC TỬ)
Thậm chí âm nhạc trong thời gian đó cũng được ướp hương phảng phất dìu dặt:
Ta những muốn mùa đông nhường lại chỗ
Nhạc gầy hương, hương gầy nhạc, lan man...
(ĐỒ MI HOA)
Tất cả các loại hương ấy được nhà thơ tiếp nhận, tinh lọc, thăng hoa qua một khiếu thẩm định cực kỳ nhạy bén, tinh tế dường như đến tận cùng tế bào hương, từng chiều sâu thẳm của hương. Đến độ chừng có thể vật chất hoá nó, cân đo đong đếm được:
Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nàng nặng
Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ
(MỘNG CẦM CA)
Hay:
Tìm ngõ nhà em anh sẽ thấy
Khóm lan thơm nặng khí ưu phiền
(LÀNG EM)
Vì thế nhà thơ có thể lắng nghe đưọc cả âm thanh của hương nữa:
Phăng mạch đêm, hương vỡ, ứa ngầm tinh
(MỘNG CẦM CA)
Và đoán chừng bóng dáng của hương thấp thoáng đâu đây, khi xa khi gần, truy tìm nó để chộp lấy:
Đâu đây lãng đãng bầu hương nhạc
Phất phất gần như phất phất xa
(TINH CHẤT NGÀN XUÂN)
Đến cả không gian cũng được nhuộm một mùi không định nghĩa được mà chỉ có nhà thơ mới phát hiện ra:
Gió về mang cả mùi lăng tẩm
Buồn cắt lênh đênh những miếng đen...
(DẶM MÒN)
Không chỉ say đắm với những loại hương cụ thể, Bích Khê còn mơ thấy, tưởng tượng thấy những mùi thơm ảo giác qua mối ám ảnh về nhục cảm ái ân, vốn là nét độc đáo táo bạo trong thơ ông:
Này, muôn ngọc nữ ngớp y thường
Tóc quyện bay mùi tô hợp hương...
(NGHÊ THƯỜNG)
Từ mùi tóc đến hươg thơm da thịt hiện về trong mộng:
Gió thiệt đa tình hôn mặt hoa
Thơm tho mùi thịt bắt say ngà...
(HIỆN HÌNH)
Đó hoàn toàn là những mùi hương không có thật từ những con người không có thật mà kinh nghiệm chung đụng của nhà thơ trong đời sống riêng lúc đó chắc không nhiều:
Nàng Vệ Nữ theo nàng Vệ Nữ
Áo âm dương gió tóc thơm rừng…
(LÊN KIM TINH)
Từ kinh nghiệm thẩm định hương thơ của Bích Khê cho thấy vai trò của khứu giác trong nghệ thuật sáng tạo của ông rất đặc biệt. Mà điều này lệ thuộc nhiều vào hoạt động của bộ phổi: hít, thở, hít vào, thở ra. Đó là hoạt động được tượng hình, thể hiện qua những hình ảnh mô tả mối quan hệ giao tiếp giữa tác giả và các loại mùi hương:
Ô nàng tiên nương! Hớp nhạc đầy hương
(NHẠC)
Hoặc:
Ngừng hơi thở ta nép trong bóng lá
Để vần thơ theo nhịp điệu thuyền quyên...
(ĐỒ MI HOA)
Tiếng thở, hơi thở ở đây là một yếu tố gắn liền với cơ thể sinh lý của nhà thơ:
Những dáng hình, thanh khí... - Giữa mông mênh
Đường nhiếp ảnh sắc khua màu - Tiếng thở
(DUY TÂN)
Hay nó xuất phát từ sự vật vốn đã được tác giả nhân cách hoá theo mình:
Âm thanh gì sắp sửa... Ngọc Kiều ơi!
Hay hơi thở cùa hoa hồng mơ mộng
(MỘNG CẦM CA)
Năng khiếu khứu giác (ngửi) vô cùng phong phú, tinh vi của Bích Khê sở dĩ có được, đậm đặc ở đây phần nào bắt nguồn từ chính căn bệnh của ông: bệnh lao đến chết. Những bệnh nhân lao thường đều có một cảm quan khứu giác cực nhạy, tinh tế hơn hẳn người thường do sự hoạt động bất bình thường của hai lá phổi. Trong giai đoạn sáng tác đầu khi ông chưa mắc bệnh (tập Mấy dòng thơ cũ) không hề thấy xuất hiện năng khiếu khứu giác đặc biệt kể trên, điều trái ngược hẳn với giai đoạn sau đã mang dấu ấn của bệnh lao:
Anh tính ôm chồm lấy mắt mơ
Lấy môi, lấy má, lấy ngây thơ
Để anh nút ớn mùi hương ấm...
(ẢNH ẤY)
Và:
Nhẹ nhàng nhịp nhàng thở đều trong sương
…Đây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ...
(NHẠC)
Nếu thơ Bích Khê còn giàu chất nhạc là do ông rất sành về nhạc (theo Chế Lan Viên), thơ Hàn Mạc Tử rên xiết đau nhức vì bệnh phong (với vai trò của xúc giác tốỉ thượng) thì bệnh lao đã góp phần làm nên những bài thơ kỳ lạ của Bích Khê. Đó là dòng thơ bệnh - cái giá sinh mạng mà nhà thơ phải trả tuy thơ bệnh của Bích Khê rõ ràng thanh khiết, sạch sẽ, êm ái hơn thơ bệnh của Hàn Mạc Tử do cơ chế bệnh gây nên.
Khó ai quên được mùi hương hoàng lan kỳ diệu khó tả của Thạch Lam - một người cũng đã chết vi bệnh lao. Khó ai không bồi hồi khi đọc lại những lời trăn trối đẫm đầy mùi hương của Bích Khê - không phải là hương thơm tuởng tượng nữa mà là mùi của cái chết đang dần đến:
Những tờ thơ nát đầy hơi hám
Tay khách đa tình sẽ chuyển trao
(NẤM MỘ)
1997
Nguồn:
(đã đăng báo, tạp chí nào, số? ngày tháng năm?)
THƠ BÍCH KHÊ, MỘT THỂ NGHIỆM THƠ TƯỢNG TRƯNG
Lê Lưu Oanh - Tô Tố Quyên
Trên tiến trình văn học Việt Nam 1930-1945, phong trào thơ Mới là một quá trình hiện đại hoá thơ ca dân tộc với những bước phát triển đặc thù, thể hiện sự chuyển biến của tư duy nghệ thuật cận đại sang tư duy nghệ thuật hiện đại trong sự hội nhập với thơ ca thế giới. Trong đó, những dấu hiệu của khuynh hướng tượng trưng (bên cạnh khuynh hướng lãng mạn tồn tại như dòng chủ lưu của thơ mới), được coi là những cách tân, thể nghiệm táo bạo nhằm đưa lịch sử thơ mới tiến thêm một bước với những giá trị nghệ thuật mới.
Bên cạnh nhóm Xuân Thu với một tuyên ngôn nghệ thuật và những bài thơ giàu chất tượng trưng như Buồn xưa (Nguyễn Xuân Sanh), Màu thời gian (Đoàn Phú Tứ), Bích Khê là một trong những thi sĩ, dù vẫn nằm dòng thơ lãng mạn, nhưng đã có xu hướng vươn tới lĩnh vực thơ ca tượng trưng với một thế giới nghệ thuật độc đáo mà Chế Lan Viên đã gọi là “một đỉnh núi lạ” trong lịch sử thơ mới.
***
Thơ tượng trưng xuất hiện ở phương Tây từ thế kỷ 19. Ở Pháp có Bôđơle, Veclen, Ranhbô, Malacmê…, ở Nga có Ivanốp, Belưi, Blôc… Thơ tượng trưng phủ nhận hiện thực, coi hiện thực hàng ngày là cái tầm thường, ít ý nghĩa, vì thế nó hướng tới một thế giới huyền bí của cõi tâm linh con người, nơi người bình thường không vươn tới và nhận biết được, chỉ thi sĩ là người có những khả năng kỳ diệu mới có thể thâm nhập và biểu đạt được nó. Về cách thể hiện, thơ tượng trưng muốn xoá bỏ cách bộc lộ của thơ lãng mạn thông qua việc không miêu tả trực tiếp sự vật và bày tỏ nỗi lòng. Nhà thơ tượng trưng muốn giấu đi những tình cảm có thật, những lời giải thích mà chủ yếu thể hiện cái ảo giác, lôi cuốn người đọc bằng sự ám thị (gián tiếp) chứ không bằng những tình cảm trực tiếp. Thơ tượng trưng chủ yếu hướng tới khơi gợi cái bí ẩn kỳ diệu nên giải mã các hình ảnh và biểu tượng thường là mục đích nghiên cứu thơ tượng trưng. Để diễn tả được những bí mật thầm kín, kỳ lạ của đời sống tâm linh con người, thơ tượng trưng phải tìm đến một thứ ngôn ngữ “phi thường” mang ý nghĩa đặc biệt, kỳ ảo. Do đó, ngôn ngữ thơ tượng trưng phần nào mất đi ý nghĩa thông thường, trở thành phương tiện thôi miên, khơi dậy những cảm giác mơ hồ không xác định, làm thơ trở nên bí hiểm, mang tính hình thức và duy mỹ.
Có thể nhận thấy thế giới nghệ thuật trong thơ Bích Khê là một cấu trúc thế giới mang tính tượng trưng. Bởi ta gặp trong đó một cõi đời đầy mộng ảo xa lạ với cuộc sống hàng ngày, nơi tồn tại phiêu diêu của phần tâm linh bí ẩn, là một cõi trời huyền bí của thế giới cái đep, thế giới thơ ca, trong sự hoà điệu nhịp nhàng tương ứng của mọi màu sắc, hương thơm với những âm thanh và biểu tượng kỳ lạ.
***
Thơ Bích Khê là tiếng nói về cái bên trên cuộc đời. Thi nhân cho rằng sống trong cõi mộng cuộc đời mới có ý nghĩa. Vì vậy, thế giới trong thơ ông đã được sắp xếp lại theo một ma lực huyền diệu đầy quyến rũ.
Một cõi đời thăng hoa thành cõi mộng. Bước vào thơ Bích Khê ta như lạc vào cõi mộng. Trong Thơ Bích Khê có đến 71 lần thi nhân nhắc đến mộng và 3 lần khẳng định ngoài trời là mộng cả. Cõi mộng ảo và chiêm bao ấy được hữu hình qua nhiều tên gọi: mộng tiên, mộng người, mộng vừng trăng, mộng cầm ca, mộng ảnh, mộng quỳnh dao, mộng thiên tài, mộng cố hương… Mộng, theo tâm lý học, vừa là sản phẩm của quá trình tưởng tượng, vừa là sự nhập thân của chủ thể vào quá trình tưởng tượng đó. Cõi mộng là một thế giới tách biệt với hiện thực, thể hiện những ý muốn chủ quan, những khát vọng riêng tư mà không chịu sự kiểm soát của lý trí. Khi nhập thân vào mộng, con người hoàn toàn tin vào sự tồn tại khách quan của những thứ ảo huyền do chính mình tưởng tượng ra. Điều này phù hợp với quan niệm về thế giới của thơ ca tượng trưng với mục đích là chối bỏ hiện thực để diễn tả một thế giới siêu nghiệm đầy bí ẩn của cõi tâm linh con người thể hiện qua những cảm giác và những ký ức chập trùng, qua những biểu tượng mơ hồ, bí ẩn, hình ảnh của tiềm thức, qua cái hư ảo…
Vì thế, mọi dấu vết của cuộc đời thực trong thơ Bích Khê đều hoá thành mộng ảo, chiêm bao: tiếng đàn tì bà hay như từ cõi khác vọng về, mỹ nhân đẹp như chỉ có trong giấc mộng, quả măng cụt biến thành khối ngọc, nước mắt người là những dòng châu, đêm trở thành không gian tơ gợn sóng, điệu nhạc gây hoa mộng ngát trời mây, người say rượu hoá thành người đi đuổi bắt nàng thơ trong giấc say… Mộng là một thực thể trong cõi tinh thần, có vận động, có cảm giác: yêu bằng mộng là mơ tim sáng láng, mộng rứng bồi hồi, mộng bay ngàn dặm với thơ bay. Mộng là thứ men nồng say đắm lòng người: Tôi miên man uống lại mộng quỳnh dao. Mộng còn bao phủ bằng màu sắc: mộng rớt như chất ngọc, mộng như ngà, mộng rất xanh, mộng trắng phau phau, mộng trắng tợ hoa lê, mộng nở hoa, mộng ngời lên.
Cõi mộng chính là hữu hình hóa của thế giới tâm linh sâu thẳm và vô thức bí ẩn với những ảo giác kỳ lạ. Thế giới ấy thật bao la khôn cùng với một không gian – thời gian không xác định, không vị trí, không giới hạn, mở ra hai chiều vô biên và vĩnh viễn. Đó là không gian bát ngát, vô bến bờ: không gian là bát ngát, cõi mê ly không bờ bến. Không gian ấy lại rất mơ hồ, xa xôi với muôn trời, tứ hướng, mười phương, ngàn khơi, xa khơi… bên những địa danh siêu thực: cung Thiềm, cung Quảng, đào động, suối ngọc tuyền, bến Tầm dương, sông Ngân… những không gian chỉ các miền không xác định mang dấu ấn vĩnh cửu trong tiềm thức nhân loại. Bên cạnh đó, trong 75 bài thơ, ta gặp 61 lần từ muôn với muôn trời, muôn xuân, muôn nơi, muôn cành, muôn bậc, muôn lòng, muôn tình, những từ chỉ số nhiều không đếm xuể mang ý nghĩa chỉ sự tồn tại bền vững mang tính bất diệt của trạng thái thế giới. Thời gian của cõi mộng cũng đầy huyền hoặc. Có một khoảng thời gian gợi cảm hứng của thi sĩ rất nhiều: đêm (51 lần), một khoảng thời gian vừa cụ thể vừa siêu thực phù hợp với những giấc mộng, với sự tinh thức của thế giới tâm linh vốn rất bí ẩn, mong manh, mơ hồ của con người. Cõi mộng đêm ấy luôn sáng bừng, lộng lẫy, đẹp vô bờ như là ảo giác với những đêm kim sa, đêm hồng, đêm vàng, đêm tơ, đêm ngủ mơ, đêm nhung, đêm ngời ngọc châu báu…
Cõi mộng ấy là nơi hội tụ đủ mọi hồn từ hồn thi sĩ, hồn thơ, hồn xạ hương, hồn tình lang, hồn nàng đến hồn thu, hồn hoa, hồn xạ hương, hồn vũ trụ. Từ mộng đến hồn, các chủ thể tâm linh đã được khách thể hoá để cùng gặp gỡ, kết hoà, giao cảm nơi cõi mộng huyền bí: Hồn say trong mơ màng, Hồn ta? hay là hồn tình lang, để cùng phiêu diêu trôi dạt, hiện hữu: Đêm nay hồn lặng làm sao, Cánh thu ôm cả chiêm bao vào lòng; Hồn tôi đã thoát để tiêu dao; Để hồn trôi dạt cõi xa mơ; Hồn theo với nhạc hồn ơi là hồn.
Con người ở cõi miền tâm linh và mộng ảo ấy dường như không còn ở trạng thái ý thức mà đã hoàn toàn đắm mình trong vô thức. Các trạng thái ngất ngây, đê mê, ngây ngây, phiêu diêu, tê mê… là phổ biến. Say là đỉnh điểm của vô thức luôn được đẩy đến tận cùng với say im, say no, say nghiền, say lươt mướt, say ngấm, say mất mây, say mơ và chết say. Ở trạng thái này, con người thoát khỏi mọi ràng buộc thể chất, mất dần ý thức mà hoà nhập tột cùng trong những ấn tượng và cảm giác. Phút say là phút tâm hồn thi nhân thăng hoa, nhập hẳn vào cõi mộng, bước sang miền Sáng tạo, lạc vào địa hạt huyền bí của Nghệ thuật:
Ôi say khướt mới dào tuôn ý tứ
Ôi điên rồ mới hớp ánh trăng sao
Cõi Mộng (cõi tâm linh, vô thức) là đường đưa người thơ đến xứ sở Huyền diệu (cõi Thơ).
***
Một cõi trời huyền diệu và bí ẩn với những âm thanh kỳ diệu, sắc màu “phương phi” và sự tương giao cảm giác. Theo Hàn Mạc Tử: “Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì thực tế trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao thì lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu”. Nếu cõi chiêm bao ấy là thế giới tâm linh bí ẩn thì địa hạt huyền diệu này chính là khu vườn nghệ thuật (cõi Thơ).
Nơi đây, thế giới hoà tan trong Nhạc. Thi nhân từng tuyên bố: Ngoài trời là nhạc cả. Vậy nên, âm nhạc bao trùm thấm đượm và tan hoà vào cảnh vật và con người:
Đàn thơ cơ hồ lên cung âm điệu
Đàn giây trinh bạch khóc mướt trong mơ
…
Nàng ơi đừng động, có nhạc trong giây
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trời mây
(Nhạc)
Một khúc mộng cầm ca cất lên, dù chỉ là trong ảo giác, nhưng đã khiến cả một bầu trời huyền diệu hợp về. Nơi đó có hương dạ lan, hồn xạ hương, hơi thở hoa hồng, không gian tơ, mắt mùa thu xanh tợ ngọc… Mọi hoạt động, cử chỉ con người trong thế giới này đều là nguồn cội của âm thanh: Nàng hé môi ra bay điệu nhạc, Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường. Thiên nhiên, từ nắng gió đến hương hoa, màu sắc đều trở thành những ký hiệu của nhạc: Ôi nắng vàng thơm rung rinh điệu ngọc; Nắng có nhạc chớp đầy hương lạ; Gió đi chới với trong khung trắng, Lộ nửa vần thơ nửa điệu ca. Nhạc chính là nhịp điệu của cõi trời huyền diệu này. Nhịp điệu ấy được đo bằng xao động của cảnh vật: rung rinh điệu ngọc, những cánh hồng đơm, nhẹ nhàng, gợn gợn… Nhạc chan chứa lan truyền mọi nơi mọi chốn, từ miền vũ trụ bao la đến chốn tiềm thức tâm linh bí ẩn mà thiên đường là biểu tượng: Muôn ngọc nữ uốn mình lượn sóng xiêm nghê, /Diễm lệ Hằng Nga bước xuống đền, /Điệu ca thần diệu vẳng đưa lên. Nơi đây, giai nhân dìu thi sĩ trong ý nhạc diệu huyền. Đó chính là phút giây sáng tạo được hữu hình hoá: Cô dẫn hồn tôi trên sóng múa.
Nhạc không chỉ là nhịp điệu của thế giới huyền diệu mà còn là nhịp điệu của vũ trụ, của thế giới tâm linh sâu thẳm, là nhịp điệu của hồn thơ, của sáng tạo. Nhìn thế giới bằng con mắt âm nhạc chính là một bước đi của thơ ca tượng trưng với tuyên bố của P.Veclen, thi sĩ nổi tiếng của trường phái thơ tượng trưng Pháp: Âm nhạc đi trước mọi thứ.
Bên bầu trời đầy nhạc, thế giới huyền diệu đó còn rực rỡ ánh sáng, chan chứa hào quang. Tự nó đã lung linh, huyền ảo, mỹ lệ: Trăng dệt gấm mà sao thêu kim tuyến; Cả không gian ngời kết ngọc kim cương; Lầu ai ánh gì như lưu ly; Động đào nguyên chấp choá ánh lưu ly… Đó là không gian của xà cừ, san hô, kim cương, lấp lánh đẹp như trong giấc mơ vậy. Những sắc màu “phương phi” (chữ của Hàn Mạc Tử), một kho châu báu ấy quả thật chỉ có ở thơ Bích Khê.
Không chỉ là một thế giới hoà điệu âm thanh và sắc màu, thế giới này còn được xây nên dưới cái nhìn tương ứng cảm giác. Nơi đây mọi sự vật đều được cảm nhận qua các cảm giác về âm thanh, sắc màu, mùi vị tương giao, một biểu hiện của cách cảm nhận thế giới độc đáo mà Bôđơle, một trong những đại biểu của trường phái thơ ca tượng trưng Pháp đã phát hiện và đề cao. Con người được biểu tượng qua âm thanh (miệng như đàn, nói ra thành điệu nhạc), qua hương thơm (nàng là hương hay nhan sắc lên hương), những cảm giác sắc ngọt (cười trắng thuỷ tinh, mắt rất mát). Ánh trăng được nhân linh hoá qua từng hành động: trăng nhòm sấp ngã, trăng ngủ, trăng rờn, trăng ôm niềm tóc bạc, trăng say, trăng bỗng ngây khờ. Cõi vô thức của tâm linh với những ý niệm vô hình thoắt thành cụ thể qua hình ảnh, màu sắc: mộng trắng phau, mộng nở hoa, mộng trắng như ngà, hồn hé nhạc thắm như hoa, hồn về trên môi… Âm thanh, hương thơm, màu sắc và cảm giác của làn da, hơi thở… tất cả đều chuyển hoá, tan hoà, cộng hưởng, dẫn người đọc đi vào vùng siêu cảm. Mùi hương có trọng lượng, có hơi ấm, có âm thanh và ánh sáng: Hương ngọt ngào ánh sáng chớp mau mau; Vườn thơm khua sắc mát; Thân nhịp nhàng lòng nghe hương nằng nặng; Cười thơm như ngọc dội hương vang; Nắng vàng thơm rung rinh điệu ngọc. Mùi hương tràn ngập, bao phủ nơi đây: thơm như sữa lúa, hồn xạ hương, hơi thở hoa hồng, đỉnh trầm hương. Nơi đây thực sự là cõi đẹp tuyệt vời, nơi ngự trị của thơ ca.
Xứ sở diệu huyền còn được định hình qua sắc đẹp giai nhân: Đêm ru huyền ngủ mê trên mái tóc, Vài chút trăng say đọng lại ở làn môi; Suối tóc mát nhúng trong vùng mộng tuyết; Mỗi cái ngó là một vì sao mọc, Mỗi liếc yêu là phảng phất mùi hương. Giai nhân chốn này không chỉ là đại diện của sắc đẹp thông thường mà là tượng trưng của cái Đẹp, của Thơ ca, của Nghệ thuật, mà chỉ có Nhạc, có Hương thơm, có Sắc màu của xứ sở huyền diệu mới là thước đo tương ứng của Nàng. Hay nói ngược lại, cái Đẹp và Thơ ca trong giấc mộng thi ca hiện hữu ở vẻ đẹp giai nhân:
Gió đi chới với trong khung trắng
Lộ nửa vần thơ nửa điệu ca
Tôi ráp lại xem: Ồ sự lạ
Một người thiếu nữ hiện trong trăng
Lòng khát khao chiếm lĩnh người đẹp trong một loạt bài thơ (Cô gái ngây thơ, Tranh loã thể, Thơ bay, Ngọc, Sắc đẹp, Một cõi trời…) không nên hiểu đơn giản là chuyện Truỵ lạc và Cuồng dâm (dù chính nhà thơ đặt tên như vậy cho chủ đề loại thơ này) mà chính là niềm say mê cái Đẹp tột cùng đến mức mê sảng, mất lý trí, là nỗi khát khao điên cuồng chính phục cái Đẹp và Nghệ thuật, bởi đối với thi nhân, người đẹp chính là Thơ Ca!
Mọi trạng thái xúc cảm con người nơi đây bỗng hoá thành mờ nhạt trong sự thăng hoa của cảm giác. Dù đó đây ta vẫn gặp những xúc cảm cụ thể, trực tiếp như: Anh ghì lấy ảnh. Những đau thương, Thấm tận lòng anh khổ chán chường, Sao xanh lợt phím tơ hồng, Gió ơi là gió! buồn đong thơ về, song tỉ lệ những câu thơ đó không nhiều. Cái chủ yếu chúng ta cảm nhận được trong thơ Bích Khê là tiếng nói bí hiểm của cảm giác, bởi đằng sau cái miêu tả, cái biểu đạt, nhà thơ đã dấu đi cái biểu hiện, cái được biểu đạt. Vườn thơ Bích Khê rất đẹp, lộng lẫy và tinh tế song cũng rất mơ hồ về nghĩa bởi thiếu đi những cảm xúc thật và những chi tiết đời sống hiện thực. Thế giới ấy thuyết phục và quyến rũ người đọc chủ yếu bằng cách khơi gợi, bằng ám thị. Nó là một thế giới chỉ có thể cảm thấy mà không thể hiểu được. Đó là một “cõi đời ở ngoài trời”, trùng khít với Cõi Đẹp, Cõi Thơ.
Thế giới thơ, theo thi nhân, là một cõi trời xa với một không gian bất tận và vĩnh viễn. Thơ là tinh hoa, là bí ẩn của trời đất, là nhịp điệu của vũ trụ, là chốn tương giao của mọi vẻ đẹp: nhạc điệu, sắc màu, hương thơm và giai nhân. Thơ là những ảo giác kỳ diệu. Đó là một thế giới vĩnh hằng của Mộng, của Tâm linh, của Thơ ca. Cấu trúc thế giới nghệ thuật thơ Bích Khê mang tính tượng trưng vì lẽ đó.
***
Để tái hiện được cõi mộng như một thế giới siêu nghiệm huyền bí, thơ tượng trưng đã nỗ lực tìm kiếm những phương tiện ngôn ngữ đặc biệt với mục đích tự thân. Thứ ngôn ngữ đó đòi hỏi phải có được những ý nghĩa lạ thường khác biệt để diễn tả được những bí ẩn của thế giới tâm linh. Bởi như P.Veclen từng nhận xét: các tư duy cũ đều trở thành bất lực, không diễn tả nổi cái mơ hồ, cái vi diệu, cái lo âu, phiền muộn, mơ ước.
Bích Khê đã chuyển thế giới mộng ảo và huyền diệu ấy sang nhạc điệu, hình ảnh, ngôn ngữ. Sự sáng tạo tuy mang dấu vết kỹ thuật và duy mĩ, nhưng lại thể hiện một năng lực tâm hồn lạ lùng khiến ông có những câu thơ hay vào bậc nhất của thơ Việt Nam (theo Hoài Thanh) và không hề giống ai đến tận ngày hôm nay.
Quan niệm thơ là nhạc đã khiến Bích Khê sáng tạo nên câu thơ nhạc như một cách tân về hình thức. Điều này đã được nhiều nhà thơ, nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến [Xin xem: Bích Khê - nhà thơ thần linh (Hàn Mạc Tử); Thơ Bích Khê (Chế Lan Viên); Bích Khê - sự thức nhận ngôn từ (Đỗ Lai Thuý)…]. Trước hết đó là những bài thơ những câu thơ dùng toàn vần bằng hoặc vần bằng làm chủ âm, tạo cảm giác đặc biệt, kỳ lạ:
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung thương
Ôi tôi bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
(Tỳ bà)
Bài thơ nhẹ như hơi thở, như tiếng nhạc đang lan toả và bay bổng trong không gian với các âm vang mở dầy đặc (nàng, mang, nàng, tang, lang). Đã từng có thi nhân làm thơ toàn vần bằng (Giang hồ mê chơi quên quê hương – Tản Đà; Sương nương theo trăng ngừng lưng trời, Tương tư nâng lòng lên chơi vơi – Xuân Diệu), song không nhiều… Bích Khê dùng vần bằng toàn bộ ở hai bài, như chủ âm ở năm bài và lẻ tẻ ở rất nhiều câu. Lối thơ bình thanh này tạo ra một âm hưởng buồn sâu lắng, cảm giác trong nhẹ, dễ thăng hoa, như dẫn con người vào chốn xa xăm mơ hồ nào đó…
Bích Khê thiên về lối gieo vần cùng dòng như là những nốt luyến láy của bản nhạc, tạo nên hoà âm du dương:
Lam nhung ô! Màu lưng chừng trời
Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi
(Hoàng hoa)
Đêm ôm hồn tôi chơi phiêu diêu
(Nhạc)
Về nhịp điệu, theo Hàn Mạc Tử, lối ngắt mạch ở chữ thứ tư của Bích Khê trong câu tám chữ cùng lối gieo vần lưng khiến cho bài thơ như hai bài tứ ngôn song hành:
Ôi nắng vàng thơ, rung rinh điệu ngọc
Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơm
(Nhạc)
Có những bài thơ làm theo lối thơ vắt dòng của Pháp, tạo nhịp điệu tân kỳ và ý nghĩa lạ lẫm:
Thoảng tiếng gáy của cu
Cườm, hiu hiu vàng đượm
Bích Khê sử dụng rất nhiều biện pháp hoà âm: điệp phụ âm đầu (Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương; Núi vía vọng gì để vấn vương), điệp vần trong câu gây cảm giác hô ứng lan truyền (Hồn dạ hương phơ phất ở trong sương; Tình tang tôi nghe như tình lang). Sự đi về, lan toả của các âm tạo nên sự nhịp nhàng của giai điệu thơ.
Các điệp khúc mang tính nhạc được tạo nên từ những điệp từ và điệp cú pháp được sử dụng với tần số cao: Hoàng hôn ở bên cồn, Bên cồn ô cô thôn, Cô thôn ô trúc vàng; Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà; Thơ ngà ngà say, thơ ngà ngà say. Bài Thi vị là sự hoà hợp tuyệt đối của thơ và nhạc trong việc sử dụng điệp ngữ và cú pháp tạo nên sự nâng cao, xoáy sâu, cao trào và lịm tắt của âm nhạc:
1. Lá vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn rung tiếng
Người yêu đương ngồi…
2. Trăng vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn nghẹn tiếng
Người yêu đi rồi…
3. Hoa vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn rụng tiếng
Người yêu đi rồi
4. Sao vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn câm tiếng
Người yêu xa rồi
…
5. Đêm vàng rơi,
(Tôi khóc, anh ơi!)
Đàn bẻ phím
Người yêu chết rồi.
Ở đây, thơ trùng khít với nhạc.
Cũng như Baudelaire đi xuyên qua cả một rừng biểu tượng, trong thơ Bích Khê cũng đầy các hình ảnh – biểu tượng. Mắt là nơi chứa đựng những bí ẩn của một cõi miền xa lạ, là ánh sáng dẫn thi nhân đi vào thế giới thiêng liêng, huyền diệu: Ôi cặp mắt của người trong tợ ngọc, Sáng như gươm và chấp choá kim cương; Hai mắt ấy chói hào quang ánh sáng, Dẫn hồn ta vào thế giới thiêng liêng, là nguồn cảm hứng của thơ ca: Bỗng đôi mắt ngọc hiện xanh mờ, Nức nở tan thành vạn giọt thơ. Ngọc châu, một hình ảnh được dùng đến trăm lần như là chuẩn mực của những gì tinh tuý nhất, đẹp đẽ nhất của thế giới, con người và nghệ thuật: nàng là ngọc, thi sĩ là ngọc, người yêu là ngọc, mộng ngọc, hồn ngọc, tiếng như vàng ngọc reo… Đồ mi hoa là biểu tượng của giai nhân. Tranh loã thể: vẻ đẹp bị che kín của thiên nhiên (như trời đất, âm nhạc, thơ và cảm nhận) cần phải được khám phá. Gã ăn mày: hình ảnh thi sĩ đang ăn mày “lộc tinh hoa” của thế giới mộng ảo, kỳ diệu:
Hồn ta đau quá là ta ngửa tay
Lạy tứ hướng và xin khắp thiên hạ:
Nắng có nhạc chớp đầy hương hơi lạ
Nấc âm thanh chết lịm giữa triền miên
(Ăn mày)
Biểu tượng đã làm nên tính bí ẩn và huyền diệu: đẹp mà khó hiểu. Nhà thơ dùng rất nhiều hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: mộng trắng phau phau, mộng rất xanh, không gian tan ra tiếng địch, mắt trào ra hưởng khoái lạc, mắt rất mát, trăng ôm niềm tóc bạc, hương trăng, đêm hường màu trăng không gian như gờn gợn sóng, hồn hé nhạc thắm như hoa, vườn thơm khua sắc mát, chân nhịp nhàng lòng nghe hương nằng nặng… Điều này cho thấy trực giác của thi nhân rất mạnh. Có thể có con số thống kê phép chuyển đổi ẩn dụ này: Từ hình ảnh vô hình thành hình ảnh hữu hình: 50 lần; từ hình ảnh màu sắc thành âm thanh: 10 lần; từ âm thanh thành màu sắc: 8 lần, từ sắc màu, âm thanh thành hương vị: 20 lần… Ẩn dụ bổ sung góp phần xây dựng một thế giới tương giao hoà điệu thể hiện những mối liên hệ bí ẩn, siêu việt trong “vũ trụ tinh thần”.
***
Cùng với các khuynh hướng thơ lãng mạn, siêu thực, thơ tượng trưng đã góp phần làm nên gương mặt của thơ Mới 1930-1945 trong quá trình vận động từ tư duy nghệ thuật cận đại sang tư duy nghệ thuật hiện đại.
Với một cách nhìn mang tính tượng trưng về nghệ thuật, thế giới và con người, Bích Khê đã đóng góp một vị trí đáng ghi nhận trong lịch sử thơ ca dân tộc. Đó là sự trình bày cái bên trong, cái tinh thần, giấc mơ, cõi vô thức dưới một cách cảm nhận thế giới mới mẻ (sự tương hợp cảm giác) và bằng thứ ngôn ngữ đặc biệt (câu thơ biểu tượng và câu thơ âm nhạc). Có thể nói, với Bích Khê, câu thơ Việt Nam tuy còn cầu kỳ, nhân tạo nhưng đã có một dáng vẻ mới lạ, độc đáo và thú vị.
Những quan niệm và sáng tạo độc đáo của Bích Khê trong nghệ thuật cho đến nay mãi mãi là “một đỉnh núi lạ” trong lịch sử thơ ca Việt Nam.
Nguồn :
Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 3-2002
NGHĨ VỀ BÍCH KHÊ
Khổng Đức
Nếu trong thơ Hàn Mặc Tử hay đề cập đến Trăng, thì Bích Khê lại hay nói đến Thu, mùa Thu:
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của hồn thu đi lạc ở trong mơ
(Mộng cầm ca)
Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi
(Tỳ Bà)
Đêm nay hồn lặng làm sao
Cánh thu ôm cả chiêm bao vào lòng
(Cuối thu)
Ô ! Mộng đêm thu mây vút xa
Say sưa ộ sắc cạnh đào hoa
(Mộng)
Mùa thu ám ảnh nhà thi sĩ
Muốn thổi tiêu vàng giữa khói sương...
(Nấm mộ)
Thu đã ám ảnh thi sĩ nên nó đầy dẫy trong Tinh Huyết và Tinh Hoa. Anh cũng từng có bút hiệu là Lê Mộng Thu. Phải chăng vì địa danh Thu Xà là nơi sinh trưởng Bích Khê mà cũng là chốn an nghỉ cuối cùng của anh, miền đất quê hương đã in đậm nét trong thơ anh:
Nơi đây làng cũ buồn hiu quạnh (Làng em)
Phố phường hai dãy đứng trơ trơ (Thu Xà cảm tác)
Nặng lòng với quê hương ư ? Thì cũng đúng, nhưng còn hơn thế nữa kìa, vì theo các nhà “tâm lý học miền sâu” (Psychologie des profondeurs), đó là hiện tượng con người luôn luôn muốn trở về nguồn (besoin de retour au sein maternel). Quê hương hay đất mẹ cũng là mẹ đó thôi. Một hình ảnh khắc sâu trong tâm khảm con người của nghìn đời trước và nghìn đời sau. Nó thể hiện bằng những hình ảnh tượng trưng, nó biến thái, nó thăng hoa khó nhận ra đấy, nó cũng mang dấu ấn tình cảm, cảm xúc... Bích Khê là nhà thơ, hẳn nhạy cảm hơn ai hết thì tên địa danh quê hương làm sao không nặng trĩu trong lòng để biến hình thành Thu, như Thu với nắng, trăng ngọc, kim cương sao...
Thu Xà là một thị trấn nhỏ thuộc huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Nghĩa. Nhưng Thu Xà là gì? Căn cứ theo bộ địa bạ ghi chép từ năm Gia Long thứ 12 (1814) thì Thu Xà vốn là xã Tăng Sai nghĩa là đánh cá bằng bè lưới, nôm na là bè rớ. Thời Gia Long, Minh Mạng làng này dân cư thưa thớt, nhưng đến đầu thế kỷ 20 đã có người Hoa Kiều đến ở và buôn bán rất phồn thịnh, dân cư trở nên đông đúc. Có thể người Hoa đến ở thấy chữ Tăng Sai không mấy đẹp nên đã đổi thành Thu Sai, Sai cũng đọc là Sài. Hay là tên làng đã được đổi thay từ đời Tự Đức, nên trong Đại Nam Nhất Thống Chí được biên soạn trong thời này đã viết tên làng là Thu Sài, người Hoa phát âm là Thu Sà rồi thường dân gọi Thu Xà thành thói quen.
Thu Xà nằm bên bờ sông gần cửa biển tiện cho việc thuyền bè đi lại cả đường sông lẫn đường biển. Nó cách Cổ Lũy một dòng sông, là một trong những thắng cảnh của Quảng Nghĩa “Cổ Lũy Cô Thôn”. Cửa biển là cửa Đại, nơi sông Trà Khúc và sông Vệ gặp nhau nên lòng sông khá rộng và sâu. Từ Thu Xà ra biển chỉ vào khoảng 2 cây số, phía nam Thu Xà có Vực Hồng, nơi dòng sông Vệ đổ về xoi sâu vùng đất đỏ thành bờ cao trong rất hùng vĩ. Đối chọi với Vực Hồng là Phú Thọ ở phía Bắc có núi đá đen khá uy nghi. Qua dải sông sâu là Cổ Lũy nằm sát bên bờ biển chơ vơ với đám rừng dừa cao ngút nghiêng mình bên mé nước trong xanh, cũng là nơi thuyền bè ra vào với những cánh buồm trắng xóa hay chen chúc nhau đậu bên bờ. Sớm chiều ánh nắng vàng êm dịu trải lên màu xanh đậm của nước, của cát trắng, của ruộng đồng lúa mía, của những mảnh đất nơi đây đỏ nơi đây vàng pha lẫn với đá đen, cùng với những mái nhà xám màu tranh tre hay gạch ngói đỏ. Nói chung cảnh trí Thu Xà và các vùng lân cận là một bức tranh hài hòa dễ khơi động hồn thơ hơn đâu hết; nên không lạ nơi sinh trưởng ra Bích Khê. Và rồi miền đất nước có sông sâu biển rộng núi cao này ảnh hưởng đến đời thơ anh không phải là ít. Điều đó quá rõ là thiên tài Bích Khê phát triển quá sớm, mới 12, 13 tuổi đã biết làm thơ Đường, đến 15, 16 tuổi đã có thơ đăng báo và xướng họa với những vị lão nho. Thế nhưng tại sao Bích Khê đến với thơ mới quá muộn? Mãi đến năm 1937 anh mới tuyệt giao với thơ cũ và gia nhập vào làng thơ mới. Phải chăng vì những lý do sau đây:
Bích Khê là con trai út trong gia đình có truyền thống cách mệnh, ông cha đã từng tham gia các phong trào yêu nước. Thơ anh đăng trên báo Tiếng Dân, Phụ Nữ Tân Văn v.v...cũng là thơ yêu nước. Anh lại chịu ảnh hưởng của cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng khá nặng nên có thành kiến với thơ mới:
Rồng vẽ lối xưa toàn những sáo
Cua bò thơ mới chả nên câu.
Chính nhà thơ lão thành Khương Hữu Dụng cũng từng tâm sự với chúng tôi là do ảnh hưởng của cụ Phan quá nặng mà thơ anh đắm trong tinh thần yêu nước, không thoát xác để đi vào thơ mới sớm hơn. Đó là chưa kể dân tình, dân khí Quảng Nghĩa luôn luôn có máu cách mạng, ưa bạo động. Quảng Nghĩa cũng là đất Chiêm Thành xưa, mà Quảng Nam, Bình Định cho đến bây giờ vẫn còn ít nhiều di tích của Chàm, những cổ tháp cao ngạo nghễ với trời xanh. Trong khi đó ở Quảng Nghĩa đã từ lâu chẳng còn dấu vết gì của Chiêm Thành, nếu còn chăng chỉ là những viên gạch to tướng thỉnh thoảng gặp nơi các cánh đồng. Do đó kể từ phong trào Văn Thận, Duy Tân, Đông Du ... lúc nào cũng sôi nổi ồ ạt, làm sao không lay động đến tâm hồn Bích Khê. Những sự kiện vừa nêu là những dây xích cột chặt anh trong trường phái cổ điển Đường Luật dù anh là người học Tây. Cũng nên kể thêm rằng từ sau 1936, hoàn cảnh đất nước và dân tộc Việt Nam rõ ràng rơi vào ngõ bí thoái trào trầm trọng. Tâm trạng “Bán sầu”, “Bán thơ” (đầu đề bài Hát nói của Bích Khê) là có thật; cũng là tâm trạng mất định hướng của thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ.
Nên khi gặp và đọc thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên thì Bích Khê như người chụp được phao cứu mệnh, tìm được sự giải thoát cho chính mình. Gia nhập vào làng thơ mới tức là gia nhập vào trào lưu lãng mạn. Xin đừng hiểu nghĩa từ lãng mạn theo thông tục lâu nay là xấu xa, mà phải hiểu theo tinh thần chính thống của Tây Phương. Nó là hiện tượng chống lại chủ nghĩa quý tộc mà sinh ra chủ nghĩa bình dân, chống lại chủ nghĩa hình thức mà sinh ra chủ nghĩa tự do, nó chối bỏ cái thế giới thực xấu xa bỉ ổi mà hướng về cội nguồn, một địa đàng xa xôi, nôm na là mơ về một thế giới lý tưởng. Ánh sáng văn học thế giới cận đại mở đầu là do chủ nghĩa của phái lãng mạn.
Vừa gia nhập làng thơ mới tại sao Bích Khê lại xông vào trường phái tượng trưng? Có người cho là do ảnh hưởng của Hàn Mặc Tử, cũng đúng một phần, nhưng chưa phải là lý do duy nhất. Ý thức chuyển hướng vào thơ mới từ năm 1937, cũng là giai đoạn thơ mới đã hình thành và có thể đứng vững vàng; vì đã có nhiều tác phẩm ra đời, và có bao nhiêu người xứng danh là thi sĩ. Với cách mạng Chế Lan Viên đã từng tỉ tê “Đi xa về quá chậm”, nhưng trong văn học đối với Bích Khê phải đổi lại là “Về chậm phải đi xa”. Hơn nữa, đến năm 1937 chiếu làng thơ mới với trường phái lãng mạn đã chật chỗ vì các nhà thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Thanh Tịnh v.v...và còn một lý do chính yếu là Bích Khê có thừa khả năng tiếp xúc với các trào lưu văn học thi ca Pháp, thì trường phái tượng trưng vốn có tính chất canh tân cách mạng quá hợp với anh. Có thể nói đó là mảnh đất tốt để cho hạt giống tài năng Bích Khê ấp ủ lâu nay được cơ hội gieo trồng phát triển:
Tượng trưng vầy cao đẹp
Chỗ chính phẩm văn chương
(Ngũ Hành Sơn - hậu)
Vậy thơ tượng trưng là gì? Nôm na nó là một phong trào tân lãng mạn của Pháp phát sinh từ cuối thế kỷ 19, do các thi nhân thiên tài dẫn đầu là Rimbaud, Verlaine, Mallarmé... Thơ với họ là tiếng nói của vô thức, là đào sâu vào tự ngã, nhắm tìm kiếm một ý tưởng siêu việt, một nguyên tố thâm sâu của vũ trụ, cũng gọi là bản thể, là thực tại hay cuộc sống nội tâm:
Ôi sắc đẹp, anh hoa hồn vũ trụ
Phấn Trang sinh : tính chất khí âm dương
Mi làm long phím lòng muôn trinh nữ
Muôn tài hoa nghiêng nước vẻ thiên hương
Mi rớt ngọc cho vang muôn tinh tú
Mi nhả sâm ngọt lịm vạn sầu thương
(Đồ mi hoa)
Nó mang tính chất siêu hình, hay đúng hơn nó quan niệm rằng: sáng tác thi ca là đi tìm một tri thức bí nhiệm, thi nhân là kẻ giúp ta khám phá những gì ta chưa bao giờ nhìn thấy, cảm biết:
Hỡi trần gian hãy chết ngột trăng sao
Cho nhân lý ngời ra như lưỡi kiếm
Và hào quang khiêu vũ với hào quang
(Nàng bước tới)
Do đó họ phải mượn các hiện tượng vật chất để diễn tả cái tâm linh nội tại, nó có khuynh hướng chủ quan thần bí, nó dùng ẩn dụ, ám thị làm ấn tượng diễn tả. Nó ỷ lại vào âm nhạc để diễn tả tâm linh huyền diệu của con người, nên phần lớn phải vận dụng hình ảnh, và cũng vì nhiều khó khăn đó, nó phải phối hợp hội họa, điêu khắc kiến trúc, vũ khúc, nói chung là vận dụng các cảm xúc hương vị, âm thanh, màu sắc... để nói lên cái điều không sao nói được. Muốn đạt đến cảnh giới đó nhà thơ phải trực cảm hay sống bằng trực giác:
Chữ biến hình ảnh mới, lúc trong ngâm
Chữ điêu khắc tỉa nghệ thuật sầu câm
Đây thẩm mỹ như một pho thần tượng
Múa song song khiêu vũ với đêm hồng
(Duy Tân)
Sự kiện ấy có vẻ mới lạ với Tây Phương, nhưng đối với văn học Đông Phương thì lại là chuyện cũ. Vì từ Kinh Thi, Sở Từ, Nam Hoa Kinh cho đến thi ca Đường Tống... đều mang tính chất tượng trưng. Có điều họ không nói tượng trưng mà lại nói là Ngộ, là Thiền, là Thần Vận, Tính Linh v.v... Vì vậy không lạ gì Bích Khê đến với thơ mới bằng con đường tượng trưng. Thoạt nhìn cứ ngỡ là anh bị ảnh hưởng trực tiếp trường phái tượng trưng Pháp, nhưng có đi sâu vào thơ anh mới thấy anh chỉ mượn cái xác của Tây để rồi tái sinh bằng cái hồn, cái sống của tinh thần Đông Phương hay của Việt Nam có lẽ đúng hơn:
Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng
Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng
(Duy Tân)
Buồn lưu cây đào xin hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm Đông quân
(Tỳ Bà)
Tinh thần Đông Phương ấy thể hiện đầy dẫy trong Tinh Huyết, nói chi đến Tinh Hoa thì hoàn toàn là thứ tượng trưng thuần Đông, thuần Việt, và cũng vì vậy nó mang tính chất là thơ Thuần túy hơn tượng trưng, tiêu biểu là hai bài Ngũ Hành Sơn. Xin miễn trích dẫn dài dòng để còn được đề cập đến một điểm nữa là khả năng lao động thơ của Bích Khê, mà trước đây ít người nói đến.
Trong vòng chỉ có ba tháng mà hoàn thành tác phẩm thơ như Tinh Huyết, dù không vĩ đại cũng phải nói là một kỳ công. Và tác dụng của nó như một quả bom nổ giữa làng thơ Việt, khiến ai cũng ngạc nhiên, Hàn Mặc Tử đã trân trọng giới thiệu với sự ca tụng hết lời.
Đã hay sáng tác cần phải có thiên tài, nhưng thiên tài không chưa đủ để thành tác phẩm mà còn phải có nhân lực.
Đến như Newton còn phải nói: thiên tài chỉ là sự nhẫn nại kham khổ lâu dài. Trong địa hạt văn học phần nhân lực lại còn quan trọng hơn. Câu chuyện một bước thành thơ hay uống một đấu rượu hoàn thành trăm bài thơ khó mà có thật, hay nếu có cũng chỉ là tình cờ cọng với bao nhiêu công phu tu dưỡng từ trước mà thôi. Hẳn ai cũng biết muốn thành thơ là phải có cảm hứng (inspiration), đúng ra phải gọi đó là nguồn linh cảm, nó thường bột phát ngoài ý liệu của tác giả nên thành tựu rất mau. Người xưa cho đó là sự khai thị của thần linh, nhưng theo các nhà tâm lý học hiện đại thì linh cảm là những gì đã được thai nghén uẩn nhưỡng trong tâm tư rồi đột nhiên hiện ra đấy thôi. Hiện tượng thai nghén phải có thời gian để cho tiềm thức hoạt động, đến khi nào ý thức buông xả là lúc ý tưởng hình ảnh dễ dàng xuất hiện. Ý thức buông xả là trực giác thì chữ thơ tuôn trào, thế nhưng chưa phải là tác phẩm đã hoàn thành, chẳng qua chỉ mới là những phác thảo như đứa trẻ sơ sinh vừa lọt lòng mẹ, còn phải gỡ nhau, cắt rún, tắm rửa, nuôi dưỡng v.v... rồi mới ra người. Nói rõ là còn phải tôi luyện sửa chữa càng nhiều bấy nhiêu. Loại thơ bình thường còn phải thế, huống chi là nhà thơ có tầm vóc thì khi sáng tạo một phác thảo rồi sau đó phải tính toán tỉ mỉ như nhà luyện kim thuật, nhà toán học, kiến trúc sư, chữ thơ phải được cân nhắc, nghĩa thông dụng, nghĩa ngữ học, nghĩa ẩn tàng và những hình ảnh đưa ra phải mới lạ, lại còn phải chú trọng đến âm điệu chất nhạc...
Trăng có đôi : rưng rưng ánh ngọc
Mùa rất cao : đẹp xuống anh hoa
(Lên Kim Tinh)
Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc
Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương
(Nàng bước tới)
Nhìn chung là công việc rất nhiêu khê, thế mà thay vì hứa hẹn sáu tháng, chỉ trong ba tháng Bích Khê đã hoàn thành tập Tinh Huyết với số lượng 50 bài, mà bài có ngắn đâu. Thật đúng như tên tác phẩm, nó là máu lệ, tinh tủy của tác giả cơ hồ như đã trút hết vào đó. Tiếc rằng hằng ngày chúng ta chẳng còn một bản thảo nào của Bích Khê, tuy nhiên cứ nhìn vào tác phẩm, hay chịu khó đọc lại toàn bộ tác phẩm của Bích Khê, hẳn cũng thấy được anh đã phải làm việc như thế nào... Đã hay trong Tinh Huyết cũng còn những khuyết điểm, nhưng cũng chỉ là sơ sót nhỏ. Trong thời điểm 1939 và cho đến ngày nay nữa tập thơ Tinh Huyết vẫn là một kỳ công. Phải chăng vì dốc hết tâm lực, hay nói theo danh từ ngày nay Bích Khê đã lao động quá mức, nên đã hoàn thành được Tinh Huyết thì anh cũng ngã bệnh lao. Thật là một đời đã cống hiến và dâng trọn cho nghệ thuật. Tinh Hoa là tác phẩm của cơn bệnh đã đi vào giai đoạn trầm kha.
Có một điều hơi lạ, là ngày rời khỏi cõi thế để đi về chốn vĩnh hằng của Bích Khê sao giống hệt Rimbaud, là cả hai cũng thấy trước giây phút ra đi của mình, cũng dọn mình, cũng sửa soạn cho một cuộc hành trình bất tử.
Thật là :
Châu vỡ thiên tài lai láng cả
Chết rồi khí phách của tôi đâu ?
Khí phách đó gởi trọn trong Tinh Huyết, Tinh Hoa hay phó thác hết cho hậu thế chúng ta.
10/2003
Nguồn:
Đăng báo nào? Số? ngày tháng năm?
“TINH HUYẾT”' CỦA BÍCH KHÊ VÀ GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN THỨ HAI CỦA THƠ MỚI
Lại Nguyên Ân
1. Trong số các tác phẩm của Bích Khê, tập thơ Tinh huyết hiển nhiên là tác phẩm được biết đến rộng rãi hơn cả, giản dị là vì đây có lẽ là tác phẩm duy nhất của nhà thơ này được in thành sách ngay sinh thời tác giả, trong khi những tác phẩm còn lại phải chịu khoảng thời gian nằm trong im lặng khá lâu (tính bằng hàng mấy chục năm) mới đến được công chúng, và đến công chúng chỉ với tư cách là những di cảo.
Điều này cũng có nghĩa là, nếu muốn luận bàn về ảnh hưởng của thơ Bích Khê đến phong trào thơ mới đương thời, hiển nhiên phải tập trung chú ý vào tập thơ này.
Đã có những nhận xét, theo đó tập thơ Tinh hoa còn hay hơn, sâu sắc hơn, có giá trị hơn so với Tinh huyết; nhận xét này có thể là đề tài thảo luận riêng. Nhưng một điều khác trực tiếp có can hệ đến những gì sắp bàn trong bài này lại là một vài băn khoăn về ranh giới giữa Tinh huyết và Tinh hoa. Là vì trong các dạng công bố mà người ta được biết (Tinh huyết trong sách in 1939; Tinh huyết và Tinh hoa trong bản in Thơ Bích Khê, Nghĩa Bình 1988; Tinh hoa trong bản in ở Nhà xuất bản Hội nhà văn 1997), có một tình trạng là ranh giới giữa hai tập không thật rành rẽ, một số bài thơ đã có trong Tinh huyết (bản in 1939) lại xuất hiện trong Tinh hoa (bản Nghĩa Bình 1988 và bản HNV 1997), và khi cả hai tập thơ cùng in trong một cuốn sách (bản Nghĩa Bình 1988) thì đến lượt hình hài tập Tinh huyết cũng bị hư hao đáng kể so với chính mình ở bản in 50 năm trước. Vậy thì đâu là Tinh hoa, đâu là Tinh huyết? Chẳng lẽ trong Tinh huyết lại đã có một phần Tinh hoa và trong Tinh hoa vẫn cứ bao gồm một phần Tinh huyết?Tình trạng này hẳn chỉ có thể được giải quyết bởi những người nắm được di cảo của tác giả, tức là những thân nhân của nhà thơ; và chúng ta cùng hy vọng việc này sẽ được giải quyết ngay trong dịp hội thảo này.
Về phía người nghiên cứu, cho đến tận lúc này, có lẽ không có cách nào khác hợp lý hơn là tiếp tục coi bản in 1939 là bản chính thức của tập thơ Tinh huyết.
2. Như số khá đông trong các giới sáng tác và phê bình nghiên cứu đã nhận xét, tập Tinh huyết tiêu biểu cho nỗ lực của Bích Khê trên hướng “cập nhật” một số đặc tính của văn hoá thi ca Âu Tây đương thời vào thơ tiếng Việt (khác với Tinh hoa là từ bỏ những thể nghiệm “Âu hoá” ấy để trở về khai thác các đặc tính thi ca Đông phương). Nói rõ hơn, ở Tinh huyết có thể thấy một vài đặc điểm của chủ nghĩa hiện đại Âu châu (modernisme), rõ nhất là những biểu hiện tượng trưng, siêu thực, trong cách cảm nhận và thể hiện của nhà thơ.
Trong Tinh huyết bộc lộ một xu hướng khá gần gũi với các nhà thơ tượng trưng Pháp (như Baudelaire, Verlaine): xem trọng vai trò của trực giác và vô thức trong sáng tác nghệ thuật. Lối sáng tác của khá nhiều bài trong Tinh huyết là lối sáng tác tượng trưng, thường dựa vào liên tưởng, cuồng tưởng, ám thị, trực giác, thường thể hiện những cảm quan phi thực tại, siêu thực tại, và hiển hiện ra trong những dòng thơ đầy nhạc tính.
Tất nhiên điều vừa nói trên đây không phải đặc điểm bao trùm toàn bộ các bài của Tinh huyết; trong tập vẫn có một loạt bài truyền đạt cảm quan thực tại cổ điển, ví dụ có thể kể tên các bài Tỳ bà, Ảnh ấy, Thi vị, Cuối thu, Cùng một cô đào hát bộ, Quả măng cụt…Nhưng nếu tiếp tục kể thêm nữa mong kéo dài danh mục này, hẳn sẽ phải do dự, vì nhiều trường hợp tác giả khởi đầu từ cảm quan thực tại cổ điển (hoặc xúc cảm lãng mạn duy lý), nhưng rồi những liên tưởng rồi cuồng tưởng dấy lên, đẩy đưa xúc cảm của ông sang miền của huyễn tưởng phi thực tại. Ta thử xem bài Cùng một cô đào hát bộ chẳng hạn. Bài này tuy nằm trong phần II mang tiêu đề chung là Đẹp và Dâm, nhưng hầu như toàn bài này lại là lời diễn tả khá thật thà một xúc cảm hoàn toàn thực ở tác giả về diễn xuất của một đào nương. Xin lưu ý khổ thơ cuối cùng:
Mặt cô buồn quá ! - tôi yêu quá!
Nghệ thuật tràn ra giữa bể đêm.
Tôi chợt ôm cô trong giấc mộng
Nút bao thanh khí, đã nư thèm.
Hai câu trên vẫn còn ở trong địa hạt thực tại, hai câu dưới đã sang địa hạt tưởng tượng, và ít nhiều là cuồng tưởng nữa, vì tác giả không chỉ mơ tưởng được ôm được hôn cô đào hát bộ, mà còn “nút bao thanh khí” nữa. “Nút”, một từ đã hơi cổ, không thông dụng ở đàng ngoài nữa nên trở thành phương ngữ miền trong, nghĩa nó là “mút”,“hút”, như “hút mật” có thể nói là “nút mật”(đây là căn cứ theo cuốn từ điển cách nay trên một trăm năm của Huình Tịnh Paulus Của). Nhưng “nút bao thanh khí” hay “hút bao thanh khí” lại là một sự việc ít nhiều trừu tượng, vì “thanh khí” không phải là “thanh” và “khí” mà điều muốn nói tới có lẽ là một phẩm chất nào đó đối với thi nhân là tuyệt vời, có thể được hình dung (đương nhiên là theo kiểu tượng trưng) như bầu khí trong trẻo thanh sạch. Hoá ra “nút”(= hút) lại là hành vi bày tỏ sự trìu mến: trìu mến đối với cô đào và thực ra là đối với cái nghệ thuật đẹp đẽ mà cô trình diễn đã khiến nhà thơ cảm động sâu sắc. Một cách trìu mến phải nói là lạ lùng.
Ở trên vừa nêu nhận xét về lối sáng tác thường được vận dụng khá nhiều trong Tinh huyết, theo đó tác giả dựa vào liên tưởng, trực giác, vào ám thị, cuồng tưởng, đẩy xúc cảm từ thực sang phi thực, siêu thực tại. Nhưng cũng cần chú ý đến cái đối tượng mà các bài thơ kiểu ấy của Bích Khê thường nhắm vào thể hiện. Tôi nghĩ một trong những “đề tài” chủ yếu của tác giả Tinh huyết là con người, là thân xác người, là giá trị người. Có thể nói tới cảm quan nhân bản như một nét đặc sắc của thơ Bích Khê, và về mặt này dường như khó có nhà “thơ mới” nào vượt nổi ông. Nhiều người đọc Bích Khê thường chỉ nhớ việc nhà thơ vừa khắc hoạ vừa rúng động trước thân thể những mỹ nữ, Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?/Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?… Quả là Bích Khê không chỉ có một bài thơ về vẻ đẹp phụ nữ, không chỉ một lần dùng thơ vẽ ra “tranh loã thể”; ông là nhà thơ ca tụng vẻ đẹp thân thể phụ nữ.
Ôi đi! đoàn tiên lột khoả thân
Hoan hô xác thịt chiếm ngôi thần
Nhưng ta không nên quên là Bích Khê còn có những bài thơ hoặc hàng loạt đoạn thơ về từng phần của thân thể con người nói chung, không nhất thiết là phụ nữ: bàn chân, hộp sọ, cặp mắt, trái tim, cặp lông mày, cặp đùi, cặp vú… Có khi ông thể hiện tiếp cận mới này bằng thao tác thơ vịnh quen thuộc:
Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng!
Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương!
Ôi bình vàng ôi chén ngọc đầy hương
...
Ôi! sọ người! sọ người! gương phép tắc!
(Sọ người)
Ô cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm!
…Một bàn chân ve vuốt một bàn chân!
(Bàn chân)
Ôi! cặp mắt của người trong tợ ngọc
Sáng như gươm và chấp choá kim cương!
(Cặp mắt)
Hãy nhớ rằng nhà thơ mỗi lần nói tới một bộ phận thân thể thì mỗi lần ấy, cái được nói tới luôn luôn là những bộ phận của thân thể sống. Ở Tinh huyết, những “mặt tươi”, những “môi son”, những “vú nõn”, v.v… hiển nhiên đều được tiếp cận như vậy, nhưng không gây cảm giác lạ, có lẽ vì đó là những bộ phận ở mặt ngoài thân thể. Đối với cái sọ, cũng thao tác “cắt riêng” như thế (gọi bằng cái sọ tức là chỉ vào phần chìm khuất sau lớp da thịt tóc tai) lại dễ tạo cảm giác lạ, đôi khi cả cảm giác nhờm tởm (như gợi nghĩ tới cái sọ đang phân huỷ). Thật ra ở Tinh huyết, cái sọ không phải cái đầu lâu dưới huyệt mà là phần sống động gắn liền trên thân người, có điều con mắt mơ của thi sĩ đã hình dung nó ra sao đó (chẳng hạn, ngầm gắn nó với năng lực tư duy của con người?) nên thi sĩ có thể lên giọng ca tụng nó như khối mộng, như buồng xuân, như hồ nguyệt...
Có thể nói phần thân thể người hấp dẫn đến mức ám ảnh hồn thơ Bích Khê chính là cặp mắt. Tôi nghĩ ai đó (người viết những dòng này chưa kịp làm) có thể dùng thống kê để thấy hình ảnh con mắt, cặp mắt người, nhất là cặp mắt mỹ nhân, hiện diện thường trực ra sao trong thơ Bích Khê.
Trong cả bài thơ dài nhan đề Châu, một trong những cái mà hồn thơ tác giả dõi theo, dò hỏi, - chính là đôi mắt:
- Hỡi đôi mắt! nơi ngươi là ngọc thạch
……………………………………………
Ngươi là ai? Ngươi hỡi! Ngươi là ai?
Ở trường hợp này nhà thơ không áp dụng kiểu thơ vịnh sử vịnh vật xưa cũ, trái lại, ông lúc thì trầm tư lúc lại tự ngập chìm vào trạng huống mê loạn để làm hiện ra những ảo cảnh, nơi mà mọi sự vật đều ở trong một trạng thái gần như tan loãng, quay cuồng, các phần thân thể con người chuyển hoá, biến động một cách siêu thực tại:
Nhạc khiêu vũ đâu đây lan sóng múa
Tôi tưởng chừng…da thịt biến ra thơm
Những đầu lâu rã hết khí xanh rờn
Những xiêm áo bay rờn trong cảnh mộng
Cả địa ngục đi vào trăm lỗ hổng
Bắn tinh ra trộn trạo giữa nguồn hương
(Châu, III)
Bài Châu là bài cuối của phần cuối Tinh huyết (phần này mang tên Cuồng và Ánh sáng). Có thể tìm thấy ở bài này khá nhiều nét siêu thực và tượng trưng trong xúc cảm và sự thể hiện của tác giả.
Bản thân từ “châu” đã khá đa nghĩa (đây cũng là từ mà ở miền ngoài ít thông dụng hơn so với ở miền trong), ngoài những hàm nghĩa ít liên quan nên ta có thể tạm thời loại ra (những từ “châu” đồng âm, trỏ một vùng đất lớn, hoặc trỏ một hòn đảo, một doi đất, bãi đất…); còn lại, các từ “châu” trỏ hạt ngọc trai, trỏ dòng nước mắt, trỏ tính chất quý giá… vốn đã không thật tách bạch nhau. Ở bài thơ này của Bích Khê, có thể cảm thấy “châu” như một tinh chất quý báu, một chất thể biến hoá, như trạng thái chung cục của những biến hoá. “Cặp mắt say thơ mộng” có thể “dần biến ra châu trắng mịn mà”; đôi mắt đẹp trên pho tượng mỹ nhân có thể “biến ra châu nguyên vẹn cốt thiên đàng”… Cho đến người nữ không rõ hình hài mà nhà thơ yêu mến “Em đã là châu lệ cũng châu”, và chính tiếng nói của nhà thơ “Tôi chết rồi tiếng nói như châu”. “Thơ tôi” (đây là nhân vật trữ tình trong thơ Bích Khê tự xưng) vừa “lưu luyến giữa dòng châu”, vừa có thể được “tượng hình bằng châu bằng lệ”… Nhưng “châu” còn như chất thể đã tiết xuất ra, đã ứa trào ra, từ những gãy đổ, từ những rạn vỡ:
- Châu vỡ Thiên Tài lai láng cả
Chết rồi! khí phách của tôi đâu?
- Say mức say mơ say mất mây
- Thần châu tôi xuất phút này đây
- Mau lên! Tinh tuý ngàn muôn triệu
- Thế giới - hư linh - hiệp lại nầy
Qua suốt các đoạn của toàn bài Châu, có thể thấy hồn thơ tác giả như một nhân vật chu du trong thế giới ảo cảnh, dõi theo một đối tượng khi ẩn khi hiện, tha thiết muốn trò chuyện với nó, đối tượng đó là đôi mắt:
Tôi đã hôn lên đôi mắt thơ
Rồi mang đôi mắt ở trong mơ
Giờ đôi mắt hiện xanh như ngọc
Ám ảnh hồn tôi đến ngất ngư
Cuộc rượt đuổi của thi nhân với cặp mắt tạo thành một thứ gần như hành động, gần như kịch tính cho cả bài Châu. Mỗi khi cặp mắt hiện hình là Toàn thân tôi rởn ốc/ Cả linh hồn óc não phổi tim gan... Thi nhân muốn hỏi đôi mắt ấy thật nhiều thật nhiều:
Hỡi đôi mắt! hồ thuỷ tinh trong suốt
Soi trần gian địa ngục vạn đời ma
Hãy nói tên thần bí của muôn hoa
Hãy kể hết nhiệm màu muôn thế giới
Những bí quyết khi nhạc lên vời vợi
Những thơm ngào phối hiệp giữa trăng sao
...
Người là ai?người hỡi !người là ai?
- Nhưng đôi mắt lờ lặng và mê say
Nhìn đắm đuối không một lời náo nức
Sau nhiều lần sáp lại và bị lẩn tránh, cuối cùng, thi nhân dốc hết tâm nguyện, và ông đã nhận được lời đáp từ cặp mắt:
- Hỡi đôi mắt! ngươi hãy hiện trên tay
Cho lòng ta ấp yêu nguồn suối lệ
Hồn ta say trong nhạc vàng kể lể
Tình ta dâng trong gợn sóng thu ba
Cả máu đào tuỷ trắng với xương ma
Cùng tinh loãng và bao nhiêu bảo vật
Để xây đắp bàn thờ cao chất ngất
Lút mây xanh và lút cả thiên thai
Ngươi là ai? Ngươi hỡi! Ngươi là ai?
-- Bỗng đôi mắt rưng rưng dường rớm khóc
Nhưng cười nụ trong màu hoa ánh ngọc:
-- Ta là CHÂU ! Thi sĩ ! Ta là CHÂU !
Độ căng mang đôi chút kịch tính, đến đây được giải toả. Nhưng hàm nghĩa “châu” đã không nhờ đó mà trở nên dễ hiểu hơn. “Châu” như ý niệm chất thể, như ý niệm giá trị, vẫn mờ nhoè trong những liên hội mà trực giác chỉ soi rọi từng lúc ít ỏi. Tuy vậy, hiệu quả gây ám ảnh của nghệ thuật thơ không vì thế mà suy giảm. “Châu” chính là một hình ảnh được láy đi láy lại như mô-típ chủ đạo (leitmotiv) của toàn bài và do đó là một tượng trưng. Một tượng trưng với hàm nghĩa nhân bản phổ quát.
3. Như đã nêu ở nhan đề bài này, tập thơ Tinh huyết (in xong lần đầu vào tháng 12/1939 tại Hà Nội, sau đó được phát hành rộng rãi) có thể được xem như điểm đánh dấu hai giai đoạn phát triển của phong trào thơ mới 1932-1945. Một số cây bút ở Hà Nội từng tham gia phong trào thơ mới như Vũ Hoàng Địch, Đông Hoài… đã nói cho tôi biết nhận xét này của họ, và từ việc xem xét cứ liệu cụ thể, tôi cũng đi tới nhận định như vậy.
Nếu mô tả thật khái quát tiến trình thơ mới, có thể tóm gọn nó trong hai giai đoạn: giai đoạn đầu với vai trò chủ đạo của những nhà thơ mới của (hoặc gắn với) nhóm Tự Lực Văn Đoàn như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận… mà nét nổi bật chung về khuynh hướng nghệ thuật là thơ trữ tình lãng mạn duy lý; giai đoạn sau với uy tín của Hàn Mặc Tử, Bích Khê… và “trường thơ loạn” của họ mà dấu ấn rõ rệt về khuynh hướng sáng tác là sự xuất hiện những đặc điểm tiền hiện đại chủ nghĩa hoặc hiện đại chủ nghĩa như tượng trưng, siêu thực, suy đồi, tiền phong (tất nhiên ở giai đoạn sau còn có khuynh hướng trở về với nguồn thơ phương Đông, nhưng ở một vài hiện tượng tiêu biểu của khuynh hướng này như Xuân Thu Nhã Tập, người ta vẫn thấy những nét của tinh thần tiền phong, tức là tinh thần hiện đại chủ nghĩa).
Cần phải nói thêm rằng, sớm hơn Bích Khê vài ba năm, vào năm 1936, người sẽ là đại diện số một của “trường thơ loạn” là Hàn Mặc Tử đã công bố tập thơ Gái quê, nhưng tập thơ này vẫn chưa cho thấy tác giả của nó đã đi sang phạm vi tượng trưng, siêu thực; vào năm 1937, một đại diện khác, cũng đích thực của “trường thơ loạn” là Chế Lan Viên, đã trình làng tập thơ Điêu tàn (cũng in tại Hà Nội) mà bài tự đề tựa chính là tuyên ngôn của “trường thơ loạn”. Nhưng Điêu tàn ra mắt chỉ khiến làng thơ đương thời ở đất Bắc thấy “như một niềm kinh dị”(đây là mượn lời diễn tả của Hoài Thanh) chứ chưa tìm được tri âm tri kỷ. Là vì khi ấy làng thơ đất Bắc vẫn còn đang tiếp tục dành nhiều ngưỡng mộ cho các thi gia xuất hiện trên các cơ quan của nhóm Tự Lực (các tờ Phong hoá, Ngày nay). Tập Thơ thơ của Xuân Diệu in thành sách năm 1938, tập Lửa thiêng in thành sách năm 1940 nhưng khá nhiều bài trong các tập này đã đến với người đọc từ dăm ba năm trước đó, chủ yếu cũng trên các ấn phẩm của nhóm Tự Lực. Sang thập niên 1940, hoạt động văn nghệ của nhóm Tự Lực sút kém rõ rệt; kiểu thơ của các thi gia gắn với Tự Lực cũng kém dần sức hấp dẫn trong con mắt những người cầm bút trẻ. Đến lúc này, người ta lưu ý nhiều hơn đến những tìm tòi kiểu khác cho thơ tiếng Việt. Tập Tinh huyết vì vậy là một trong những ví dụ hiếm hoi đáp ứng tâm thế ấy của giới sáng tác trẻ đất Bắc.
Có thể tìm thấy ảnh hưởng của “trường thơ loạn” trong sáng tác của một loạt cây bút thơ ở Hà Nội những năm 1940-46 như Hoàng Lộc (Từ tịch dương đến bình minh), Đông Hoài (Giác linh hương), Đinh Hùng (Mê hồn ca) và nhóm Dạ đài (Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch… ). Trừ Từ tịch dương đến bình minh của Hoàng Lộc hiện chưa tìm lại được văn bản nên về xu hướng của nó buộc phải dựa vào nhận định của các nhân chứng (dựa vào Vũ Hoàng Địch, Đông Hoài); ngoài ra các trường hợp khác đều có văn bản tác phẩm để xem xét.
Nhìn chung, trong sáng tác, các cây bút này đều xem trọng những gì như bất giác đến từ trực giác, từ vô thức; họ thích thác lời những linh hồn của thế giới bên kia hoặc thích chuyện trò với chúng; ý niệm thực tại ở họ như gồm cả cõi sống lẫn cõi chết và cái được nói đến nhiều hơn lại là cõi chết; ở sáng tác của họ đôi khi cũng thấy cảm hứng đập phá của phái tiền phong; họ cũng chú trọng sáng tạo nhạc tính của ngôn từ thơ ca.
Đông Hoài phác vẽ một thứ Ngẫu tượng siêu luân:
Sặc sụa hương nào thơm xác ma
Lòng đi âm phủ bước dương tà
Đầu lâu ghé miệng hôn yêu dấu
Cổ mộ hoa lầu quỷ hát ca
Trần Mai Châu ở bài Theo bóng tửthần trở lại một đêm tàn sát nào đó từ cổ đại trung đại:
Trăng ơi! trở lại đêm tàn sát
Này ánh tà dương khóc bạo Tần
Em có buồn không, giờ tử nạn
Ta cười ghi lại nét phù vân
Nửa đêm sao biếc về trong mộ
Mừng cuộc hồi sinh hiện giữa trần
Trong bài Về nẻo thanh tuyền, Trần Dần thác lời hồn ma một kẻ từng có uy quyền trên thế gian nay đã mất hình hài nằm dưới thuỷ cung vẫn đe doạ đòi lại những gì đã mất:
…Hồn ta mất mảnh thi hài
Về trên thế tục ta đòi cố đô
…Tiếng ta than động trăng mờ
Từng đêm ta gọi lá cờ Nữ Vương
…………
Nếu mấy sáng tác lẻ tẻ của Trần Dần, Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu, Nguyễn Văn Tậu in trong Dạ đài số 1 chưa thể minh chứng đáng kể cho những điều họ nói trong Bản tuyên ngôn tượng trưng (cũng in trong Dạ đài số 1), thì tinh thần của bản tuyên ngôn ấy lại được bộc lộ rõ hơn trong tập Mê hồn ca của Đinh Hùng. Tập thơ này mãi đến 1954 mới in thành sách, nhưng hiển nhiên đây là thơ của thời kỳ 1944-46 mà một số bài đã đăng tải ngay những năm ấy (ví dụ bài đăng ở Dạ đài số 1).
Như tên gọi của nó, đây là những khúc “mê hồn”, “lạc hồn”, những bài ca của một linh hồn chu du dấn bước vào những miền lạ, hoặc thử làm lạ miền đất quen, chẳng hạn thử vào vai “người rừng”, bước về “đô thị” để thấy “Ôi ngơ ngác một lũ người vong bản / Mất tinh thần từ những thưở xa xôi”, để thấy mình bị xa lánh và trở nên xa lạ, rốt cuộc ra tay tàn phá đình tạ thành quách rồi trở lại núi rừng, trở lại cuộc sống hoang dã: “Từng buổi hoàng hôn xuống lạ kỳ / Ta nằm trên cỏ lắng tai nghe… / Thèm ăn một chút hoa hoang dại / Rồi ngủ như loài muông thú kia”. Dĩ nhiên linh hồn ấy cũng dấn bước vào tình yêu, vào thế giới những “kỳ nữ”, những “người gái thiên nhiên”… Nhưng đáng nói hơn là linh hồn ấy hướng về trò chuyện với người gái dưới mộ, dõi tìm bóng dáng tử thần… Linh hồn ấy như thuộc về cả cõi sống lẫn cõi chết, thuộc về cả hiện tại lẫn các thời đại xa xưa… “Ai tìm ta đó trong đêm loạn? / Có gặp Thơ về, Nhạc hiển linh?/ Ta gọi thiên tai, cười mệnh số”…
Trong những lời ca lạc hồn ấy đôi khi vang lên những lời như toan nói tiên tri: “Thế kỷ thanh bình nức nở qua / Ta nhìn nhau khóc tuổi trăng già…”, hoặc: “Thời đại Hoàng Kim đã phục hồi / Ta mừng Bạo Chúa sắp lên ngôi / Tìm thơ vương giả, xuân lưu huyết…” Thế giới mê hồn là cõi trời loạn, là cõi hỗn độn, là nơi tử sinh chuyển hoá: “Bừng mắt dậy, lửa hồi sinh đỏ rực / Thịt xương về trong cổ mộ xôn xao / Hoả thiêu rồi! Làn tử khí lên cao / Chiều tái tạo bâng khuâng từng ngọn cỏ…”. Những đổ vỡ mà linh hồn này cảm thấy ở đây là những đổ vỡ vũ trụ: “Trời lâm nạn, thôi! hành tinh tan vỡ!/ …/ Chúng ta khóc như một bầy thú dữ / Lòng dã man nghe trái đất tan tành”.
Mặc dầu cũng hướng tới một thế giới siêu thực tại như tác giả Tinh huyết, nhưng ở Đinh Hùng và các thi gia Hà Nội kể trên, cõi siêu thực tại dường như vẫn bị viền khung bởi ý thức duy lý của những cái tôi tác giả. Có vẻ như cái tiếng Việt xứ Bắc quá sáng rõ, cái câu thơ lục bát, câu thơ bảy chữ hoặc tám chữ quá đều đặn đã phản lại tâm thế điên rồ của họ, phản lại bước chân mê cuồng của họ. Thi nhân như là vẫn luôn ở bờ bên này tuy biết có bờ cõi siêu thực tại bên kia; họ hầu như chưa mấy khi nhập hồn mình được hoàn toàn sang đó như Hàn Mặc Tử đã làm được thường xuyên trong Thơ điên (Đau thương), Chơi giữa mùa trăng, Bích Khê đã làm được khá thường xuyên trong Tinh huyết, Chế Lan Viên đã làm được ít nhiều trong Điêu tàn.
Dầu sao những hiện tượng trên đây ở giới làm thơ ngoài Bắc đầu những năm 1940 vẫn cho thấy những tìm tòi của “trường thơ loạn” miền Trung giữa những năm 1930 là bước đi hữu lý trên hướng cập nhật hoá những tìm tòi của thi ca thế giới đương đại vào thi ca tiếng Việt. Họ không trực tiếp chịu ảnh hưởng cụ thể của một ai đó trong “trường thơ loạn”; đơn giản là họ thấy ở những Tinh huyết, Điêu tàn, Đau thương (Thơ điên)… một hướng sáng tác khả thi, hứa hẹn đem lại cái mới vào thơ tiếng Việt. Một số kết quả sáng tác quá ít ỏi của họ trong thời gian quá ngắn ngủi, chưa in thành dấu vết đáng kể vào thành tựu phát triển của thơ ca tiếng Việt. Tuy vậy, thể nghiệm sáng tạo của họ cũng như của các tác gia “trường thơ loạn” cho thấy đây là một hướng có thể trông cậy được nhằm đưa thơ tiếng Việt vượt qua thời đại những mẫu mực của thơ mới lãng mạn duy lý.
Hà Nội, tháng 1/2005
Nguồn:
Tạp chí Thơ (Hội Nhà văn Việt Nam), s. 1/2006
BÍCH KHÊ - 'THI SĨ THẦN LINH', THƠ 'LÕA THỂ'
Phạm Xuân Nguyên
1. Xác thịt lên ngôi thần
Nàng Thơ của Bích Khê là một người “đẹp và dâm”. Chân dung nàng luôn được thi nhân trình bày ở dạng lõa thể, khỏa thân. Nhìn vào đó ta thấy Nàng đẹp.
Đẹp một cách tổng quát:
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi [1]
(Lõa thể)
Đẹp ở “cặp đùi non, một vẻ tơ mơ một vẻ ngon”.
Đẹp ở cặp mắt “xanh tợ ngọc”, “đa tình ngời sắc kiếm”, “kho tàng muôn châu báu”. Bích Khê thấy Hai mắt ấy chói hào quang sáng ngợp / Dẫn ta vào thế giới thiêng liêng. Đó là ánh sáng soi đường thơ cho nhà thơ. Cặp mắt và bầu vú là hai ám ảnh thơ của Bích Khê, xuất phát từ cách nhìn lõa thể thơ của ông.
Đẹp ở đôi bầu vú:
Những vú nõn: đồi cong thon, nho nhỏ
Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh
(Sắc đẹp)
Vẻ chi mãnh liệt nhưng êm ái
Trong cặp tuyết lê ướm dậy thì
(Châu)
Bích Khê nói nhiều đến đôi vú Người Nữ, của Nàng Thơ. Vì với ông đó là nguồn thơ. Ông làm thơ tức là ông “nút” vú, “nút” tinh chất của Người Nữ, của Nàng Thơ, là tìm chất quý thơm tinh mùi khoái lạc. Động từ “nút” của tiếng địa phương miền Trung được dùng nhiều trong thơ Bích Khê là liên quan đến cảm hứng cảm xúc này của nhà thơ. Thêm một trạng từ địa phương nữa thường được dùng đi cùng động từ này - “nư”. Nút cho nư, đã nư, tức là nút đến no nê, tràn đầy, thỏa mãn. (Hàn Mặc Tử cũng hay dùng những từ này).
Với cô gái trong một bức tranh lõa thể:
Hai vú nàng! Hai vú nàng! Chao ôi!
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng
Với “người em lãng mạn” trong một bức ảnh:
Anh tính ôm chầm lấy mắt mơ
Lấy môi lấy má... lấy ngây thơ
Để anh nút ớn mùi hương ấm
Của một tình yêu giận hững hờ
Với “một cô đào hát bộ”:
Tôi chợt ôm cô trong giấc mộng
Nút bao thanh khí, đã nư thèm...
Cả với một cảnh vật mùa xuân Bích Khê cũng “vú hóa” theo cảm hứng này: “Nâng lên núm vú đồi / Sữa trăng nhi nhỉ giọt”. Từ đó mùa xuân mới chảy vào thơ ông thành xuân tượng trưng. (So sánh với Hàn Mặc Tử cũng viết về đồi và trăng: Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ / Đầy mình lốm đốm những hào quang. Hai cách viết thơ khác hẳn nhau, một bên là đi vào liên hệ bên trong, một bên là nhân hóa cảnh tượng bên ngoài).
Đẹp ở da thịt “nức một đường thơm một điệu êm”, tỏa một mùi hương “còn thơm hơn chất xạ”, khiến thi nhân muốn “Cho ta xin trong một tối du dương / Muôn thớ đàn run trên da thịt tuyết”. Da thịt tuyết này còn hiện ra ở tràng cánh trắng của đồ mi hoa, trong khi Đài nộn nhụy hóa nguồn trinh tinh khiết. Và Bích Khê phổ cả cảm hứng nhục thể vào bầu trời khi từ đỉnh Ngũ Hành Sơn nhìn lên:
Có ai biết trên cao
Da trời màu thịt sứa
Da trời se chất sữa
Truyền cảm hứng mênh mông
(Ngũ Hành Sơn - bài hậu)
Đến cả mộng của ông cũng là “mộng lạ”. Các nhà thơ mới hay mộng, mà mộng gặp tiên, gặp người đẹp, chuyện ấy đã thường. Bích Khê cũng mộng, trong mộng cũng gặp các nàng “giai nhân hiện dưới bóng hằng nga” (một motiv quen thuộc, như đã thành một cliché của thơ lãng mạn), rồi cũng tả sắc đẹp của người đẹp ở mắt môi dáng đứng dáng đi. Đột một cái, hai câu kết bài “Mộng lạ”: Ôi đi! Đoàn tiên lột khỏa thân / Hoan hô xác thịt chiếm ngôi thần. Thế là tiên đã thành người trần. Mộng đã thành thực. Thơ tiên đã thành thơ phàm. Ở một bài khác (Hiện hình) trước khi thấy Một người thiếu nữ hiện trong trăng thì thi nhân đã ngửi thấy Thơm tho mùi thịt bắt say ngà! Ông tự nhận Hồn tôi mất cả đồng trinh vì mê luyến những hình thiên nga. Cho nên trong một lần Mơ tiên ông đã những muốn đi cướp mây trời / vén ra cho thấy một vài nường tiên để coi hồn đương say nghiền / đã nư khoái lạc trong miền chiêm bao. Khoái cảm nhục thể của Bích Khê quả là mạnh trong thơ ông. Đến mức một trái cây như trái măng cụt cũng thành ra da thịt người dưới mắt ông, múi mát tợ thịt thơm, và ăn nó như là bú vú vậy, mùi sữa mớm vô răng.
Bích Khê có hẳn một bài thơ đặt tên là Xác thịt:
Tôi vồ người như một miếng mồi ngon
Miệng ngậm hờn riết chặt lấy môi son
Mắt đổ lửa lườm qua làn sóng sắc...
Tôi giật nẩy rồi cười lên sặc sặc
Hai tay cào đôi vú trắng như bông
Hàn Mặc Tử cho rằng đọc những vần thơ ấy “giây thần kinh và gân huyết ta rung động say mê bởi những làn khoái lạc của xác thịt nóng, thơm, ran ran lên cả người”[2].
Như vậy, xác thịt được đặt lên ngôi thần, được đưa vào ngôi chủ thơ. Đó là Bích Khê. Ông “hoan hô” cái sự đó, nghĩa là ông thấy ở đó nên thơ và đáng thơ.
Nàng thơ của Bích Khê hiện hình trong thơ ông qua tên gọi phiếm chỉ những người phụ nữ khác nhau. Duy chỉ có một nàng được ông gọi thẳng tên và nhắc đến nhiều lần với niềm yêu thương, trân trọng. Đó là nàng Xuân Hương.
Ông gặp nàng ở bến sông Ngân:
Ô! Nàng Xuân Hương ngực để trần
Ngâm bài “Vấn nguyệt” tiếng trong ngần
Nhìn xuống nhân gian cười như điên
(Nghê thường)
Ông muốn xuống địa ngục trong cơn ăn mày cảm hứng “Đặng ngủ nhờ một đêm với Xuân Hương”. Ông nằm mộng “Thì mộng: Xuân Hương nường đã đến / Thưa cô, dáng nguyệt tuyết còn vương”.
Và ông có hẳn một bài thơ nhan đề Hồ Xuân Hương mời nàng nữ sĩ về làm vợ mình, gọi bà là người vợ trong thơ. Ông đồng điệu tri âm với nữ sĩ trong loại thơ đặc sắc của bà mà chắc ông muốn học theo: Văn chương quán thế không ai biết/ Trong mộng mình về thưởng với tôi. Xuân Hương trong mắt Bích Khê vẫn mãi đẹp.
Đêm nay nửa gối nghiêng nghiêng mộng
Muôn dặm người xa đã thấy về
Xanh liễu ngoài sân vừa đổi biếc
Màu thi sắc lá đọ dung nghi
Phải chăng Bích Khê thấy ở Hồ Xuân Hương sự đồng điệu với ông trong quan niệm thơ lõa thể - đẹp và dâm? Nàng thơ là người đẹp, nhưng cái đẹp đó phải được thức dậy, được sống động ở nhục thể, ở da thịt, ở ân ái. Có là mộng, là thiên tài, thì cũng phải Trên hỗn độn khỏa thân. Thơ, với Bích Khê, là da thịt biến ra thơm, là Bắn tinh ra trộn trạo giữa nguồn hương khi Cả địa ngục đi vào trăm lỗ hổng, là Hợp tinh khí chảy ra thành chất ngọc. Ông nói thẳng ra những điều Hồ Xuân Hương thể hiện lấp lửng hai mặt. Ông tuyên bố:
Ôi! say khướt mới dào muôn ý tứ
Ôi! điên rồ mới ngợp ánh chiêm bao
Ôi! dâm cuồng mới biết giá trăng sao![3]
Duy tân thơ của Bích Khê, vì thế, là thơ lõa thể.
2. Thơ lõa thể
Sự đậm đặc những hình ảnh, cách nói về thân xác và hoạt động thân xác ở thơ Bích Khê như ta đã thấy không hề là ngẫu nhiên. Bích Khê có lẽ là nhà thơ ‘ca tụng thân xác” say sưa và nồng nhiệt nhất thơ Việt. Có thể có yếu tố phân tâm học bệnh lý của Bích Khê ở đây. Nhưng cái chính, đó là một quan niệm thơ của ông.
Văn học lãng mạn Việt Nam (Tự Lực Văn Đoàn và Thơ Mới) có một đóng góp cách tân lớn là xác lập và đề cao cái đẹp thể chất của con người. “Dâm” trong “đẹp và dâm” của Bích Khê có thể hiểu theo nghĩa này, như những câu thơ, đoạn thơ tôi dẫn ra trên đây đã cho thấy. Nhưng như đã nói, mệnh đề này còn là quan niệm thơ của Bích Khê, và như thế để hiểu rõ nó thì cần đặt nó vào hệ thống của “trường thơ Bình Định”. Hàn Mặc Tử chủ trương thơ Điên. Chế Lan Viên làm thơ Loạn. Thơ Điên, thơ Loạn, “cái gì của nó cũng tột cùng”, “cái gì nó nói đều có cả” (Chế Lan Viên). Bích Khê ở trong môi trường này cũng sẽ làm thơ theo không khí và tinh thần đó. Tập Tinh huyết của Bích Khê là do Hàn Mặc Tử đề tựa sau khi đã “khích” bạn mình sáng tác “đợt hai” và Hàn đã rất ca ngợi đợt sản phẩm mới này của bạn[4]. Tinh huyết có ba phần: Nhạc và lệ, Đẹp và dâm, Cuồng và ánh sáng, nhưng tôi thấy tinh thần của phần giữa là quán xuyến cả tập. Như vậy có thể nói Bích Khê làm thơ Dâm, hiểu theo nghĩa ông phơi mở và đề cao thân thể phụ nữ và các hoạt động thân thể mà ông tụng ca là Đẹp, là Thơ. Giống như thơ Hồ Xuân Hương bị coi là dâm nhưng đó thực là thơ ca ngợi vẻ đẹp cơ thể phụ nữ và đòi quyền sống cho thân xác con người trong tình yêu đôi lứa. Ở đây không cần phải biện hộ gì cho chữ Dâm cả, Bích Khê đã đặt Dâm ngang hàng với Đẹp, và như thế với ông đó là một phạm trù thơ. Tên phạm trù đó, loại thơ đó Bích Khê cũng đã đặt: thơ lõa thể. Và ông tự nguyện hiến mình cho loại thơ này.
Thơ lõa thể! Giai nhân tuần trăng mật
Nữ thần ơi! Ta nô lệ bên người
Điên - Loạn - Dâm, có thể coi đó là đặc trưng của “trường thơ Bình Định” với nghĩa bộc lộ hết mình và tột cùng, cả thể chất và tinh thần, trong cơn sáng tạo quyết liệt. Bởi thế, đọc thơ họ, một nhà phê bình nhạy cảm và tinh tế như Hoài Thanh cũng phần nhiều chịu bó tay. Ông “mệt lả” khi theo Hàn Mặc Tử. Ông thấy Chế Lan Viên là “niềm kinh dị”. Với Bích Khê ông thú nhận là đành “kính nhi viễn chi”. Tất nhiên, phải nói thêm ở đây, mỹ cảm của Hoài Thanh là nằm trọn trong chủ nghĩa lãng mạn, mà các nhà thơ “trường thơ Bình Định” thì ít nhiều đã vượt sang chủ nghĩa tượng trưng.
Thơ lõa thể, đó là hồn và xác. Đó là lãng mạn và tượng trưng. Thơ Mới đến Bích Khê và nhóm thơ Bình Định đã vượt qua những cảm xúc lãng mạn thời kỳ đầu để tiến tới những biểu hiện của tượng trưng, siêu thực về sau. Theo nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu, Thơ Mới Việt Nam (xét dưới góc độ: “Sự tương hợp giữa Thơ Mới và Thơ Pháp trong cuộc giao thoa của hai văn hóa Việt Nam và Pháp nửa đầu thế kỷ XX”) có hai làn sóng. Làn sóng thứ nhất “chịu ảnh hưởng chủ yếu của thơ lãng mạn Pháp nửa đầu thế kỷ XX”. Lớp nhà thơ thuộc làn sóng này viết diễn cảm. Làn sóng thứ hai “chịu tác động sâu sắc của Baudelaire và những nhà thơ tượng trưng chủ nghĩa Pháp”. Lớp nhà thơ của làn sóng này viết diễn đạt cái tương hợp[5]. Bích Khê là nhà thơ mới thuộc làn sóng thứ hai. Đẹp và dâm, vừa là sự đối nghịch, vừa là sự tương hợp. Thơ cũng vậy. Thơ lõa thể của Bích Khê là vậy.
Có hiểu thế ta mới hiểu vì sao bài thơ nhan đề Trái tim của Bích Khê lại kết thúc bằng hai câu thơ có hai gạch đầu dòng, trong đó câu cuối cùng rất gây “sốc” khi mới đọc qua (và có thể là “tục” nữa nếu ai muốn nghĩ thế).
- Yêu bằng mộng là mơ tim sáng láng
- Đây sự thực trần truồng nằm giữa háng!
Hai cái gạch đầu dòng cho phép hiểu hai câu thơ này như một cặp câu đối thoại. Ở đoạn hai của bài thơ đã có cuộc đối thoại của “tôi” với “cô”. Tôi ăn mày chỉ một trái tim thôi / Lạy tứ hướng cô mới chịu cho tôi / Cô vùng vằng là tôi không có thả... Tiếp đó là hai câu độc thoại: Mình say chưa? Mình đã thật say sao / Có lảo đảo, có điên cuồng đấy chứ? Và sau ba câu để trong ngoặc đơn vừa như giải thích, vừa như tuyên ngôn mà tôi đã dẫn ở trên (Ôi! say khướt...) là đến hai câu gạch đầu dòng này kết thúc bài thơ. Có thể hiểu câu Yêu bằng mộng... là lời cô gái chăng, và câu Đây sự thực... là lời “tôi”-chàng trai chăng. Cũng có thể hiểu cả hai câu là hai ý nghĩ vật lộn, đan xen trong tâm trí của ‘tôi” chăng. Hiểu cách gì thì cũng thấy toát lên một ý là Bích Khê trong thơ rất ám ảnh và ám gợi thân xác, nhục thể. Ngay trong bài này đã có câu Đây xác thịt ớn lên vì đã mệt. Đọc kỹ cả bài thơ Trái tim thì thấy đó như không phải nói trái tim, mà nói chuyện thân xác.
Yêu thực là yêu bằng cả tình cảm và nhục thể. Có lẽ đối với Bích Khê thơ đẹp là thơ phải có dâm, là mộng cộng sự thực. Có thể thấy rõ điều này qua một phép so sánh hai bài thơ của Bích Khê và Hàn Mặc Tử, hai người bạn thơ gần gũi thân thiết và có nhiều điểm tương đồng. Cả hai bài cùng viết về đề tài tân hôn, cùng đều bốn khổ. Nhưng cảm hứng thì khác hẳn. Hàn Mặc Tử nghiêng về mộng nhiều hơn, sợ khi đã qua đêm tân hôn rồi thì Không còn ý nhị ban đầu nữa / Sẽ chán chường và sẽ chán chê.
Cho nên tôi tưởng tối tân hôn
Chưa tới, còn xa để được buồn
Để sống trong niềm thương nhớ đã
Để còn mường tượng đến giai nhơn[6]
Một tâm trạng rất lãng mạn chủ nghĩa! Tâm trạng này của Hàn Mặc Tử cũng là của Vũ Hoàng Chương trong bài thơ cũng có tên là Tối tân hôn. Họ Vũ coi đó là sự bắt buộc rời xứ Mộng, là từ thiên giới thanh cao phải quay về hạ giới nhơ bẩn. Tối tân hôn là thời điểm mộng chết.
Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải
Chút thơ ngây còn lại cũng vừa chôn
Khi tỉnh dậy, bùn nhơ nới Hạ giới
Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn[7]
Bích Khê thì khác, ông nhìn thẳng và phơi bày sự thực: Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ / Không hay sao ốm lả hoa tàn... / Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ / Không hay xuân kín vỡ màn trinh... Và thi nhân chúc mừng đôi lứa tân hôn:
Mộng rớt đêm nay như chất ngọc:
Người ta say nghiến những men tình
Tôi hoan hô - phút giây thần diệu
Chết giả nhưng cười trắng thủy tinh
Có ẩn ức tâm lý gì ở đây không, nhưng về thơ thì rất baudelaire! Và cũng như lần đầu hoan hô xác thịt, lần này ông lại hoan hô tối tân hôn. Với ông, những gì liên quan đến nhục thể là đáng ngợi ca và đáng làm thơ.
Hàn Mặc Tử gọi Bích Khê là “thi sĩ thần linh”. Ông cho thơ Bích Khê ở tập Tinh huyết có ba tính cách: 1) Thơ tượng trưng, 2) Thơ huyền diệu, và 3) Thơ trụy lạc. Nhận xét về thơ trụy lạc của bạn mình, Hàn viết: “Ở địa hạt dâm cuồng này, ta thấy thi sĩ Bích Khê hoàn toàn là Baudelaire. Vì trong tác phẩm chàng, gợi dục tình thì ít, mà làm cho người ta ghê rợn đến gớm guốc cái cảnh trần truồng khả ố thì nhiều”[8]. Điều này không hẳn đúng. Loại thơ nhục thể của Bích Khê một mặt, thể hiện niềm khát sống, niềm hoan lạc trần thế của con người nói chung, của chính nhà thơ nói riêng. Mặt khác, Bích Khê đã nâng khoái cảm nhục thể ấy lên thành một nguồn cảm hứng, một mỹ học thơ. Thơ “lõa thể” của ông đọc lên không thấy gợi dục tình theo hướng xấu xa, điều này Hàn Mặc Tử nói đúng, nhưng cũng không hề gợi cảm giác ghê rợn, gớm guốc. Đọc chúng, ta được khoái cảm tổng hợp của sự tương giao âm thanh, màu sắc, hương thơm như một đặc tính cốt yếu của thơ tượng trưng. Tính chất “thần linh” của Bích Khê, nếu có, thì không chỉ ở những bài thơ huyền diệu, siêu thoát, mà ở cả chỗ này nữa: ông nói tục mà thanh, ông nói những điều khó nói mà nói được một cách tự nhiên, thanh thoát. Ta hiểu thêm một lý do nữa vì sao ông thích thú và gần gũi với Hồ Xuân Hương đến vậy. Và ta cũng hiểu vì sao Bích Khê lại gọi Baudelaire là “Vua Thi Sĩ”, vì ông đã học được bao nhiều mùi thi vị ở tác giả Hoa Ác (Les Fleurs du Mal):
Có những mùi hương mát như da thịt trẻ con
Êm nhẹ như tiếng sáo, xanh mướt như cỏ non
Và những mùi hương oanh liệt, phong phú và trụy lạc
- Tỏa khắp không gian như những cái vô hạn, vô cùng
Như nhựa thơm, như xạ, như hương trầm
Hát ca những khoái lạc của tinh thần và thể xác[9]
(Bản dịch của Vũ Đình Liên)
và ông muốn phà hơi lên cho mùi thi vị đó từ Baudelaire truyền nhiễm thấu trần ai (Ăn mày).
Cuối cùng, tất cả tan hòa, khi Nàng bước tới...
Nàng! nàng! nàng! không có nữa châu thân
Xác là mộng mà tình là tuyệt đích
Hỡi không gian! hãy tan ra tiếng địch
Của lòng yêu ca ngợi tuyệt vời cao
Hỡi trần gian! hãy chết ngột trong sao
Cho chân lý ngời ra như lưỡi kiếm
Cho tình ta xô dồn sang cực điểm
Và hào quang khiêu vũ với hào quang...
Thân xác, nhục thể tắm gội trong một tâm hồn mang khí vị thần linh của thi sĩ đã biến thành hào quang lung linh. Thơ lõa thể của Bích Khê đã phát quang như vậy. Và đó là phép thơ riêng của ông. Một phép thơ đã để lại những lời thơ đầy hơi hám, nghĩa là có mùi vị, nghĩa là không bị tiệt trùng, nghĩa là sống, mà Bích Khê tin chắc là tay khách đa tình sẽ chuyển trao. Niềm tin của ông đã thành sự thực. Thơ lõa thể của ông một thời gian dài bị im lặng, nay được đem ra đọc, và còn nói được nhiều điều cho thơ và các nhà thơ hôm nay.
Hà Nội rằm Giêng Bính Tuất (2006)
Nguồn:
- Tham luận Hội thảo Bích Khê và thơ Bích Khê, Quảng Ngãi 2006
- In trong kỷ yếu “Bích Khê, Tinh hoa, Tinh huyết”, Nxb. Hội nhà văn, 2008
Chú thích
[1] Tất cả thơ Bích Khê dẫn trong bài này đều rút từ sách Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm, Nxb Hội Nhà văn, H. 1999, tr. 265 - 346.
[2] Hàn Mặc Tử. Bích Khê, thi sĩ thần linh, in trong sách: Tuyển tập phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam (1900 - 1945), Nxb. Văn Học, 1997, tập IV, tr. 140 - 141. Đây là bài Hàn Mặc Tử viết tựa cho tập Tinh huyết. Điều đáng chú ý là bài thơ Xác thịt này không thấy có trong Tinh huyết in ở sách Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm. Mấy câu thơ trên tôi lấy từ bài của Hàn Mặc Tử.
[3] Trong bài tựa Tinh huyết của Hàn Mặc Tử (Sđd, tr. 142) mấy câu này được dẫn khác:
Có say khươt mới dào muôn tứ ngọc
Có điên rồ mới hớp ý trăng sao
Có dâm cuồng mới dâng cả lên cao
Nơi chu lưu một nguồn thơ bất tuyệt
Theo bản này thì càng thấy rõ ý của Bích Khê hơn.
[4] “Suốt trong một năm 1938, tôi hết sức khích lệ chàng, mong mỏi ở chàng một thi sĩ xuất sắc, cao cường. Cái hy vọng của tôi sốt sắng quá, nóng nảy quá, đã một lần đưa tôi vào sự chán chê và tức bực. Gần cuối năm ấy, chàng gửi ra cho tôi nhiều thơ, mà tôi chẳng lựa được bài nào cả. Tôi gửi trả lại chàng kèm với bức thư mà tôi dùng rất nhiều lời khiêu khích mỉa mai (cốt làm cho chàng tức). Quả nhiên chàng giận run người lên và vội trả lời, thề với tôi rằng: Trong sáu tháng sẽ trở nên một thi sĩ phi thường, bằng không sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến làm thi sĩ nữa. Ngờ đâu sự hằn học của chàng bật nẩy thiên tài của chàng ra. Không đợi đúng sáu tháng, chỉ trong vòng ba tháng thôi, chàng đã viết được một tập thơ, viết bằng máu huyết tinh tủy và châu lệ, và tất cả say sưa, đắm đuối của một hồn thi sĩ” (Hàn Mặc Tử. Bích Khê, thi sĩ thần linh, Sđd, tr. 130 - 131).
[5] Đỗ Đức Hiểu. Đổi mới đọc và bình văn, Nxb Hội Nhà văn, H. 1999, tr. 153 - 154.
[6] Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm, Sđd, tr. 154.
[7] Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm, Sđd, tr. 447.
[8] Hàn Mặc Tử. Bích Khê, thi sĩ thần linh, Sđd, tr. 141.
[9] Il est des parfums frais comme des chairs d'enfants,
Doux comme les hautbois, verts comme les prairies,
- Et d'autres, corrompus, riches et triomphants,
Ayant l'expansion des choses infinies,
Comme l'ambre, le musc, le benjoin et l'encens,
Qui chantent les transports de l'esprit et des sens.
(Correspondances)
BÍCH KHÊ: TỪ “TINH HUYẾT” THẦN DỊ
ĐẾN “TINH HOA” THẦN LINH
Trần Thu Hà
Với Tinh Huyết, “Bích Khê giã từ con sông dù sao cũng vẫn êm ả của thơ cũ, để nhảy vào dòng xoáy của thơ mới”. Bởi trước đó, từ năm 12 tuổi, Bích Khê đã được biết đến với những bài thơ Đường luật khá ấn tượng. Song như đã nói ở trên, cũng như các nhà Thơ Mới khác, vào thời điểm đó, Bích Khê tiếp nhận một cách hào hứng tư duy thơ hiện đại phương Tây. Tuy nhiên, Bích Khê lại mở cho riêng mình một con đường thơ với khát vọng “duy tân” cháy bỏng. Và nếu đọc Tinh Huyết, ta sẽ thấy nhà thơ Chế Lan Viên thật có lý khi nhận xét Bích Khê thực sự là “một đỉnh núi lạ” trong làng Thơ Mới. Và Bích Khê lạ thật.
Chúng ta không bắt gặp trong Tinh Huyết những câu thơ đồng quê “thân thuộc” kiểu Nguyễn Bính như:
Bữa ấy mưa xuân lất phất bay
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy…
Hay những câu thơ “điên loạn” kiểu Hàn Mặc Tử:
Tôi muốn hồn thơ trào lên ngòi bút
Mỗi câu thơ đều dính não cân tôi
Hoặc những câu thơ đầy ắp “mối sầu vạn kỷ” như Huy Cận:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng?
Mà ngạc nhiên bởi những câu thơ xuất thần, lạ lẫm mang màu sắc tượng trưng siêu thực, có vẻ hơi lạnh lùng (nhưng kỳ thực nó hàm chứa nội lực mãnh liệt của người sáng tạo!) của một tư duy nghệ thuật vô cùng mới mẻ:
Người cho ta một thanh gươm rất sắc?
Ô vung lên… cắt mạch nguyệt vàng xanh!
Xẻ mạch trời, - mây xô sao, răng rắc!
Phăng mạch đêm, - hương vỡ, ứa ngầm tinh!
Người cho ta một thanh gươm rất sắc?
- Ta điên rồ… múa giữa áng bình minh.
( Mộng cầm ca )
Tinh Huyết chia làm 4 phần: Nhạc và Lệ, Đẹp và Dâm, Cuồng và Ánh sáng, Châu. Mỗi phần đều cho thấy vẻ “thần dị” trong cách cảm nhận của Bích Khê về đối tượng mà ông hướng tới. Trong Nhạc và Lệ, Bích Khê dường như đắm mình trong suối nhạc của lòng ông. Nhạc chảy ra từ “mộng cầm ca” với sự hòa điệu “hơi thở của hoa hồng mơ mộng”, của “buồn đêm rào rạt”, của “không gian tơ gợn sóng”, “của hồn thu đi lạc ở trong mơ”… khi nhớ về nàng Ngọc Kiều trắng trong, đoản mệnh trong Mộng cầm ca; nhạc vang ngân từ những âm thanh tỳ bà vừa nền nã sang trọng, vừa réo rắt buồn thương trong bài thơ Tỳ bà trên nền những thanh ngang, thanh huyền huyền diệu ẩn dấu một mối tình da diết trong cõi sâu xa; và rồi nhạc chảy tràn từ bóng tiên nương trong bài Nhạc:
Nàng ơi! đừng động… có nhạc trong giây,
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây;
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,
Ô nàng tiên nương! – hớp nhạc đầy hương.
Và chỉ cần :
Nường hé môi ra. Bay điệu nhạc
Mát như xuân mà ngọt tợ hương:
Ôi sao là khúc Ba sinh lụy
Rào rạt như đầy nỗi cảm thương!
(Hiện hình)
Thế nên, tiếng đàn Bích Khê thật nhiều cung bậc: khi rung, khi nghẹn, khi rụng, khi câm, khi bẻ phím. Và như đã nói, nhạc ấy là nhạc lòng nên có lệ. Lệ ấy là lệ của những tê mê, nhiều thương cảm với cõi trần gian thi vị nhưng cũng lắm đau thương, cũng nhiều hệ lụy:
Ai xây bờ xanh trên xương người?!
Ai xây mồ hoa chôn đời tươi?!”
(Hoàng hoa)
Lệ ấy là lệ của những ám ảnh từ một mối duyên tình dang dở khắc sâu trong tâm tưởng thi nhân:
Anh không rời nữa ảnh thơ ngây
Và trở nên người dễ khóc lây.
Anh khóc mắt anh trong mắt ấy
Để rằng:
- Em khóc với anh đây!
(Ảnh ấy)
Không quá ồn ào hay sướt mướt, Nhạc và Lệ của Bích Khê đem đến cho ta cái cảm giác được bay bổng, được va đập, được chạm khắc…
Còn với Đẹp và Dâm, Bích Khê dẫn ta vào một thế giới khác, thế giới của nhan sắc và dục vọng với những bức Tranh lõa thể hút hồn người:
Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ
Ô tiên nương! Nàng ngự trị nơi nầy?
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm.
Hình ảnh thiếu nữ trong tranh đẹp vô ngần với “nhan sắc lên hương” khiến thi nhân hồn nhiên thốt lên ý nghĩ chiếm đoạt: “Hai vú nàng! hai vú nàng! chao ôi! - Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng”. Nhưng đó là ý nghĩ chiếm đoạt trong trẻo bởi thi nhân đã kịp “run run hãm lại cánh hồn si…” trước “lồ lộ một tòa hoa nghiêm động”. Thế mới biết, hồn thi nhân cao khiết biết dường nào. Và phải chăng, đấy cũng là điều thần dị? Còn nữa, nếu Xuân Diệu bộc lộ không giấu giếm thái độ tham lam, vồ vập, thèm khát quá mức trước cái đẹp: “Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời. Kẻ uống tình yêu dập cả môi”, thì Bích Khê lại có cách nói hiền lành hơn, nhưng độ rung vang của cảm xúc thì thật vô cùng:
Nàng! hở nàng! hãy cắn vào hồn ta.
Hồn nguyệt bạch ran lên chiều háo hức!
Tôi uống trọn cặp môi hường thơm phức.
(Bàn chân)
Bích Khê có hẳn một bài thơ nói về sắc đẹp với tựa đề Sắc đẹp, trong cách mô tả của ông, sắc đẹp hiện lên ở đủ mọi cung bậc của cuộc sống, những cung bậc đôi khi trái ngược nhau nhưng lại thể hiện một cách lôgic quy luật của cái đẹp và bài thơ kết thúc rất “con người”: “Hồn người mê Sắc đẹp trên giường”.
Trong Cuồng và Ánh sáng thì hầu như bài thơ nào cũng xuất hiện những trạng thái cảm xúc dường như bị dồn đẩy đến tận tận cùng, có thể hiểu, đó là cảm giác cuồng (chứ không cuồng loạn!) mà Bích Khê muốn bộc bạch ở đây. Nhưng, Bích Khê không bao giờ bị rơi vào ngõ cụt mà thường từ điểm tận cùng ấy là hình ảnh của ánh sáng, thứ ánh sáng phủ lấp mọi ưu phiền. Ánh sáng ấy có thể là hồn, có thể là miệng yêu kiều, có thể là trinh tiết… Bích Khê đã viết trong bài thơ Sọ người những ý nghĩ thật khó đoán định. Người đọc chỉ có thể cảm nhận được hình như có cái gì đó quay cuồng, se sắt trong tâm trạng của thi nhân, khi mường tượng về một hình bóng tiên nương đã khuất. Không thấy sọ người, chỉ thấy “trăng lấp loáng”, “ánh sáng chớp say no”, “ánh sáng chớp mau mau” và “chấp chóa ánh lưu ly”… tất cả tỏa ra từ “hoa thần bí vấn vương hồn ngọc nữ”. Trong bài thơ Đồ mi hoa cũng vậy, bóng dáng giai nhân gợi lên qua một đóa đồ mi, thi nhân ngây ngất bể sầu thương, song sắc đẹp đã làm cho “cả không gian là bể sáng tràn lan” nên chỉ còn lại một cõi lòng “uy nghi” vời vợi. Hay những ám ảnh đến cuồng si của “cặp mắt”, của bóng “nàng bước tới…” đều “sáng như gươm và chấp chóa kim cuơng” hoặc như thể “hào quang khiêu vũ với hào quang”.
Châu thì chỉ duy nhất một bài cùng một tựa đề Châu, hiểu là nước mắt, là châu báu đều được cả. Bởi lẽ, Bích Khê đã kể về những giọt nước mắt mà ở đó hàm chứa tất cả những vẻ đẹp mà ông cảm nhận được từ cuộc sống: vẻ đẹp của đau thương, vẻ đẹp của nhan sắc, vẻ đẹp của lòng mê say yêu đắm, vẻ đẹp của khoái lạc, vẻ đẹp của thơ, của mùa, của cái chết… và đến cả khi “Tôi chết rồi! Tiếng nói cũng như châu”. Thật không dễ dàng gì để biến biểu tượng của sự bi lụy – nước mắt thành châu báu, vậy mà Bích Khê đã làm được, bằng cái cách rất khác người nhưng lại rất “người” ấy.
GS. Lê Hoài Nam cho rằng: “Tinh Huyết là cả một bầu máu nóng của tuổi trẻ với những ưu điểm nhược điểm của nó”. Song, Tinh Huyết, đó thực sự là một cuộc thử nghiệm táo bạo đầy bản lĩnh của Bích Khê trong hành trình đi tìm cái mới ngay trong lòng cái mới. Tinh Huyết đúng “là mùa thuhoạch đầu tiên trênmảnh đất mới” của người thi nhân mà “tinh chất ngàn xuân hiệp lại ta”.
***
“Tinh Hoa là một cuộc trở về: trở về với những lối thơ truyền thống cùng những âm hưởng quen thuộc, nhưng cấu trúc không hoàn toàn như cũ; trở về với cách nghĩ, điệu cảm quen thuộc nhưng với một tâm trạng con người thời đại mới”. Đây là một đánh giá xác đáng thi phẩm này của Bích Khê. Tinh Hoa đã khắc phục được những ý tưởng đổi mới, đôi khi còn “sống sượng” trong Tinh Huyết. Tinh Hoa cho thấy độ chín trong tư duy nghệ thuật của Bích Khê, mọi ý tưởng mà ông khởi đầu trong Tinh Huyết được hoàn thiện trong Tinh Hoa. Không còn là lối nói cường điệu thái quá, đôi khi làm mất vẻ đẹp tự nhiên của hình tượng thơ và làm cho người đọc có cảm giác bị áp đặt, Bích Khê đã mang đến cho tập thơ này của mình một lối nói đằm thắm, dễ hiểu nhưng vẫn hết sức kiêu sa. Duy tân, Xuân tượng trưng, Ngũ Hành Sơn, Lên kim tinh, Làng em, Nấm mộ… là những biểu hiện tính chất “thần linh” của Tinh Hoa.
Tinh Hoa không chia thành các phần khác nhau theo chủ đề như Tinh Huyết, những bài thơ trong Tinh Hoa biểu hiện sự hoàn thiện của một tư duy nghệ thuật thơ đã được lựa chọn. Nói như Trịnh Hoàng Mai: “Nó như một ánh sao đêm, dồn tất cả tinh lực để cháy lên rồi sau đó tắt lịm… Hình tượng đẹp đẽ hơn, hoành tráng hơn, các biện pháp nghệ thuật vừa mới mẻ, vừa siêu thoát hơn…”. Ngay trong bài mở đầu – bài thơ Duy tân, Bích Khê khẳng định chắc chắn hướng đi mà mình đã thử nghiệm trong Tinh Huyết:
Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới
Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong.
Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng
Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng…
Và quả thực, ta như bay lên với những vần thơ nhẹ nhõm, tinh hoa trong Xuân tượng trưng khi chứng kiến cảnh tượng:
Nâng lên núm vú đồi
Sữa trăng nhi nhỉ giọt;
Bay qua cụm liễu phơi
Những cườm tay điểm hột
Sương. Phất phơ lau lách
Khe uốn mình giai nhân;…
Hay Lên kim tinh để chiêm ngưỡng “Thơ thủy tinh nơi lòng trăng mật – Nhạc thiên nhiên đầy nhạc pha lê” hoặc “lên chơi hòn Non Nước” để thả hồn phiêu linh trên “đường thu mưa nhỏ giọt” giữa tiếng chuông chùa thánh thót, để diện kiến:
Phật Như Lai thoạt hiện
Trên bảy sắc cầu vồng…
Quả thực, đến với Tinh Hoa, ta không còn cảm giác phải đối mặt với những hình ảnh quá lạ lẫm, quá khó hiểu như từng gặp trong Tinh Huyết. Mọi cái được nói đến ở đây, dù rất mới nhưng không lạ mà đều hết sức gần gũi. Ngũ Hành Sơn là một cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, song Bích Khê không nhìn nó dưới góc độ mô tả thông thường mà nhìn từ tâm linh, từ sự ngưỡng vọng và từ cả những khát khao trần thế. Cho nên, đọc Ngũ Hành Sơn (Tiền, Hậu) ta không chỉ lạc vào cõi Phật, vào động Thiên Thai mà còn lạc vào thế giới của ái ân tình tứ. Bích Khê quả đã mang đến cho Ngũ Hành Sơn một gương mặt mới, quyến rũ và hấp dẫn hơn nhiều.
Ta cũng thấy trong Tinh Hoa xuất hiện nhiềubài thơ viết theo thể Đường luật thất ngôn tứ tuyệt và thể lục bát hơn Tinh Huyết. Đó thực sự là một cuộc trở về hết sức thú vị của Bích Khê trên hành trình thi ca nhiều khát vọng của ông. Những bài thơ tứ tuyệt như: Tóc xõa đàn tơ, Quán khách xuân về, Dưới trăng ngồi gảy đàn, Nhặt hoa, Đề ảnh, Lời tuyệt mệnh… giống như những lời tự sự, hết thảy đều chứa đựng những cảm xúc thâm trầm pha lẫn buồn thương và cả những khát vọng tha thiết nơi ông:
Thân bệnh triền miên sầu quán khách
Đầu đường dương liễu sảy tươi xanh
Gởi tình cái én xuân muôn dặm
Hắt giọt lòng đông cảnh một mình.
(Quán khách xuân về)
Ám ảnh bệnh tật và nỗi cô đơn hiện rõ. Nhưng điều đó không làm mất đi tinh thần sáng tạo của người thi sĩ giàu nhiệt huyết này. Nhiều ý thơ đẹp vẫn nảy nở và tỏa sáng. Trong mắt Bích Khê, không gian có lúc mở ra tình tứ, âm thanh và màu sắc quấn quýt lấy nhau :
Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng
Trong vòm xanh. Màu cưới màu bình lặng.
Duy tân)
Hình ảnh “màu cưới màu bình lặng” là biểu hiện của một tư duy nghệ thuật hiện đại nhưng vẫn đậm chất Á đông. Cái thần tình của ngòi bút Bích Khê chính là ở đó. Và, qua cái nhìn của ông, có lúc không gian như cô lại song vẫn rạng rỡ trong cái dài dặc, buồn bã của thời gian:
Ngày đi chậm lắm. Giòng sông biếc
Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa.
(Làng em)
Với Tinh Hoa, Bích Khê đã thể hiện một cái nhìn tân kỳ, phóng khoáng về vạn vật, về con người. Và ở tập thơ này, Bích Khê sáng tác theo đúng quan niệm “mới mẻ trên viện cổ Đông phương” mà ông dày công tìm tòi, sáng tạo. Nếu trước kia Tinh Huyết chịu ảnh hưởng mạnh hơn của phương Tây, thì bây giờ Tinh Hoa để yếu tố phương Đông trỗi dậy “tạo ra sự hài hòa trong nội dung cũng như trong hình thức”. Tuy nhiên, Bích Khê “vẫn giữ được một sự nhất quán về những quan niệm nghệ thuật cơ bản của mình” trong quá trình sáng tác.
Tóm lại, theo GS. Lê Hoài Nam, “có thể khái quát tiến trình thơ Bích Khê trong mạch nguồn Thơ Mới như sau: Tinh Huyết là phủ định của “thơ cũ”, và Tinh Hoa là phủ định của Tinh Huyết vậy”. Tinh Huyết đã thực sự mang đến cho chúng ta một cách nhìn mới về thơ, qua lối tư duy hiện đại của Bích Khê. Cả tập thơ là tiếng nói mạnh mẽ phô bày vẻ kiêu sa một hồn thơ bạo liệt và đầy bản lĩnh. Có bao nhiêu cái mới, Bích Khê dồn cả vào đấy để thỏa mãn khát vọng “đẩy lịch sử thơ ca lên một bước mới”. Còn ở Tinh Hoa, sau khi rút ra những tổng kết về chặng đường đã đi qua trong Duy tân và Xuân tượng trưng, Bích Khê quay trở về với những âm điệu gần gũi và quen thuộc, thơ ông hướng đến những cảm xúc trầm lắng và suy ngẫm có chiều sâu về cuộc đời. Tinh Huyết và Tinh Hoa chính là kết quả đẹp đẽ của một tư duy nghệ thuật tích hợp nhuần nhuyễn và tinh tế các yếu tố Đông – Tây trong sáng tạo nghệ thuật, của một nhà thơ biết “hy sinh toàn diện cho Thơ. Nhà thơ ấy có tên Bích Khê.
Tháng 12.2007
Nguồn:
Bài đăng báo nào, số? ngày? tháng? năm?
BÍCH KHÊ - MẮT TƯỢNG TRƯNG
- Mai Bá Ấn
“Hỡi lời ca man dại
Điệu nhạc thở hơi rừng
Đêm nay xuân đã lạ
Thuần tuý và Tượng trưng”
1. Ô! Mắt Bích Khê
“Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu”. Đây là lời phẩm bình của Hàn Mặc Tử được Hoài Thanh dẫn lại trong “Thi nhân Việt Nam” khi giới thiệu về Bích Khê(1). Riêng tôi, nhìn những bức chân dung Bích Khê còn lại, ấn tượng đầu tiên chính là đôi mắt sáng và tròn với đầy vẻ ngạc nhiên, ngỡ ngàng… Hình như, chỉ có đôi mắt ấy mới phát hiện ra cái gì trên đời (dù là cái bình thường, cái đẹp hay cái xấu xa, gớm ghiếc, ghê tởm phàm trần…) cũng mới, cũng muốn hỏi, cũng đáng để ngạc nhiên, để “Ô lên!” cho đời nghe, người thấy... Chính điều này đã dẫn tôi đến công việc thống kê của một người nghiên cứu.
Đo đếm để thống kê là công việc khô khan nhất của người làm tiểu luận văn chương, nhưng khi đã tìm ra những minh chứng mình cần đi tìm để bênh vực, khẳng định cho mục đích của mình thì quả là niềm vui đến và lúc ấy thấy lòng dạt dào thi vị. Chỉ với 2 tập thơ nhỏ (Tinh huyết và Tinh hoa), tôi đã thống kê được trong thơ Bích Khê có đến 165 từ liên quan đến “Đôi mắt” (Mắt: 68 từ, Mi: 04 từ, Khóc: 35 từ, Lệ: 30 từ, Châu: 28 từ); 110 thán từ (18 “Ô!”, 7 “Ồ!”, 52 “Ơi!”, 33 “Ôi!”) và có tổng cộng đến 111 dấu chấm hỏi (?) và 309 dấu chấm than (!).
Cái đôi mắt hình chữ “O” tròn, sáng, sắc của Bích Khê như là một minh chứng để nhận ra: dường như nhìn đời, Bích Khê thấy cái gì cũng lạ. Thiên nhiên lạ, con người cũng lạ, cả cái đẹp “dâm” và “cuồng” của xác thịt cũng cứ mãi lạ lùng, cứ mãi đắm mê, cứ mãi mãi ngạc nhiên. Có lẽ như thế chăng mà ai đọc thơ Bích Khê, cả người cùng thời (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Hoài Thanh), cả người thời sau (Thanh Thảo, Lại Nguyên Ân, Trần Đình Sử, Phạm Xuân Nguyên…) đều mãi thấy Bích Khê luôn hiện đại. Mỗi phát hiện thơ là một tiếng “Ồ” đầy kinh ngạc. Bản thân tôi cũng là người mải mê đọc Bích Khê và mãi mãi thấy lạ lùng để bây giờ lại bất chợt reo lên “Ô! Mắt Bích Khê”.
1.1. Ô cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm!
Câu thơ này của Bích Khê thể hiện rõ ràng nhận xét của Hàn thi sĩ: “Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo,…”, nghĩa là rất lãng mạn, đa tình, nhưng cũng chính câu thơ này đã tạo nên sự mâu thuẫn trong đôi mắt ấy qua hai vế đối lập: “đa tình - ngời sắc kiếm”. Ánh mắt sáng quắc, ngời lên vẻ ngạc nhiên kỳ thú với tất cả những ngỡ ngàng.
Chính vì thế mà “đôi mắt mùa thu” của Bích Khê không mơ màng thu mà lại “xanh tợ ngọc”; “lưới lông mi” không rủ buồn thị giác mà đầy cảm giác “rờn rợn ánh tơ đêm”. Sáng tỏ, rờn rợn với “ánh” nhìn rất sắc cho dù là “mắt mùa thu”:
Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc?
Lưới lông mi rờn rợn ánh tơ đêm
(Mộng cầm ca)
Nhìn vào mắt ấy, ta tưởng chừng có thể nhìn thấy tận cùng đáy mắt, tận cùng tấm lòng chàng. Mắt Bích Khê cứ thế: trong - sáng - sắc:
Ôi! Cặp mắt của người trong tựa ngọc
Sáng như gươm và chấp chóa kim cương!
(Cặp mắt).
“Tựa ngọc”, “ngời sắc kiếm”, “sáng như gươm” lại “chấp chóa kim cương” thì rõ ràng mỗi “cái ngó” đã là “sao”, “mỗi liếc yêu” đã “phảng phất hương” bay huyền diệu. Phát hiện ra “mùi hương” từ một cái “liếc mắt” quả là một độc đáo của Bích Khê đáng để được ngạc nhiên:
Mỗi cái ngó là một vì sao mọc!
Mỗi liếc yêu là phảng phất mùi hương
(Cặp mắt).
Mắt lại “chứa hào quang” để dẫn dắt hồn người vào “thế giới thiêng liêng”:
Mắt ấy chứa hào quang sáng ngợp
Dẫn hồn ta vào thế giới thiêng liêng
(Cặp mắt).
Chính vì lẽ đó mà mắt Bích Khê hòa trộn vào mắt giai nhân. Giai nhân đẹp bởi “mắt mơ”, nhưng dẫu có “mơ” vẫn không đượm buồn mà chứa chất cả một trời “ngây thơ” để thi sĩ ôm chầm lấy nó:
Anh tính ôm chầm lấy mắt mơ
Lấy môi lấy má…lấy ngây thơ (Ảnh ấy).
Nước mắt Bích Khê hòa trộn vào nước mắt giai nhân trong “Ảnh ấy”. Nhà thơ tự mê đắm với cảm xúc chính mình: Anh úp mắt vào đôi mắt ấy,/ Rồi không ngăn được, lệ anh tuôn…(Ảnh ấy).
Nhưng tỉnh táo lại sau cơn xúc động, nhà thơ đã khóc thương cho chính mình bởi đã nhận ra sự thật phũ phàng:
Nước mắt tràn trên đôi mắt ấy,
Nào hay anh khóc, phải em đâu! (Ảnh ấy).
Và tác giả tự trả lời cho mình:
- Đời mô em khóc vì anh khóc
Cho lệ lòng anh bạc vẻ sầu (Ảnh ấy).
Ngấm nỗi đau nhân thế, nhưng với nhà thơ thì một lần được khóc thật với chính xúc cảm của mình là một lần sáng bừng lên thi tứ. Giai nhân hòa trộn cùng người thơ, nước mắt thật của nhà thơ lai láng trên mắt giai nhân, nhạt nhòa trên tấm ảnh giai nhân. Và trong phút giây đốn ngộ ấy, nhà thơ chợt cảm thấy: với nhà thơ, được khóc thật, là một niềm hạnh phúc, vì suy cho cùng, cái cặp đôi: “giai nhân - tài tử” cũng chỉ “nòi tình”, cũng là chỉ một mà thôi:
Anh khóc mắt anh trong mắt ấy
Để rằng: -Em khóc với anh đây! (Ảnh ấy).
Thi nhân với giai nhân hình như là một, như trộn hòa làm một, tài hoa bạc mệnh như Kiều, như Tố Như, như Tiểu Thanh, như Khuất Nguyên… và kể cả “phu nhân” Hồ Xuân Hương của chính Bích Khê nữa:
Lạ sao! Cả rạp không ai khóc
Chỉ có mình cô khóc với cô
(Cùng một cô đào hát bộ).
Đọc Bích Khê, ta có cảm giác, người thơ lãng mạn, mê đắm cũng từ đôi mắt và “rợn người”, rung động cả châu thân cũng từ đôi mắt, và, có thể nói thật hơn, đúng bản chất hơn, thì “cuồng và dâm” cũng từ đôi mắt:
Bỗng đôi mắt hiện hình - Đôi mắt ngọc
Ôi đôi mắt! - Toàn thân tôi rởn ốc!
Cả linh hồn óc não phổi tim gan (Châu).
Đến cả “vùng tang”, cả cái chết cũng xuất phát từ đôi mắt:
Ôi mắt người! mắt người! hiện rõ rệt:
Ta gào lên… chấn động cả vùng tang
(Cặp mắt).
Giữa nỗi đau ứ lệ cũng hóa thành ánh sáng “ngời châu”, cũng hóa thành âm nhạc vang âm “sóng nghê thường” và cũng hóa thành những chuỗi ngọc ngà:
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
(Tranh lõa thể).
Đến đây thì rõ ràng chủ nghĩa tượng trưng thấm đẫm trong thơ Bích Khê: giữa cái chết “vùng tang” và cái đẹp “ đôi mắt ngọc” đã trộn hòa làm một.
1.2. Ô trời hôm nay sao mà xanh!
Với mình, với đời, với thơ, Bích Khê đã thế, khiến ta cứ ngỡ chàng chỉ ngạc nhiên, tròn mắt trước nỗi buồn đời, buồn mong manh phận người, buồn “thân bệnh” của phận mình… Nhưng không, cái sự ngạc nhiên đến xoe tròn mắt kia còn là sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng, đến lạ lùng khi Bích Khê đối diện cùng thiên nhiên. Nỗi buồn thu với Bích Khê cũng lạ đến vô cùng. Lá thu rơi vàng là một thi ảnh thường gặp nhiều, nỗi buồn cũng là một chủ đề thường trực trong Thơ Mới, thế nhưng, bằng cái nhìn của ánh mắt tượng trưng, Bích Khê đã biến những lá vàng kia thành cả một trời vàng: “Vàng rơi! Vàng rơi”, cho nên khi gặp những nỗi buồn vàng cả trời thu ấy, chàng cũng ngạc nhiên thốt lên:
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: thu mênh mông (Tỳ bà).
Cả “nắng vàng” cũng đưa “hương” lạ, “nắng vàng thơm” ngân lên cả âm điệu “rung rinh”. Hay chính là “những cánh hồng” đang “đơm” hoa, hoa hồng “rung rinh” trong “nắng vàng thơm” thành vũ điệu, thành âm nhạc:
Ô! Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc,
Những cánh hồng đơm, - những cánh hồng đơm
(Nhạc).
Mà không ngỡ ngàng, ngạc nhiên sao được? Mắt không xoe tròn ngạc nhiên sao được? khi mà người thơ nhìn sắc màu “lam nhung”, “xanh nhung” bình thường cũng hóa thành chuỗi màu sắc tượng trưng, mới lạ chưa hề gặp trong thơ Việt. Đó là màu “lam nhung” của “lưng chừng trời”, “xanh nhung” của “màu phơi nơi nơi”. Thơ Mới hiện đại, ngoài Bích Khê, cũng chưa ai có cách so sánh, ví von lạ lùng đến thế. Bảo làm sao không tròn mắt ngạc nhiên để thốt lên những thán từ “ô” nối tiếp:
Lam nhung ô! Màu lưng chừng trời
Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi.
(Hoàng hoa).
Rồi cái màu “lam” của trời bình thường mà ta thường gặp kia, Bích Khê lại nhận ra một màu “lam ứ đặc tình thu” thì quả là đáng ngạc nhiên cho cả người đọc đương đại. Chàng reo lên “Ô kìa!” một cách ngạc nhiên cũng đúng thôi. Đến “hồn không động mà say” để nhận ra trong cơn “say” đời ấy lại thấy tự nhiên nó cứ vô tình, chàng bèn buột miệng: “Chà! đôi chim khướu vẫn bay tung trời”:
Trời lam ứ đặc tình thu,
Ô kìa! Mây bạc nặng lùa về tây.
Hồn sao không động mà say!
Chà! Đôi chim khướu nó bay tung trời…
(Cuối thu).
Đến cái màu trời xanh thiên nhiên vốn như là cái sự bình thường của quy luật tự nhiên, vậy mà Bích Khê vẫn “Ô” lên như mới bắt gặp lần đầu. Mà cũng đúng thôi, vì chính nhà thơ đã phát hiện ra cái “sao mà xanh kia” là để chàng thể hiện được cái lạ điểm trên nền trời xanh ấy có “ngọc trăng xây vàng trên muôn cành”:
Ô trời hôm nay sao mà xanh!
Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành
(Nghê thường).
Cho đến cả cái “nhớ thương” vốn dĩ của con người, chàng cũng “ồ” lên lạ lẫm:
Ồ lạ! làm sao thương nhớ quá!
Đêm nay trăng ngủ ở bên đường
(Tân hôn).
Đọc kỹ thì nhận ra, không phải chàng lạ vì cái sự nhớ thương mà bởi chính chàng đang “thương nhớ” vầng trăng say “ngủ ở bên đường”.
Đến cả trong cơn “mộng”, hay đúng ra là hết mộng rồi, chàng kể lại “cơn mộng” mà giọng chàng vẫn vẫn cứ “Ô” lên, “A” lên như mới vừa bắt gặp điều gì. Cái lạ của Bích Khê chính là đây:
Ồ! Mộng đêm thu, mây vút xa
Say sưa lộ sắc cạnh Đào hoa:
A ta! Lý Bạch! Hồn ba lệ!
Rượu nốc vào: rung khúc đập ca…
… Muôn dặm sông Ngân, con mộng lớn,
Ô! là đài điện ánh trân châu… (Mộng).
Cả cái áng “mây trắng bay về núi Thạch” quê chàng như muôn năm mây bay về núi, vậy mà chàng vẫn cứ ngỡ như là chuyện mới, chuyện lạ. Chàng cứ ngạc nhiên hỏi hoài, hỏi mãi: Mây trắng bay về núi Thạch chưa? (Chùa Ông Thu Xà). Người xa không trở lại cái “làng cũ buồn thu quạnh” quê chàng ở Thu Xà, chàng cũng cứ ngớ ngẩn mãi đánh dấu hỏi thắc mắc, ngạc nhiên:
Nơi đây: làng cũ buồn thu quạnh
Anh có khi nào trở lại chưa?(Làng em).
Cả đến chính lòng chàng cũ như cái “bến đò xưa” mà ai chưa hiểu lòng chàng, chàng vẫn cứ mãi hỏi tại sao:
Lòng ta bến đò xưa
Bóng trăng sao chẳng tỏ?
(Trăng sáng bến đò xưa).
1.3. Ô! Tiên nương trong tình xuân đầy ứ
Trong tập thơ “Tinh huyết”, Bích Khê có hẳn một phần mang tên “Đẹp và Dâm”. Trong lời tựa tập thơ “Tinh huyết”, Hàn Mặc Tử đã “phân chất” thơ Bích Khê theo ba tính cách (Thơ tượng trưng - Thơ huyền diệu - Thơ trụy lạc). Ở lời Bạt tập thơ này, Trọng Miên cảm nhận “Tôi yêu Baudelaire đắm đuối, say sưa Hồ Xuân Hương sôi nổi, thì Bích Khê tuôn ra những lời nóng hổi, mê man nhủ cùng tôi chung một tấm tình thơ ngây ngất… Tinh huyết vang dội một nỗi đau khổ tuyệt vọng phủ qua màu sắc trụy lạc ồ ạt như muốn chảy tràn vào đường gân, mạch máu của tôi”(2). Chế Lan Viên cũng đã từng bảo “Khê không làm được chuyện ấy nên đành phải “làm” trên giấy”. Nghiên cứu về Bích Khê, Trần Đình Sử có một có nhìn khá sắc sảo về “Ngôn ngữ thân thể trong thơ Bích Khê”, Phạm Xuân Nguyên thì gọi: “Bích Khê -… Thơ lõa thể”, Đà Linh thì “Từ Bích Khê nghĩ đến một góc “nu” trong thơ”… Như vậy, từ chính Bích Khê cho đến các nhà nghiên cứu đều nhận ra cái chất “Dâm”, “Lõa thể” trong thơ, nhưng có lẽ cũng chính là Hàn Mặc Tử đã nhận ra “bộ mặt thật” của cái “Dâm” trong thơ Bích Khê rằng: “Ở địa hạt dâm cuồng nầy, ta thấy thi sĩ Bích Khê hoàn toàn là Baudelaire. Vì trong tác phẩm chàng, gợi dục tính thì ít, mà làm cho người ta ghê rởn đến gớm guốc cái cảnh trần truồng khả ố thì nhiều”(3) . Bích Khê không mê đắm trong dục vọng, dâm cuồng mà là phát hiện những vẻ đẹp “Lõa thể” của giai nhân là vẻ đẹp tỏa hương ngất ngây, vang đầy âm nhạc và ngời ánh sắc kim cương:
Ô! Côi lầu mây ánh gì kim cương
Áo nàng thơ ngây nao nao nghê thường
(Nhạc).
Lúc nào phát hiện ra, chàng cũng ngỡ ngàng, ngạc nhiên, “ô” lên đầy thú vị:
Ô nàng tiên nương! - hớp nhạc đầy hương
(Nhạc).
Thấy sự đẹp, chàng “ráp” đến xem, và “Ồ” lên khi nhận ra bóng dáng giai nhân trong đêm trăng huyền diệu:
Tôi ráp lại xem. Ồ! Sự lạ!
Một người thiếu nữ hiện trong trăng
(Hiện hình).
Và cái đẹp của giai nhân được Bích Khê miêu tả đầy vẻ sáng láng như “ngọc thạch”, “trân châu”; thanh khiết, trong và êm như “mã não”, “hổ phách”. Không biết là cái gì, chàng lại “Ồ” lên, ngạc nhiên với những câu hỏi nối hàng:
Ồ là ngọc thạch hay trân châu?
Mã não hay là hổ phách đây? (Nghê thường).
Giai nhân hay là “âm thanh” của nhạc? Hay là “hơi thở” của “hoa hồng”? “hoa hồng” mà tỏa ra “hơi thở” thì đầy quyến rũ xác thịt, nhưng “Hơi thở của hoa hồng mơ mộng” thì rõ ràng là đã thoát mùi quyến rũ trần tục để vươn lên cái cao siêu của hơi thở muôn hoa. Chính điều đó, chứ không phải điều gì khác hơn, khiến hồn thơ ngất ngây “âm thanh” trong tiếng nói của “Ngọc Kiều” (Âm nhạc) cùng “hơi thở của hoa” (Hội họa). Và vì vậy, cảm khoái của bích Khê là cảm khoái của thi ca, hương hoa và nhạc họa:
Âm thanh gì sắp sửa… Ngọc Kiều ơi!
Hay hơi thở của hoa hồng mơ mộng?
(Mộng cầm ca).
Này là dáng lượn của tuổi “tầm xuân” trong vóc thân nàng “Tố Nữ”. Trân trọng gọi cái đẹp là “Tố Nữ tầm xuân”, chàng vẫn sợ còn vướng mùi trần tục nên chàng lại ngạc nhiên xoe tròn khi tiếp xúc để trân trọng đẩy nàng “Tố Nữ” kia nhòa đi trong hội họa “Ô tiên nương”. “Tiên nương lại ngự nơi này” thì rõ ràng chàng chỉ đắm mê cái đẹp siêu thoát của sự “lõa thể tinh thần” với “chén ngọc lưu ly”, với “màu sen ẻo lả” chứ không hề là của xác thịt lõa lồ từ một con người cụ thể:
Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ,
Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi nầy?
Ồ hai tay rơi chén ngọc lưu ly;
Ồ hai chân nở màu sen ẻo lả (Tranh lõa thể).
Đến cả ngắm “nàng Xuân Hương” cụ thể “ngực để trần”, Bích Khê vẫn chỉ ngắm ở cõi Tiên xa trên “sông Ngân” chứ không hề là nàng Xuân Hương trong buồn the “Da trắng vỗ bì bạch” như ta từng nghĩ. Chính vì thế, chàng tự nhận Xuân Hương là vợ vẫn chỉ là hai kẻ thoát phàm trần lên cõi Tiên mê say trong khúc nhạc Nghê Thường thánh thiện:
Hai tôi vừa ghé bến sông Ngân:
Ô! Nàng Xuân Hương ngực để trần
(Nghê thường).
Cho nên, chàng muốn trưng bày “lõa thể” mà chỉ là “lõa-thể-ngôn-từ-nghệ thuật” chứ không hề là sự lõa lồ. Đây, ta xem chàng hành động nhé:
Anh tính - kề tay lên trái tim
Ta đòi nóng hổi với say im.
Nhưng đó chỉ là hành-động-của-khát-vọng, vì thế:
Nhưng chao! Sao chỉ không gian lạnh?
Không bóng! Không hình! - không có em
(Tỳ bà).
Nghĩa là… chỉ là một sự “tính”, sự “đòi” thuộc dạng khát khao, chứ không hề là, và có lẽ, không bao giờ là thực tế. Vì vậy, xin đừng nhầm chàng “Dâm” cho dù cả lúc chàng đang “say nghiền”, đang “đã nư khoái lạc”… Tất cả chỉ là một “chiêm bao”. Ai “coi” chàng “sex” thì cứ mở to mắt mà “coi” - Chỉ là giấc chiêm bao của chàng thì ai chen vào mà “quay camera” để làm “chứng lý” tố cáo chàng là “dâm tục”. Chàng biết sẽ không ai “buột tội” nổi mình, mà lại còn đứng trên “cõi chiêm bao” để “đã nư khoái lạc”:
Ô coi! Hồn đương say nghiền
Đã nư khoái lạc trong miền chiêm bao!
(Mơ tiên).
Đúng rồi! Trắng án cho chàng rồi vì đó chỉ là một giấc “Mơ tiên” mà chỉ có chàng mơ chứ chưa ai là kẻ phàm trần đạt tới.
Hãy nghe chàng nói, hãy xem chàng tả:
… Một bàn chân ve vuốt một bàn chân!
Mát làm sao! Mát rợn cả châu thân.
Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực
(Bàn chân).
Cái sự “ve vuốt”, cái sự “mát rợn cả châu thân”, cái “chelestorol trong máu” làm ngừng đập con tim để có thể dẫn đến “tử nạn” kia cùng chỉ là chuyện của “Một bàn chân ve vuốt một bàn chân!”, chứ hoàn toàn không phải là hai thân hình vuốt ve khi “lõa thể”. Cho nên, cuộc phàm trần trong mắt Bích Khê cũng trở nên “từ bi”, thánh thiện. “Tình xuân đầy ứ” cũng chỉ là cái “phồn thực” trong hình thể thoát xác phàm của một “Tiên nương”:
Ô! Sắc phàm trên bộ mặt từ bi;
Ô! Tiên nương trong tình xuân đầy ứ
(Sọ người).
“Lồng ngực” với “đôi tuyết lê” quyến rũ cũng chỉ là sự quyến rũ của “Mùa âm nhạc” tượng trưng. Đời trần phơi “lộ hàng” ra đó cũng chỉ được nhà thơ phát hiện ra với tất cả những ngạc nhiên, “ấp úng”, “e dè”. Chỉ còn lại là “cặp má đồng tiền ngây thơ lạ” và vẫn là “hữu xạ tự nhiên hương”:
Mùa nhạc gẫm nao nao trong lồng ngực;
Đôi tuyết lê ấp úng bởi e dè;
Xuân dậy thì đương độ khởi đê mê
Ô cặp má đồng tiền ngây thơ lạ!
Hương da thịt còn thơm hơn chất xạ
(Cô gái ngây thơ).
Chính là như thế, nên tất cả những cái “lõa thể” từng bị người đời hiểu nhầm là lõa lồ, là “dâm”, là “trụy lạc xác thịt” đều được Bích Khê gọi tên bằng những định danh vô cùng trang trọng. Họ chỉ là cái hình hài “lõa thể” của những “Tiên nương”, “Ngọc Kiều”, “Tố Nữ”, “Châu”, “Nàng Xuân Hương”… mà những kẻ phàm trần chẳng thể nào với tới. Ngay trong chính sự nghiệp sáng tác của Bích Khê, ta vẫn dễ dàng nhận ra sự đối lập trong việc đặt tên các tập thơ và các phần trong tập thơ “Tinh huyết”. Hai tập thơ chính của Bích Khê được chàng đặt tên là “Tinh huyết” (tinh túy thổ ra như máu huyết) và “Tinh hoa” (tinh túy đã qua chắt lọc thể hiện ra). Tập thơ “Tinh huyết” có 3 phần thì tên của ba phần đều là những cặp đối lập: “Đẹp và Dâm”, “Nhạc và Lệ’, “Cuồng và Ánh sáng”. Nghĩa là: “Đẹp” - “Nhạc” và “Ánh sáng” đối lập cùng “Dâm” - “Lệ” và “Cuồng”.
Có lẽ, chính sự mâu thuẫn này đã khiến Bích Khê từng bị hiểu nhầm, bị ruồng rẫy, trở thành “đỉnh núi lạ” đứng sững giữa nhân gian mà nhân gian thì mấy người hiểu hết… Quả đúng như Hàn Mặc Tử nhận xét: “sự trần truồng, dâm đãng đã nhường lại cho ý vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết”(4). Chính “đôi mắt” chữ “O” xoe tròn lúc nào cũng ngỡ ngàng, ngạc nhiên đầy dấu hỏi (?), dấu than (!); phát hiện ra điều gì cũng đều buột miệng la lên: “Ô!”, “Ồ!”, “A!”, “Ôi!”, “Ơi!” ấy đã cho ta nhận ra: chính Bích Khê đã biến cái phàm tục do “đôi mắt mình” phát hiện giữa cuộc đời thành cái “rất mơ”, “rất mộng”, “rất ảo”… và nâng lên thành cái đẹp, thành nhạc, thành họa, thành ánh sáng, thành “chiêm bao”, thành bao điều “huyền diệu”... Tất cả những điều này, rõ ràng Thơ Mới chỉ có Bích Khê.
Và... vì lẽ đó, Bích Khê rất gần với chúng ta hôm nay và sẽ vẫn còn mãi mãi tạo nên sự ngạc nhiên, lạ lùng với người đọc mai sau...
2. Bích Khê và Chủ nghĩa tượng trưng
Có thể nói, văn học lãng mạn Việt Nam dù chỉ ra đời và phát triển trong vòng 15 năm nhưng đã hầu như thâu tóm cả chặng đường phát triển 100 năm của văn học Pháp ở góc nhìn tiếp biến các trường phái, các trào lưu sáng tác. Nó tiếp biến cùng một lúc tất cả các trường phái trong điều kiện mà tất cả các trường phái này ở văn học phương Tây hầu như đã đi trọn vẹn quá trình của mình. Từ cội nguồn gốc rễ của các yếu tố nội sinh trong nền văn hoá, văn học dân tộc; từ mối quan hệ với các nền văn hoá, văn học phương Đông trong cuộc tiếp biến văn hoá lần thứ nhất với Trung Hoa; trong cuộc tiếp biến văn hoá, văn học lần thứ hai này đối với phương Tây, các nhà thơ lãng mạn Việt Nam hầu như rất chủ động. Họ tiếp thu tất cả các chủ nghĩa, các trường phái cùng một lúc rồi hoà trộn vào năng lượng sẵn có trong vốn văn hoá, văn học truyền thống và bằng tài năng của mình, mỗi người một vẻ góp phần thúc đẩy rất nhanh quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam..
Một cách tương đối, ta dễ thống nhất rằng, có một nhà thơ lãng mạn Việt Nam mà khi nhắc đến sự ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng đối với văn học Việt Nam, ta không thể không nhắc đến, đó chính là Bích Khê.
2.1. Vài nét về chủ nghĩa tượng trưng
Chủ nghĩa tượng trưng là một trào lưu nghệ thuật và là một quan điểm triết học - mỹ học xuất hiện cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Vì thế, nó là một thuật ngữ nhiều nghĩa để chỉ một trào lưu không thuần nhất. Tháng 9/1886, chủ nghĩa tượng trưng ra đời ở Pháp với bản “Tuyên ngôn tượng trưng” của Jean Moreas đề xuất một quan niệm thi ca mới nhằm phản ứng lối thơ thiên về chạm trỗ, trau chuốt ngôn từ của phái Thi sơn (Parmasse) và cách làm thơ quá dễ dãi của trường phái lãng mạn. Họ quan niệm: thi ca tượng trưng biểu hiện trước hết “những tư tưởng nguyên uỷ”, nó là kẻ thù của “sự mô tả khách quan”. Hình tượng tượng trưng là đa nghĩa, bất định, nó ghi nhận sự tồn tại của “khu vực bí ẩn” (Mallarmé), của “những cái vô hình và những thế lực định mệnh” (Maeterlinck), thơ “trước hết phải có nhạc tính” do âm nhạc hơn hẳn các nghệ thuật khác trong việc truyền đạt những sắc thái, những bán âm (Verlaine). Quan niệm tượng trưng như là hình tượng có khả năng không chỉ biểu đạt những sự tương hợp của các khách thể và hiện tượng mà trước hết có khả năng truyền đạt “nội dung thể nghiệm của ý thức” (A, Belyi). Do vậy, ở những tác phẩm tượng trưng biểu tượng vật thể thực được đan bện chặt với các thủ pháp ấn tượng. Vai trò chủ đạo trong nhận thức và sáng tác nghệ thuật của chủ nghĩa tượng trưng là trực giác - được đồng nhất với sự bừng ngộ thần bí, với sự khải thị, với trạng thái kích động cao. Và lần đầu tiên trong lịch sử, chủ nghĩa tượng trưng đã “thơ hoá” cả cái Xấu và cái ác (Baudelaire với Những bông hoa ác). Ta có thể rút ra những điểm nổi bật của chủ nghĩa tượng trưng như sau:
- Về nguyên tắc mỹ học
Nếu như thơ lãng mạn chủ yếu biểu hiện bằng hình tượng, hình ảnh tương phản thì thơ tượng trưng biểu hiện mối quan hệ giữa con người và sự vật trong mối tương hợp. Mỹ học tượng trưng cũng quan niệm giữa vũ trụ và con người có một mối tương quan bí ẩn. Mối tương giao, tương hợp này diễn ra trên nhiều mặt. Có sự tương giao về ý niêm: hư - thực, có sự tương giao về cảm giác: ánh sáng- bóng tối, có sự tương giao về không gian: ngang - dọc, có sự tương giao về màu sắc: đen - trắng, có sự tương giao về màu vị: trong - ngọt... Giữa vũ trụ và con người có sự tương ứng huyền bí (Baudelaire).
- Về quan niệm thơ
Chủ nghĩa tượng trưng xem thơ như một thứ siêu cảm giác, không giải thích được. Thơ phải gắn chặt với âm nhạc, phải gợi chứ không vẽ các đường nét, hình thể (Verlaine). Nghĩa là thơ không cần có hình tượng rõ nét, và được quan niệm như một bản hoà âm huyền ảo. Mỗi từ trong thơ phải gắn liền với một nốt nhạc.
- Về đặc điểm thơ tượng trưng
Chủ nghĩa tượng trưng xem thế giới hữu hình chỉ là hình ảnh, là cái bóng, là tượng trưng cho một thế giới mà ta không nhìn thấy được. Đây mới chính là bản thể của thế giới. Cho nên, nhà thơ phải đến với cuộc sống bằng trực giác vì chỉ có trực giác mới tìm ra cái bí ẩn nằm sau thế giới hữu hình, mới nhìn thấy thế giới đích thực là cái thế giới không nhìn thấy ấy.
- Về mặt ngôn từ và phương thức thể hiện
Thơ tượng trưng dùng biểu tượng như là một cấu tạo hình tượng đặc biệt để chống lại lối miêu tả và biểu lộ tình cảm trực tiếp của chủ nghĩa lãng mạn. Nói cách khác, chủ nghĩa tượng trưng tôn trọng điều bí ẩn của thơ. Họ tránh dùng miêu tả mà dùng những từ gợi lên ý nghĩa. Tức là dùng biểu tượng như là một phương tiện biểu hiện.
Đến thời kỳ cuối, thơ tượng trưng rơi vào hình thức chủ nghĩa, mấp mé giữa đường ranh nghệ thuật và phi nghệ thuật bằng lối thơ hủ nút, kín mít. Điều này khiến thơ tượng trưng rơi vào tình trạng phi giao tiếp, có tính chất loại bỏ sự giao tiếp của người đọc.
2.2. Chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Bích Khê
Đến đây, cũng cần thiết phải nói thêm rằng: việc nhà phê bình Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam coi Xuân Diệu là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” là xuất phát từ quan điểm xem xét một cách toàn diện tiến trình của thơ mới trên phương diện một chủ nghĩa (Chủ nghĩa lãng mạn), và Xuân Diệu xứng đáng được gọi như thế. Còn theo chúng tôi, Xuân Diệu là đại biểu của thơ lãng mạn Việt Nam, trong thơ ông có một vài bài, một số câu, số ý mang yếu tố tượng trưng trên phương diện: giao cảm với thiên nhiên (đã có gốc truyền thống phương Đông), yếu tố nhạc (theo truyền thống “Thi trung hữu nhạc” cũng của phương Đông) kết hợp với lối tư duy thơ hiện đại phương Tây. Chứ còn chủ ý sáng tác theo lối tượng trưng chủ nghĩa thì hình như chỉ là thấp thoáng. Ở đây, về phương diện tương giao cảm giác cũng cần phân biệt rằng: chủ nghĩa lãng mạn giao cảm với vũ trụ, thiên nhiên chủ yếu bằng trực cảm qua cách miêu tả cụ thể hình ảnh bằng cảm xúc (Xuân Diệu nổi bật ở kiểu trực cảm này). Còn chủ nghĩa tượng trưng lại tương giao với vũ trụ, thiên nhiên bằng trực giác qua lối thể hiện bằng biểu tượng phi cụ thể (Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Đinh Hùng nổi bật ở kiểu trực giác này). Chính vì sự đánh đồng giữa trực cảm và trực giác nên nhiều dẫn chứng về yếu tố tượng trưng trong thơ Xuân Diệu của nhiều cuốn sách chưa có sức thuyết phục cao, chưa làm cho người đọc hiểu đâu là trực cảm (direct perception) của chủ nghĩa lãng mạn và đâu là trực giác (intution) của chủ nghĩa tượng trưng qua thuyết tương giao cảm giác (Chúng tôi xin làm rõ vấn đề này ở phần sau). “Khác với thơ đa cảm của phái lãng mạn... Thay vì nói: thơ là nguồn hoan lạc cho tâm, Valery nói: thơ là nguồn hoan lạc cho trí”(5). Nghĩa là đem đến “hoan lạc cho tâm” chính là trực cảm của lãng mạn còn đem lại “hoan lạc cho trí” chính là trực giác của tượng trưng.
Còn giữa Hàn Mặc Tử và Bích Khê, sở dĩ chúng tôi chọn Bích Khê vì nói như Chế Lan Viên “Bích Khê làm thơ còn Hàn Mặc Tử bị thơ làm”. Nghĩa là cái ý thức cách tân nghệ thuật trong cuộc đời sáng tác của Bích Khê rất rõ, rất có chủ ý (Tên các tập thơ và một số bài thơ của ông như: 2 tập Tinh huyết và Tinh hoa, bài Sọ người, bài Tranh loã thể, bài Xuân tượng trưng, bài Duy tân... đã hàm chứa yếu tố tượng trưng rất rõ). Còn Hàn Mặc Tử là một “nhà thơ mới” đi trọn nhất hành trình thơ lãng mạn Việt Nam trong mối quan hệ bàng bạc (không có ý thức tập trung ở trường phái nào) với các trường phái sáng tác phương Tây. Hàn ra đi từ thơ cổ điển đến với lãng mạn, bước sang tượng trưng rồi siêu thực, và ở cuối chặng đường thơ “tài hoa bạc mệnh” của mình, Hàn đã gửi trọn “đức tin thơ” vào Thiên Chúa - một học thuyết tôn giáo thống trị cả một tiến trình phát triển của văn học phương Tây. Ngay trong lời giới thiệu tập thơ đầu tay của Bích Khê năm 1939 (tập Tinh huyết), Hàn Mặc Tử đã thốt lên cơ chừng như sửng sốt “ta có thể sánh văn thơ của Bích Khê như một đoá hoa thần dị. Lối tượng trưng và huyền diệu, ngời ánh như màu sắc Paul Valéry, cho ta nhận thấy thi sĩ đã chịu ảnh hưởng nhiều của tác giả tập thơ Charmes”.
Đầu tiên chúng tôi xin được làm phép so sánh đôi nét về cái mạnh ở chủ nghĩa lãng mạn của Xuân Diệu và cái mạnh tượng trưng của Bích Khê. Cùng miêu tả mùa thu thì Xuân Diệu lại bằng trực cảm tinh tế của một tâm hồn khát khao yêu cuộc sống, ông cảm nhận bằng tất cả giác quan mình cái bước đi chuyển mùa rất cụ thể hình ảnh và sinh động với “rặng liễu chịu tang”, “tóc liễu buồn buông xuống”, “lệ liễu chảy thành hàng”... Rồi nàng thu tang lễ ấy lại được Xuân Diệu cho khoác lên mình một chiếc áo màu “mơ phai dệt bằng những chiếc lá vàng” cụ thể. Trong khi Bích Khê bằng trực giác của mình đã quên đi mọi hình ảnh cụ thể sinh động đi vào phía tiềm ẩn của mùa thu để tiến đến một biểu tượng “vàng” trực giác bằng ý niệm:
Ô ! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.
Ta không hề thấy ở đây một hình ảnh cụ thể nào. Có chăng chỉ có hình ảnh “cây ngô đồng”, nhưng cái cây ấy đã bị bao trùm bởi nỗi “buồn vương” làm nhoà mất chính nó rồi, chỉ còn có ý niệm “buồn”. Và “Vàng rơi! Vàng rơi!” đã cơ hồ như thâu tóm mọi cái trực cảm cụ thể sinh động của Xuân Diệu để tiến sang phía trực giác tượng trưng chỉ biết có “Vàng”. Rơi túa từ hư không những vàng là vàng, và vì thế nên “thu mênh mông” mơ hồ trong ý niệm, không hề có nàng thu hình vóc cụ thể với tóc, với lệ, với áo dệt bằng lá vàng, không còn cái sắc màu (sắc đỏ rũa màu xanh) cụ thể, cũng không có lá cành cụ thể mà Xuân Diệu trực cảm được bằng cảm xúc mạnh (run rẩy rung rinh lá, nhánh khô gầy). Có lẽ sẽ không ít dẫn chứng về sự khác nhau này giữa Xuân Diệu và Bích Khê trong sáng tác cụ thể của hai ông. Nghĩa là cái tương giao cảm giác của Xuân Diệu còn đứng rất vững trên bờ của trực cảm lãng mạn với tay hái những chùm trái chín tượng trưng, còn với Bích Khê, sự tương giao ấy đã đưa hẳn một chân sang phía trực giác của tượng trưng còn một chân vẫn đứng nguyên bên bờ lãng mạn. Và có lẽ chính vì thế mà ta dễ nhận ra ở tập “Tinh hoa” sau này, cái chân đưa sang tượng trưng của Bích Khê lại kéo gần lại bờ lãng mạn hơn so với “Tinh huyết”(6).
“Bây giờ đây, mời các vị vào chơi vườn nghệ thuật của chàng (Bích Khê - MBA). Trước hết ta hãy đến khu vực Tượng Trưng”(7).
Tại sao Hàn Mặc Tử gọi là “Trước hết” trong khi đây là tập thơ đầu tay của Bích Khê ? Nhấn mạnh điều này, chúng tôi muốn nói rằng: Bích Khê ảnh hưởng chủ nghĩa lãng mạn nhưng khi bắt tay vào làm thơ ông đã có ý thức muốn “Duy tân” thơ mình (để khác những tên tuổi lãng mạn đã nổi như cồn lúc đó) bằng cách chọn cho mình lối biểu đạt theo chủ nghĩa tượng trưng.
Mở đầu trường phái tượng trưng Pháp chính là Baudelaire với tập “Những bông hoa ác”. Tập thơ ra đời năm 1887 đã làm chấn động dư luận Pháp, đã bị toà kết án vì lần đầu tiên ông đã thi vị hoá cái Xấu, cái Ác. Ở mặt ảnh hưởng này ta thấy Chế Lan Viên, Bích Khê và Hàn Mặc Tử nổi lên như ba đại diện tiêu biểu của thơ mới. Có điều cái thế giới “Điêu tàn” đầy sọ người, xương tuỷ của Chế Lan Viên tạo cho ta cảm giác rờn rợn của những hồn ma Chiêm nữ (có phần nặng yếu tố tự nhiên chủ nghĩa). Cái thế giới ràn rụa của máu, của hồn, của tinh lực trong thơ Hàn Mặc Tử đã có sự ngã nghiêng giữa hai bờ tượng trưng và siêu thực nên có vẻ huyền ảo, là lạ quen quen. Còn Bích Khê thực sự đã thi vị hoá cái tội lỗi, nhuốc nhơ, rùng rợn thành cái cao siêu, nhơn đức, thơm tho, khoái lạc nữa... Cái “Sọ người” rùng rợn với Bích Khê lại là một “khối mộng” cho “hồn thơ chếnh choáng”, một “buồng xuân hơ hớ”, “một bình vàng”, “chén ngọc đầy hương”, cả một hồ trăng lấp loáng và chứa ở đó cả một sự sống đầy tình thương “người chứa một trời thương”. Và nếu không biết cái đầu đề là “Sọ người” thì chẳng ai có thể nói rằng tôi “sợ quá” “rùng rợn quá” hết, vì có ai nghĩ rằng đây lại là cái đầu lâu khủng khiếp ấy:
Người yên tịnh nhưng người đi muôn dặm
Máy thu thanh hoà âm nhạc thơm tho!
Miệng yêu kiều mơn ánh sáng say no!
Nguồn trinh tiết gây hồng tươi xanh thắm!
Bầu sữa người êm mát vạn sầu lo
Không những là âm nhạc thơm tho với chiếc miệng yêu kiều “cười mê ánh sáng” (Hoàng Cầm) mà còn là nụ, là mầm trinh nguyên làm tươi mơn cuộc sống, là bầu sữa làm ngọt ngào và xua tan cả vạn sầu lo. Nếu không phải là cách thi vị hoá của chủ nghĩa tượng trưng làm sao Bích Khê viết được cái “sọ người” như thế.
Còn đây nữa, ta thấy những “đau” “chôn”, “sâu hóm”, “huyệt” “vạn thước sâu”, “mồ người”, nhưng hãy thử đọc xem, tất cả đã trở thành “ước mơ” thành “tình yêu”, thành “xuân mười bốn” và cuối cũng là quấn lấy nhau trong tình yêu vĩnh cửu:
Hãy khép trong đau để ước mơ
Để yêu lờ lặng những trang thơ
Để chôn tất cả hờn vô tận
Sâu hóm trong đây huyệt chữ mờ
Huyệt chữ bằng tinh vạn thước sâu
Mồ người thi sĩ rất đa sầu
Mồ người mỹ nữ xuân mười bốn
Hai đứa ôm nhau cắn lấy nhau
Nguyên tắc mỹ học của chủ nghĩa tượng trưng như đã nói ở trên là sự tương giao, tương hợp. Baudelaire quan niệm: Vũ trụ là một thể thống nhất, trong đó tất cả đều tương ứng với nhau. Có sự tương ứng giữa tự nhiên và cái siêu nhiên, có sự tương ứng giữa thế giới này với thế giới đằng sau đầy bí ẩn, đặc biệt là sự tương ứng giữa các giác quan “Mùi hương, màu sắc và âm thanh tương giao cùng nhau”, “Có những mùi hương mát như da thịt trẻ con, ngọt ngào như tiếng sáo, xanh mượt như cỏ non” (Baudelaire - Tương ứng)
Tìm ra những câu, những đoạn thể hiện sự tương hợp này trong thơ Việt Nam không khó. Vì thực ra, thuyết tương giao giữa vũ trụ và con người của chủ nghĩa tượng trưng lại rất gần với tư tưởng “vũ trụ vạn vật nhất thể” trong triết lý phương Đông. Vấn đề là sự tương giao này được thể hiện ở rất nhiều phương diện. Tự nhiên ở đây không còn là đối tượng để thi nhân chiêm ngưỡng, tôn trọng như trong thơ cổ phương Đông. Nó tương giao qua trực giác của con người và con người cảm nhận nó bằng sự trực giác bí ẩn về mối quan hệ tương hợp ấy. Để dễ thấy, tôi xin chọn nguyên bài thơ “Hiện hình” trong “Tinh huyết” của Bích Khê làm dẫn chứng. Trong “Hiện hình”, đầu tiên là sự tương giao giữa vũ trụ và con người: “Gió đa tình hôn”, “Gió đi chới với”, “mặt hoa thơm tho mùi thịt”, “người thiếu nữ hiện trong trăng”, “da thịt ý tuyết băng”, “mát như xuân”, “người lộ mỏng như sương”, “khung trắng trời mây trắng”. Rồi đến sự tương ứng giữa các giác quan: “thơm tho mùi thịt”, “da thịt phô bày”, “ngọt tợ hương”, “rào rạt nỗi cảm thương”. Đến sự tương ứng về màu sắc: “khung trắng”, “khăn hồng”, “màu trăng”, “mây trắng”... Nhưng tới đây, ta cũng chỉ mới thấy sự tương hợp này bằng trực cảm. Nếu trực giác thì ta sẽ tìm ra sự tương ứng khó lòng mà phân biệt rạch ròi. Đó là một sự tương giao tổng thể. Tương giao giữa thiên nhiên, con người, thơ, hoạ và nhạc, hương, vị... và cả mọi giác quan:
Gió đi chới với trong khung trắng
Lộ nửa vần thơ nửa điệu ca…
…Nàng hé môi ra. Bay điệu nhạc
Mát như xuân mà ngọt tợ hương…
…Rào rạt như nỗi cảm thương
Tiếng nhạc màu trăng quấn quýt nường…
… Nàng tan ra nhạc? Tan ra nhạc!
Khung trắng trời mây trắng lạ thường…
Một sự tương giao đan xéo, bện chặt với nhau khó lòng tách biệt, ta chỉ có thể nhận ra sự “HIỆN HÌNH” này bằng trực giác.
Còn rất nhiều bài, nhiều đoạn như thế trong thơ Bích Khê nói lên sự ảnh hưởng của nguyên tắc mỹ học và đặc điểm của thơ tượng trưng. Ở đây, tôi xin phép chỉ được đề cập đến một đặc điểm nổi bật nhất trong những đặc điểm ấy. Đó là tính nhạc.
Chủ nghĩa tượng trưng đề cao âm nhạc trong thơ vì họ quan niệm âm nhạc là nghệ thuật cao siêu nhất. Thật ra, ở phương Đông, truyền thống “trung thi hữu nhạc” cũng đã xuất hiện từ lâu, song yếu tố nhạc trong thơ phương Đông truyền thống chỉ xuất hiện bên cạnh các yếu tố khác. Còn trong thơ lãng mạn, từ yếu tố nhạc truyền thống, các nhà thơ đã ảnh hưởng chủ nghĩa tượng trưng nên có xu hướng biến mỗi từ trong thơ thành một bán âm của nhạc. Ở lĩnh vực này, có lẽ không ai có chủ định hơn Bích Khê. Nâng cao nhạc tính trong thơ, Xuân Diệu có “Nhị hồ”, Nguyễn Xuân Sanh có “Tiếng địch”. Nghĩa là mỗi người chỉ có một bài. Trong khi đó, để “Duy tân” thơ, Bích Khê đã thể nghiệm hàng loạt bài tạo nên cả một thể loại thơ toàn chỉ vần bằng. “Cái đáng cho ta yêu Khê, bắt ta tìm đến anh, phải lôi anh ra khỏi lãng quên, đó là chất nhạc của thơ anh”(8). Trong hàng loạt bài thơ đậm chất nhạc này mà các nhà nghiên cứu đã kể ra, đã dẫn chứng, tôi xin được chọn bài “Hoàng hoa” (Tinh huyết).
Ở “Hoàng hoa”, chất nhạc bao trùm lên toàn bài bởi “bán âm” toàn vần bằng, rồi lại tương giao quyện cùng màu sắc. Nhưng đây là màu của trực giác mang tính biểu tượng: “màu lưng chừng trời”, “màu phơi nơi nơi”, “màu ôm vai gầy”. Nghĩa là màu lam kiểu lưng chừng trời, màu xanh kiểu phơi nơi nơi, màu vàng kiểu ôm vai gầy chứ không phải kiểu “Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc” (Hàn Mặc Tử) hay là “in như chiếc lá hết thì tươi xanh” (Xuân Diệu). Nghĩa là một loại màu tượng trưng thật sự, một loại màu không thể vẽ lại bằng hội hoạ.
Nhạc tính ở đây còn được Bích Khê “kí âm” bằng kiểu lặp ngữ, lặp từ, lặp vần thường thấy trong âm nhạc. Đọc lại thử những câu này ta thấy hình như không thể ngâm mà phải hát “ Đây mùa hoàng hoa, mùa hoàng hoa”, rồi “Ngàn khơi, ngàn khơi, ta, ngàn khơi” (đã là thơ chắc không cần phải dùng nhiều dấu câu trong một câu như thế) hoặc những câu đầy âm vang “Làm mây theo chàng lên yên nhung”, “Non yên tên bay ngang muôn đầu”, “Ai xây mồ hoa chôn đời tươi”... Muốn hát nhưng nó lại là thơ. Đó chính là thơ tượng trưng vậy.
Cách ngắt nhịp trong toàn bài thơ thử mã hoá bằng số ta mới thấy cái chủ ý nhạc hoá thơ của Bích Khê (4 câu đầu bài đều nhịp 2/2/3, 2 câu cuối khổ lại chuyển sang 4/3. Hai câu đầu khổ 2 nhịp 4/3 đến câu 3 chuyển sang 2/2/1/2, câu 4 trở lại 4/3, câu 5 đổi sang 2/2/3 rồi câu 6 lại về đúng “hợp âm chính” với nhịp 2/2/3. Đến khổ thơ cuối: 2 câu đầu đẩy sang nhịp 2/5 rất lạ, câu 3, câu 4 sang nhịp 4/3 và 2 câu cuối cùng lại trở về nhịp (hợp âm) xuất phát theo nguyên tắc của nhạc, nhịp 2/2/3). Nghĩa là cái nhịp 2/2/3 ấy là “tiết tấu” chủ đạo (chủ âm) của toàn bài thơ. Thì ta cứ thử quên thơ để hát lên 2 câu cuối của Hoàng hoa sẽ nghe âm nhạc tràn đầy.
Ai xây /bờ xanh/ trên xương người
Ai xây/ mồ hoa/ chôn đời tươi”?
Còn rất nhiều những vấn đề cần phải nói về ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng phương Tây trong thơ Bích Khê một cách cụ thể hơn. Nhưng có lẽ với phạm vi một bài viết nhỏ, chúng tôi xin được đề cập một số vấn đề nổi trội nhất về những yếu tố của chủ nghĩa tượng trưng như thế.
Lẽ ra trong quá trình làm bài khi lấy dẫn chứng cần phải lấy đại trà ở nhiều bài để thấy ảnh hưởng “diện” của các yếu tố tượng trưng trong thơ Bích Khê. Nhưng người viết xét thấy rằng, những câu thơ, đoạn thơ mang yếu tố tượng trưng cao đã được nhiều sách lấy làm dẫn chứng. Ở đây chúng tôi muốn nhấn vào “điểm”. Và cái chủ ý nhấn này cũng muốn nói một điều, theo tôi, đó là: Xuân Diệu đứng cả hai chân vững vàng ở bờ lãng mạn với tay hái những chùm tượng trưng, Hàn Mặc Tử thì cả hai chân cũng đứng vững trên nền của chủ nghĩa lãng mạn, nhưng hai chân cứ nhún nhảy (tất nhiên phải kết hợp cùng tay) một cách điệu nghệ với tượng trưng, siêu thực và cuối đời lại men theo lối Chúa. Còn Bích Khê thì một chân trụ vững ở bờ chủ nghĩa lãng mạn nhưng một chân kia đã đưa sang và gần chạm đến bờ (một tay níu giữ bên này để một tay trườn sang bên kia) tượng trưng chủ nghĩa một cách có chủ ý, ngay từ đầu cầm bút. Vì vậy, có lẽ đây mới chính là tâm điểm để ta nghiên cứu “cái gien trội” của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ lãng mạn 1932-1945. “Tính chất uẩn khúc, huyền ảo, siêu thực trong thơ tượng trưng đã được Bích Khê thể hiện qua hàng loạt các bài thơ trong tập thơ Tinh huyết (Duy Tân, Tranh loã thể, Giờ trút linh hồn). Có thể nói “hình ảnh Rimbaud, cú pháp Mallarmé, kiến trúc và triết lý của Valéry” đã tạo dựng cho Bích khê một thứ “thơ vàng ròng” đậm tính tượng trưng... Ba yếu tố tượng trưng, huyền diệu, truỵ lạc của tập thơ Tinh huyết đã làm cho Bích Khê trở thành một cây bút khác hẳn với khuynh hướng lãng mạn”(9).
Nguồn:
Bích Khê - tinh hoa, tinh huyết (Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về Bích Khê), Nxb Hội Nhà văn, 2008.
Tạp chí Thơ, Số 01/2011.
Chú thích:
(1) và (4) - Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, tái bản lần thứ 25, Nxb Thanh Hóa, 2006
(2) và (3) - Nxb Hội Nhà văn, Bích Khê - Tinh hoa, Tinh huyết, 2008.
(5) - Đoàn Rạng, Mười thế kỉ văn chương Pháp, Sài Gòn, 1962.
(9) - Trần Huyền Sâm, Tiếng nói thơ ca, Nxb Văn học, 2002
SỰ BÍ MẬT CỦA TÀI NĂNG
Hữu Thỉnh
Thế kỷ 20 của Việt Nam là thế kỷ của những cuộc cách mạng, cách mạng dân tộc, cách mạng xã hội, cách mạng văn chương, tất cả những cuộc cách mạng ấy đã làm xuất hiện một nước Việt Nam mới với diện mạo giá trị, vị trí chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Trong văn chương, phong trào Thơ Mới là một cuộc duy tân ngoạn mục đầu tiên nhằm hiện đại hóa nền văn học nước nhà. Chỉ trong 10 năm đã xuất hiện cả một lớp thi sĩ tài danh đủ sức làm nên một thời đại mới trong thi ca chấn động văn đàn. Cuốn theo nó là một đội ngũ đông đảo bạn đọc trẻ tuổi đang khao khát đi tìm những đại diện tinh thần của mình. Hơn nửa thế kỷ đi qua, tới nay ta cũng không khỏi ngạc nhiên vì sao một dòng thơ mới mẻ, lạ lẫm như vậy lại chín sớm, kết tinh sớm, chuyên nghiệp sớm đến như thế. Ở đây hẳn có sự bí mật của tài năng. Trong số những đại diện hàng đầu của thơ mới, Bích Khê 1à một trường hợp dâng hiến và vắt kiệt triệt để nhất cho thơ. Trước hết ông phải tự phá bỏ cái khuôn sáo, cái tù túng, cái gò gẫm ngay trong bản thân mình, đó là truyền thống Nho học của gia đình. Nó có thể rất lợi thế đối với con đường khoa cử nhưng nó lại là một cản trở chết người đối với một thi nhân. Sau nữa, trước những tài năng cùng lứa đứng ken dày trên thi đàn, và mỗi người lúc ấy đã hình thành hẳn một bản sắc riêng không trộn lẫn, Bích Khê rồi đây sẽ xuất hiện với một diện mạo, một bản sắc nào đây, câu hỏi này không phải dễ đối với một nhà thơ, không phải dễ đối với một đời thơ. Theo dõi hành trình sáng tạo của ông chúng ta thấy Bích Khê đã phải làm một cuộc tự khám phá dũng cảm và không thỏa hiệp, để cuối cùng ông đã hái được những chùm quả tượng trưng và siêu thực đầu mùa cho Thơ Mới, một dòng thơ lúc đó đang cuộn xiết. Chủ yếu trong dòng chảy lãng mạn kịp khi phát hiện ra chính mình và tin rằng mình sẽ là người bổ sung đích đáng cho Thơ Mới thì quỹ sống của Bích Khê không phải chỉ tính bằng năm mà là bằng tháng. Và thế là một cuộc ruồng đuổi ép mỏng mình đã diễn ra trong sáng tác. Thành công nhất của Bích Khê, một khuôn diện khác trong tài năng của Bích Khê là tình yêu khắc khoải và sự gắn bó máu thịt với quê hương Quảng Ngãi, nó cụ thể đến từng địa danh, từng con người, từng cây cỏ từng câu chữ để trở thành một ám ảnh, một khắc khoải, một hồn cốt trong thơ ông, nhưng chính ông lại là người biết mau chóng đồng qui nó với cái mẫu số chung, những đồng cảm chung, đồng điệu chung của âm hưởng hồn Việt. Chính điều này lý giải vì sao một thi nhân đề cao cái tuyệt đối như Bích Khê lại không bị rơi và héo hắt cạn kiệt. Một con người yêu thơ, yêu xứ sở, yêu con người đến như vậy, khát vọng cái mới đến như vậy, tất nhiên sẽ là người hờ hởi chào đón cuộc đổi đời to lớn của dân tộc. Đó là Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tôi nghĩ rằng Chế Lan Viên rất thành thật và thỏa đáng khi đánh giá Bích Khê bằng những dòng trân trọng sau đây:
“Có những nhà thơ làm thơ, có những nhà thơ vừa làm thơ vừa đẩy lịch sử thơ ca duy tân thêm một bước. Có những nhà thơ đem đến mùa lương thực, lại có những nhà thơ cầm một nhúm hạt giống trên tay - Bích Khê thuộc dòng thứ hai, thuộc người thứ hai”.
Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh và 60 năm ngày mất của Bích Khê - một nhà thơ tài năng của Quảng Ngãi, cuộc hội thảo của chúng ta hôm nay nhằm khẳng định, đánh giá tài năng của Bích Khê và tôn vinh xứng đáng đối với ông. Hơn nữa cái quan trọng hơn là chúng ta đem hạt giống trên tay thi sĩ chọn lựa để gieo lấy một mùa mới cho nền thi ca đang khát khao đổi mới của chúng ta. Trên ý nghĩa đó, thay mặt BTC tôi xin tuyên bố khai mạc hội thảo, một cuộc hội thảo từ lâu chúng ta chờ đợi - Hội thảo thơ Bích Khê.
Xin cảm ơn và kính chúc hội thảo của chúng ta thành công tốt đẹp.
Nguồn:
Bài phát biểu khai mạc Hội thảo về Bích Khê, nhân 90 năm sinh và 60 năm mất.
Quảng Ngãi, 20-21/2/2006 (đầu đề do Ban Biên Soạn đặt)
BA KHÚC CA NGẮN VỀ BÍCH KHÊ
-Thanh Thảo
Thơ tự bản thân nó là nguy hiểm. Nó nguy hiểm trước hết với người đẻ ra nó, là nhà thơ. Nhiều nhà thơ đã chết vì thơ của mình. Không phải cơn bệnh lao tứ chứng nan y đã giết Bích Khê. Chính là thơ ông đã giết ông. Có lần, cùng đi với nhà văn Nguyễn Trung Đức về Thu Xà viếng mộ Bích Khê, tôi chợt nhận ra điều đó. Thơ Bích Khê đã hút hết Tinh hoa và Tinh huyết của ông, làm gì Bích Khê chẳng chết sớm. Ông chết, nhưng thơ ông sống. Kể từ ngày Hàn Mặc Tử nhận được ba bài thơ đầu tiên của Bích Khê (sau đó in trong tập Tinh huyết), ba bài thơ đã khiến Hàn thi sĩ “sửng sốt với cái khởi điểm của một thiên tài sắp sửa”, chính từ thời điểm 68 năm sau, thơ Bích Khê bắt đầu một cuộc tái sinh, bắt đầu một cuộc sống khác, có thể là mạnh mẽ hơn, nhiều sức bùng nổ hơn. Bởi giờ đây, Thơ Bích Khê kêu gọi một sự hy sinh toàn diện cho Thơ, kêu gọi một cuộc thánh chiến với cái bất khả. Nhà thơ, kẻ bị khinh bỉ ấy trong một thế giới hiện đại, sẽ đứng lên và vung lưỡi gươm thơ mà thần linh trao cho người, như Bích Khê từng vung :
“Người cho ta một thanh gươm rất sắc ?
Ồ vung lên... cắt mạch nguyệt vàng xanh !
Xẻ mạch trời, mây xô sao, răng rắc !
Phăng mạch đêm - hương vỡ, ứa ngầm tinh !
Người cho ta một thanh gươm rất sắc ?
- Ta điên rồ... múa giữa áng bình minh”
(Mộng cầm ca)
Đời thơ Bích Khê có thể chia làm ba đoạn 1. Lên núi 2. Rơi, 3. Chết như mơ, trong đó đoạn đầu là đề-pa, là chuẩn bị, đoạn cuối chỉ để trình bày cái chết của mình và giấc mơ của Thơ, còn toàn bộ thơ Bích Khê nằm ở đoạn Rơi.Với những bài thơ hay, thi sĩ sáng tạo với toàn bộ thể xác và tâm linh mình, và không biết cái nào bắt đầu trước : thể xác hay tâm linh ? Khi thể xác đang rơi, ấy là lúc tâm linh bay, và thơ thoát.Một khoa học gia nhà binh đã khuyên tôi: “Anh cứ hay rắc rối, thơ phải rõ ràng, và phải có hạt nhân du lý.”Vâng, anh nói đúng, thơ rắc rối bao giờ cũng rõ ràng, còn thơ nguyên chất, thơ chắt ra từ máu huyết, thơ trong suốt, thì lại không có gì rõ ràng cả. Thơ Bích Khê như nước sông Trà mùa nắng, cái trong suốt của nó chứa biết bao mặt trời, và cái lặng của nó là hoà điệu giữa bầu trời và mặt đất được phản chiếu qua nước. Một con người có thể thu hút được tinh hoa của đất và nước quê hương mình với tất cả niềm vui, tất cả khổ đau, tất cả lặng thầm, thu hút vào máu huyết mình, và một ngày nào đó, từ máu anh thăng hoa những dòng thơ. Đó phải chăng là một quy trình duy lý? Không, đó là một qui trình bí ẩn.
THƠ LÀ LÚC ĐANG RƠI
Bích Khê có một bài thơ in trong tập Tinh huyết, bài thơ mang tựa đề rất mới, so với tất cả các tựa đề của thơ tiền chiến : Nàng bước tới. Đó là một tựa đề rất động, rất tự nhiên, rất bình thường, và như thế, là hiện đại, theo cách hiểu của chúng ta bây giờ. Giữa một hình thức đã ổn định của câu thơ tiền chiến, Bích Khê quẫy cựa :
“Ai giam lỏng một vì sao giữa mắt
Ánh con ngươi hàm súc biết bao lời ?
Lời truyền sóng đánh điện khắp muôn trời
Chữ bí mật chứa ngầm hơi chất nổ
Nàng bước tới là tim tôi lay đổ”
Khí chất này có hơi hướng Hàn Mặc Tử. Ở một số bài thơ khác của Bích Khê, lại có hơi hướng của những thi sĩ bậc thầy Pháp thế kỷ XIX. Nhưng làm sao khác được khi nhà thơ muốn tìm con đường riêng của mình, để thu nhận và vượt thoát, để làm nên một giá trị mới cho thơ, giữa một không khí xã hội tù đọng, bảo thủ, dị ứng với những cách tân. Hình như Bích Khê rất thích André Gide, một bậc thầy cách tân quyết liệt trong văn xuôi Pháp đầu thế kỷ XX, thích đến mức ông đã dịch cuốn hồi ký “Trở về từ Liên Xô” của Gide để sau này cứ bị nghi kỵ là “phần tử Trốt-kít”. Những người tìm đến sự hoàn mỹ của hình thức nghệ thuật thường dễ gặp nhau. Mà trong nghệ thuật, trong thơ, hình thức là gì ? Hình thức chính là sự hiện diện nghệ thuật riêng biệt của từng nghệ sĩ. Không có cái hình thức đó, thì cũng chẳng bao giờ có nghệ thuật. Nếu nhà thơ là “Con chim ngứa cổ hót chơi” như Xuân Diệu định nghĩa, thì Bích Khê chính là con chim hót chơi có ý thức, muốn tìm cho mình một giọng riêng, một giọng khác. Giọng ấy có lúc trở nên thách thức :
“Cho chân lý ngời ra như lưỡi kiếm
Cho tình ta xô dồn sang cực điểm
Và hào quang khiêu vũ với hào quang”
(Nàng bước tới)
Và
“Ta nhịp nhàng ý nhị nhịp theo ta”
(Duy Tân)
Không khẳng định được cá nhân sáng tạo thì cũng chẳng bao giờ có sáng tạo - thông điệp ấy của Bích Khê đến giờ vẫn mang ý nghĩa thời sự. Sự toàn tâm toàn ý cho thơ, dâng hiến cả sinh mạng mình cho thơ như Bích Khê thật đáng làm gương cho những nhà thơ đương đại. Không đòi hỏi, không mặc cả, chẳng bao giờ nghĩ tới “đầu ra” dù “đầu ra” ấy có là giải Nobel chăng nữa, chỉ biết sống và thở vì thơ, sống cho thơ tới giấy phút cuối.
Có thể đưa nhiều dẫn chứng về sự hi sinh vô tư cho thơ của Bích Khê. Chính từ đó đã dẫn tới những cách tân, những khai phá, từ lời chữ đến nhịp nhạc, hình ảnh trong thơ Bích Khê. Những tìm tòi ấy không vô ích, nó đã đưa thơ ông đứng riêng, tách biệt với dòng thơ đương thời, để sau này Chế Lan Viên có được nhận định : “Nếu Nguyễn Bính là một miền đồng bằng thân thuộc, thì Bích Khê là một đỉnh núi lạ”. Nhận định ấy không quá đáng, chính Bích Khê đã tiên cảm được số phận long đong nhưng không hư mất của thơ mình :
“Hồn tôi đã thoát để tiêu dao
Những tờ thơ nát đầy hơi hám
Tay khách đa tình sẽ chuyển trao”
(Nấm mộ)
Và như thế, đầy tự tin, Chàng bước tới ! Nhưng tự tin bao nhiêu, thì cô đơn, đau buồn bấy nhiêu, đó cũng là số phận dành cho thi sĩ :
“Là lúc đêm về trên mái ngói
Những nhành nhãn muộn cánh dơi lay
Em đang nổi bệnh trong phòng vắng
Tình đậm theo trăng sáng sáng đầy...”
(Làng em)
Không phải đỉnh núi hay đáy vực làm nên thơ hay, mà chính là lúc đang rơi, lúc lơ lửng giữa đỉnh và vực là lúc mà nhà thơ có được những thi phẩm xuất thần. Với những bài thơ Duy Tân hay Xuân tượng trưng, hồi đó được coi là rất mới, hoặc tới mức khó chấp nhận, thì bây giờ đọc lại thấy cũng mới vừa vừa hoặc đã cũ, chắc vì trong những bài ấy, phần can thiệp của ý thức quá rõ, quá mạnh, phần không tự giác, phần thiếu ý thức hơi ít. Trong khi những bài thơ như Hàn Mặc Tử, hay Làng em, hay Nấm mộ bây giờ đọc lại vẫn thích, vẫn gây được xúc cảm mới, vì trong đó, phần cảm giác đã được đẩy lên thành tiên cảm, những vết thương phơi trần ra, phần ý thức chìm lặng, ngôn ngữ thơ trở nên mờ đặc, như những viên gạch xây giản dị nhưng che khuất cái khoảng trống bên trong. Với những bài thơ hay thi sĩ sáng tạo bằng toàn bộ thể xác và tâm linh mình, và không biết cái nào bắt đầu trước : thể xác hay tâm linh ? Đó là những bài thơ người ta chỉ phóng ra có một lần, xuất ra có một lần, rồi ngắt. Phần tích điện, phần thu góp năng lượng là cả một quá trình, nhưng sáng tạo là khoảnh khắc. Khoảnh khắc ấy xảy ra càng đột ngột bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Vì thế, những bài thơ Bích Khê phải dùng nhạc điệu để đưa dần thơ vào “cõi quên”, “cõi mê”, tức là đưa dần ý thức vào vô thức, phần thành công khó được trọn vẹn cả bài, mà chỉ được từng đoạn, những đoạn thơ đã nhập, như kiểu nhập đồng. Có thể dẫn chứng bài Tỳ bà, một bài thơ nổi tiếng của Bích Khê. Hoài Thanh đã không nhầm khi trích hai câu cuối của bài :
“Ô! hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi ! Vàng rơi ! Thu mênh mông”
Đó là hai câu thơ đã nhập, khi hình ảnh và âm nhạc hoà làm một, và câu thơ tự nhiên buột ra, ngoài sự kiểm soát của ý thức.
Rồi người ta sẽ còn viết về Bích Khê, mỗi khi thơ tự cởi bỏ cho mình những ràng buộc ngoài thơ. Bích Khê đã sống và chết cho Thơ, vì Thơ, nội điều đó cũng là một cái gì an ủi cho Thơ, cho những người làm thơ, nếu họ không muốn dùng thơ làm bậc thang hay gậy chống. Viết về thơ Bích Khê, những nhà thơ cùng thời với ông, những nhà thơ bạn thân của ông như Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, đã viết rất hay. Đó là điều dễ hiểu : viết về người cùng thời bao giờ cũng thích thú hơn, dễ chia sẻ hơn, bởi vì viết về bạn cũng là viết về mình, những khao khát và những được mất của mình. Nhưng những nhà thơ có khả năng hiện diện tới đời sau, tới những thế hệ sau, cũng cần được những người đời sau nhìn nhận theo cách của họ, với thời đại họ. Tôi tin, Bích Khê còn được yêu mến và còn bị hiểu nhầm, không chỉ ở quê hương núi Ấn sông Trà của ông. Được yêu mến và bị hiểu nhầm, đối với một người sáng tạo, một nhà cách tân, là một niềm hạnh phúc. Bích Khê là một nhà thơ có hạnh phúc.
MỘT CÁNH BUỒM ĐƠN ĐỘC
Tôi đọc bài thơ Thi vị của Bích Khê, và lập tức tôi nhớ đến Lorca. Đây là lời thơ của một ca khúc, ở dạng thơ này Lorca đã có nhiều bài thành công. Không biết đã có nhạc sĩ nào ở ta phổ bài Thi vị chưa ? Hãy nghe :
“Lá vàng rơi
(Tôi khóc, anh ơi !)
Đàn rung tiếng
Người yêu đương ngồi...?
Năm đoạn thơ với âm thanh nhấn đi nhấn lại, với sắc vàng ám đi ám lại, tạo những rãnh hằn trong tâm thức người nghe. Những đoạn thơ mới đọc lên đã thấy nhạc, nhạc đến trước cả hình ảnh và ý nghĩa. Lorca mất năm 37 tuổi, còn Bích Khê, 30 tuổi. Cả hai người đã tìm được âm nhạc của thơ mình, rút chất nhạc-thơ ấy từ máu mình, dòng “tinh huyết” lưu chuyển từ nghìn đời của dân tộc mình. Nếu với Lorca, tinh huyết ấy là hoà huyết từ những nguồn xa xưa Do Thái, Arập trên xứ sở Andalusia, thì với Bích Khê, đó có thể là hoà huyết Chàm-Việt-Trung Hoa. Vâng, Bích Khê là một chàng lai khách: “Những nàng lai khách vẫn buồn mơ” cơ mà. Nhưng nói cho cùng, thi sĩ bao giờ cũng là lai khách, họ ăn vào giống lai, họ thuộc thành phần đa chủng. Khi viết về Bích Khê, không hiểu sao tôi lại nhớ đến hình ảnh cánh buồm đơn độc trong thơ Lermontov, một hình ảnh đã ám ảnh tôi nhiều năm khi còn trên ghế nhà trường. Có thể vì Bích Khê cũng đã từng ngụ trên một chiếc bè xuôi ngược sông Trà, chiếc bè với một cánh buồm nhỏ, không thách thức với sóng gió, không “cầu mong bão tố” như cánh buồm Lermontov, mà chỉ lặng lẽ thách thức với chính mình, một sự thách thức cũng không hề kém quyết liệt : “Trong sáu tháng tới sẽ trở thành một thi sĩ phi thường. Bằng không, sẽ không bao giờ làm thơ nữa !”. Và sau sáu tháng ấy, Bích Khê có Tinh huyết, tập thơ đã đưa thơ Việt Nam về một hướng cách tân có ý thức. Nhưng để có sáu tháng “bùng nổ” ấy, Bích Khê đã có nhiều năm tích chứa năng lượng, nhiều năm dằn vặt, trăn trở, sống chết với thơ. Không phải Bích Khê không đủ sức thành danh như nhiều nhà thơ mới khác cùng thời, để phải làm một cuộc “duy tân” theo kiểu “được ăn cả ngã về không” như thế. Như lời một bài hát mà thế hệ chúng tôi thường hát, ông đã “đi theo tiếng gọi từ trái tim mình”, ông đã đi theo tiếng gọi từ thiên năng của mình. Ông không có gì cả, ngoài lòng tự tin. Tự tin sẽ làm được một cái gì cho Thơ. Và thực tế, ông đã làm được. “Tin vào tư tưởng của chính bạn, tin rằng cái gì đúng với bạn trong cõi riêng tư của bạn cũng là đúng cho tất cả mọi người”. (Emerson). Bích Khê đã tin như thế. “Đó là thiên tài”. (Emerson).
“Những con cừu tim trẻ mướt như lông
Nên da thịt lên làn sa lụa mỏng
Mỗi con cừu bốc lên men hy vọng...”
(Duy Tân)
Mỗi con cừu ấy là một con chữ, trắng trong, tinh khiết, ấp ủ những hy vọng Thơ. Nhà thơ rút từ tâm hồn mình những con-cừu-thơ ấy, và thả chúng lang thang trên cánh-đồng-trang-giấy, những-con-cừu-chữ ấy sẽ tạo nên một không gian riêng:
“Buồn, và xanh trời. Tôi trôi với bờ
Êm biếc-khóc với thu: lời úa ngô
Vàng... khi cách biệt - giữa hồn xây mộ”
(Duy Tân)
Những con chữ rải rác, những hình ảnh rải rác mà người đọc rất khó tìm sự liên kết chặt chẽ của lý trí, nhưng toàn thể chúng bao giờ cũng hướng tới một cái gì, cùng khắc khoải một điều gì : đó là cái Đẹp. Thơ đi giữa cái có ích và cái vô ích nên nó thường bối rối, thường lưỡng lự. Nếu không tìm được tiếng kèn xung trận trong thơ Bích Khê thì ngược lại, ta có thể nghe trong thơ ông tiếng sáo mùa thu lơ lửng giữa sắc xanh của trời và sắc vàng của đất quê hương : “Tràn âm hưởng như chiều thu sóng trắng - Trong vòm xanh - Màu cưới màu, bình lặng” - Chẳng lẽ thơ ấy lại không cần thiết cho tâm hồn con người ? Khi thơ được làm ra bởi một tâm hồn thanh khiết, thì dẫu có vẽ tranh “loã thể”, người đọc cũng chỉ cảm nhận được cái đẹp, duy cái đẹp mà thôi :
“Hai vú nàng ! Hai vú nàng ! Chao ôi !
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng
Ôi lồ lộ một toà hoa nghiêm động
Tôi run run hãm lại cánh hồn si...”
(Tranh lõa thể)
“Run run hãm lại...” là dừng ở giới hạn mong manh của chiêm bái và chiếm đoạt. Những câu thơ đầy cảm giác như thế chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới dòng thơ đương đại. So với thơ Mới thời của ông, Bích Khê đã đi trước một bước. Đúng như nhận định của Chế Lan Viên : “Có những nhà thơ đem đến một mùa lương thực. Lại có những nhà thơ cầm một dúm hạt giống mới trên tay. Khê thuộc vào hạng thứ hai”. - “Một nắm hột khuya rắc vào Bến lạ” (câu thơ Đặng Đình Hưng), cái Bến Lạ muôn thuở bí mật của tâm hồn con người mà thi sĩ tự nguyện dò tìm, đưa cả sinh mạng mình ra để dò tìm. Bích Khê là một thi sĩ như vậy. Cùng với Hàn Mặc Tử, ông đã kích thích sự tìm tòi, sự không thoả mãn cho những nhà thơ lớp sau. Sự sáng tạo bao giờ cũng có phần may rủi, phần phải trả giá. Nhưng nó cũng đưa lại một nguồn hạnh phúc không gì sánh được. “Ngàn khơi, ngàn khơi, ta, ngàn khơi!”. Bích Khê đang hạnh phúc.
“Ô, hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi ! Vàng rơi ! Thu mênh mông”
(Tỳ Bà)
Đó là “mùa thu vàng” của Việt Nam mà chắc chắn Lê-vi-tan hoàn toàn cảm nhận được. Một màu vàng trong suốt như hổ phách.
SÁU MƯƠI BẢY NĂM TINH HUYẾT
Tập thơ Tinh huyết của Bích Khê với lời tựa của Hàn Mặc Tử và lời bạt của Trọng Miên chào đời năm 1939, Tết này là vừa tròn sáu mươi bảy tuổi. 67 tuổi với đời người là đã lên lão, nhưng với Tinh huyết thì vẫn còn trẻ. Nếu đây là tập thơ được viết chỉ trong vòng ba tháng, nhờ sự “kích động” của Hàn Mặc Tử, thì ta có thể coi đó là thời hạn “mang thai” vào loại ngắn kỷ lục đối với một tập thơ mà tuổi thọ nay đã trên 60. Bích Khê đã “đi lại” với thơ trước đó ngót chục năm, trong đó có gần 4 năm đánh bạn với Thơ Mới. Nhưng dường như với Thơ, không thể tính đến chuyện “thâm niên”, chuyện “sống lâu lên lão làng” được. Bởi thơ đến và đi bất chợt với từng nhà thơ. Để có ba tháng hoài thai Tinh huyết, Bích Khê đã nung nấu thơ cả một đời người. Đời Bích Khê có thể biểu diễn trên hai trục : trục ngang là con đường quốc lộ số I xuyên Việt với những điểm dừng như Huế, Hà Nội, Qui Nhơn, Phan Thiết, Sài Gòn. Còn trục dọc chính là con sông Trà, từ cửa sông Phú Thọ lên đến bến Tam Thương, chùa Thiên Ấn. Một đoạn sông đẹp như vẽ vào tiết Xuân-Hạ mà Bích Khê thuê hẳn một con thuyền thả lênh đênh cho cái hồn cái vía của dòng sông Trà ngấm hết vào ông. Bích Khê chưa từng “xuất ngoại”, nhưng liệu có nhà thơ hiện đại nào của hôm nay dám chơi trôi nổi trên một dòng sông suốt dăm sáu tháng trời như ông ? Mà Thơ lại cần những cuộc chơi lạ như thế, ít người chơi như thế, không phải để lập dị, để “khác người”, mà chỉ là để tự mở, tự khai thác các “kênh” còn ẩn khuất, còn bí mật trong con người mình, cho thơ và vì thơ. Bích Khê đã hết mình vì thơ, có thể nói, đời ông chỉ biết có thơ, chỉ có một tình yêu lớn nhất : tình yêu thơ. Ngày ấy, nếu nhiều văn sĩ thi sĩ trong Nam ngoài Bắc thường mỗi khi gặp nhau lại... lai rai bù khú, hoặc bên mâm rượu, bàn đèn, hoặc trong các phòng “karaokê-dân tộc” là phòng hát cô đầu, thì với các thi sĩ miền Trung như Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Yến Lan, Xuân Diệu, Tế Hanh... gặp nhau mỗi lần là mỗi lần tụng ca thơ, và trong tất cả các câu chuyện giữa họ, chuyện gì rồi cuối cùng cũng quay trở về chuyện thơ. Có lần, tôi đã đùa một anh bạn nhà thơ chuyên viết chuyện “đời danh nhân” : “Hình như tôi nhớ đoạn ông viết Hàn Mặc Tử gặp Bích Khê, ông có để Bích Khê kêu... bia Heineken mời Hàn thi sĩ, còn Hàn thì lắc đầu mà đòi... Hennessy ?” Có lẽ chuyện đùa ấy là chuyện... thường ngày của các văn thi sĩ bây giờ, chứ thời Bích Khê, Hàn Mặc Tử, các ông chưa hề đụng đến một giọt “nước có độ cồn” chứ đừng nói chuyện say sưa. Cái say duy nhất của họ, là say thơ. Nghe có vẻ cực đoan, nhưng đúng là như vậy. Và thơ cũng là niềm vui, niềm hạnh phúc lớn nhất đối với họ. Tôi đọc lại lời tựa của Hàn Mặc Tử cho tập Tinh huyết - “Bích Khê thi sĩ thần linh” - đọc mà cảm phục cái tình yêu trong sáng tuyệt đối, sự dâng hiến đến quên mình của họ cho cái Đẹp, cho Thơ, cùng với tình bạn vô tư không một chút đố kỵ, nhỏ nhen, cái tình bạn chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tôn vinh thơ, tôn vinh nghệ thuật. Nếu các nhà văn nghệ ở xứ ta bây giờ có được những tình bạn như thế, chắc rằng văn học ở ta sẽ không đến nỗi gì phải mặc cảm với thế giới. Sự ca ngợi của Hàn Mặc Tử với Bích Khê có vẻ hơi quá lời, nhưng hoàn toàn đó không phải là những lời tâng bốc dễ dãi. Sự “quá lời” ấy phát từ độ rung rất cực đoan của con tim Hàn thi sĩ, chỉ mong ước cho bạn mình đạt tới cõi thần diệu của thơ, và bạn đạt tới thì cũng như mình đạt tới, niềm hạnh phúc là của chung. Sự liên tài khi đó trở thành một động lực kỳ diệu cho sáng tạo. Vì sao, trong năm 1938, khi lần đầu nhận được rất nhiều thơ của Bích Khê gửi cho mình, cảm thấy thơ ấy chưa đạt, chưa “tới”, chưa thể hiện được tài năng tiềm ẩn của bạn mình, Hàn Mặc Tử đã viết thư cho Khê với những lời phê bình rất nặng nề, dùng “rất nhiều lời khiêu khích mỉa mai” ? Nếu không yêu bạn đến thế, và nhất là không yêu thơ đến độ “quên mình”, chắc Hàn Mặc Tử cũng chẳng bao giờ viết một bức thư nặng nề như thế, và ngược lại, sẽ chẳng bao giờ Bích Khê ngày ấy và chúng ta bây giờ có được tập thơ Tinh huyết. Chính Hàn Mặc Tử, bằng tình yêu bạn, đã giúp Bích Khê khai mở đúng “kênh” thơ của mình. Khi đã khơi đúng mạch, thì thơ vọt trào. Và ba tháng là thời gian rất hợp lý để Bích Khê hoàn tất một tập thơ, và không chỉ một tập, nó còn tạo “đường băng’ cho thơ Bích Khê cất cánh với tập thơ sau, tập Tinh hoa mà Chế Lan Viên cho rằng còn hay hơn cả tập Tinh huyết. “Một bông lạ nở hương, một thứ hương quý trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc”. Hàn thi sĩ đã viết, và ta nghe :
“Ô! hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi ! Vàng rơi ! Thu mênh mông”
(Tỳ Bà)
Thơ Bích Khê phải được đọc lên, và phải nghe, mới cảm hết chất nhạc khơi vơi mênh mang của nó. Có thể, trong tập thơ đầu này, Bích Khê có đôi lúc hơi lạm dụng nhạc điệu du dương, một điều ông sẽ khắc phục trong tập thơ sau, tập Tinh hoa. Nhạc điệu ấy, Bích Khê chịu ảnh hưởng nhiều ở Baudelaire và Paul Valéry, như Hàn thi sĩ đã chỉ ra, nhưng khi tới Bích Khê, nó đã thành chất nhạc của riêng ông, mà nhiều bài, tôi có cảm giác Bích Khê đưa được cả cái nhịp, cái hồn của những “hò xừ xang cống líu hồ” của nhạc dân tộc, nhạc tài tử phương Nam vào thơ mình. Phần nhạc điệu luôn là phần “mờ” của bài thơ, nó được cảm nhận và thể hiện không chỉ bởi từng nhà thơ mà còn bởi từng thời đại thơ khác nhau. Nếu với thời Bích Khê, phần du dương của nhạc điệu được coi trọng, thì với thơ hiện đại bây giờ, những “nghịch âm” những quãng nghịch, những cú ngắt bất chợt, những nhịp gãy lại được các nhà thơ ưa dùng. Những sự thưởng thức thì đa dạng, thẩm mỹ là điều khó “vào khuôn”, khó tranh cãi, nên ta vẫn có chèo, có vọng cổ đi bên cạnh nhạc trẻ, bên cạnh Pop-rock. Tất cả đều có thể tồn tại đều có thể chung sống hoà bình với nhau dù dấu ấn thẩm mỹ của mỗi thời một khác. Chẳng hạn, với đoạn thơ này trong Tinh huyết, Bích Khê viết :
“Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của gương hồ im lặng tợ bài thơ
Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nằng nặng
Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của hồn thu đi lạc ở trong mơ...”
(Mộng cầm ca)
Nếu là người làm thơ bây giờ, có lẽ tôi sẽ cắt ba chữ “tợ bài thơ” để câu thơ có nhạc điệu thế này :
“Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của gương hồ im lặng”
Và ở câu cuối, tôi lại cắt ba chữ “ở trong mơ” để câu thơ thành :
“Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của hồn thu đi lạc”
Cắt như thế, sẽ tạo cho câu thơ có một nhịp gãy, nhịp hẫng, và sẽ gây một tác động khác vào nhạc cảm của người nghe thơ. Nhưng có lẽ, câu thơ kiểu ấy sẽ không được người thưởng thức của sáu mươi năm trước chấp nhận. Bởi những đoạn thơ như “tợ bài thơ”, “của đêm tơ”, “ở trong mơ” mặc dù không thêm gì về ý nghĩa, cả nghĩa ẩn và nghĩa lộ, nhưng nó tạo nên sự du dương cho câu thơ, cho đoạn thơ. Nhà thơ hiện đại khước từ sự du dương, hoặc họ quan niệm sự du dương theo kiểu khác. Từ Thơ Mới đến nay, nhạc điệu câu thơ, bài thơ đã thay đổi khá nhiều, và cũng đừng nghĩ đó là sự cách tân, mà đơn giản vì thời đại đã thay đổi. Không ai cho nhạc rock nhạc rap là cách tân so với nhạc cổ điển, với ballad hay romance... Riêng về nhạc trong tập thơ Tinh huyết, đã có thể viết được rất nhiều, điều ấy cũng đủ chứng minh phần nào cho tầm vóc của tập thơ này. Hơn 60 năm, giờ đọc lại, không phải bài thơ nào trong tập thơ đầu tay của Bích Khê cũng khiến ta đồng cảm hay hứng khởi mạnh mẽ, nhưng phải nói, có nhiều bài thơ, nhất là những bài được nhà thơ xếp vào phần “đẹp và dâm” là những bài thơ rất hay, đến giờ vẫn gây xúc cảm cho người đọc, và hoàn toàn không “dâm” không “sex” như một số nhà phê bình nhẹ dạ đã hiểu và đã phê phán. Có lẽ, “cái tội” của Bích Khê là đã đặt ngang bằng phần thơ này với tiêu đề “đẹp và dâm”. Bây giờ, khi người ta hiểu về vai trò quan trọng của ẩn ức trong sáng tạo nghệ thuật, nhất là thơ, thì không ai cho những bài thơ ấy của Bích Khê là “dâm” cả, mà chỉ có Đẹp. Vâng, chỉ có đẹp và hay, chỉ có hay và sống. Sống đã sáu mươi năm. Và còn sống tiếp.
Nguồn:
Bài phát biểu đề dẫn tại Hội thảo về Bích Khê, nhân 90 năm sinh và 60 năm mất.
Quảng Ngãi, 20-21/2/2006.
BÍCH KHÊ – MỘT HIỆN TƯỢNG ĐÁNG NGHIÊN CỨU
Nguyễn Văn Hạnh
Tôi dự rất nhiều hội thảo, có thể nói không có nhiều hội thảo như hội thảo này, nó kích thích người ta phải chú ý như vậy. Thật ra khi được mời hội thảo này ở nhà tôi chuẩn bị và đọc đi đọc lại Bích Khê nhiều lần, quả thật hóa ra sau ông Hoài Thanh hơn 60 năm, tôi cũng có cảm tưởng như Hoài Thanh là chưa hiểu Bích Khê. Tôi cố viết nhưng viết không nổi cho nên xin nói mấy lời, vì nó dễ hơn, có gì không rõ thì nói đi nói lại.
Tôi thấy hội thảo của chúng ta rất có chất lượng, qua những tham luận, tôi thấy quả là tôi không viết là đúng, bởi những anh chị khác đã nghĩ kỹ hơn tôi và nghĩ nhiều mặt hơn tôi. Tôi nghĩ anh Thanh Thảo đã nghĩ đến việc này và mời Hội Nhà văn tham gia tôi thấy là rất hay. Thật ra nếu không có anh Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Nhà văn ở đây thì hội thảo của mình nó vẫn vậy nhưng mà nó mất đi một cái gì đấy, tức là tính toàn quốc của nó giảm đi. Tôi thấy tổ chức như vậy là rất tốt. Tôi cứ hay nghĩ về anh Thanh Thảo, tôi biết ảnh khá kỹ, cái thế hệ ấy chúng tôi biết. Tôi nghĩ Hội VHNT Quảng Ngãi có được cái may mắn là có anh Thanh Thảo. Anh ấy có tài và biết tổ chức, tôi cứ nói với chị Thanh Xuân, một hội thảo như thế này, tôi là người Quảng Nam- Đà Nẵng tôi biết chắc Đà Nẵng không tổ chức được, Quảng Nam không tổ chức được mà tôi ở thành phố Hồ Chí Minh, nhưng tôi nói thành phố Hồ Chí Minh cũng không tổ chức được, trừ Hà Nội ra thôi bởi nhiều năm tôi không ở Hà Nội nhưng mà chưa chắc Hà Nội tổ chức được. Bởi vì anh có đặt vấn đề đúng thì người ta mới tới với anh. Đây là Bích Khê nên người ta tới là một hiện tượng đáng suy nghĩ và cần thiết phải suy nghĩ.
Tôi thấy dân mình lạ lắm, nhiều ông quản lý không thấy đó thôi, đặt vấn đề không đúng thì họ không chú ý đâu. Dân mình có cái hay là họ cực kỳ nhạy cảm với lẽ phải, những gì cần thiết cho cuộc sống của mình và cho đất nước. Anh đặt vấn đề không đúng thì người ta không tham gia. Còn Bích Khê thì người ta quan tâm bởi anh đặt vấn đề đúng, bởi vì các anh chuẩn bị khá kỹ về tư liệu, về văn bản thơ, về những vấn đề liên quan đến cuộc đời Bích Khê.
Thú thật tôi hay nghĩ về người Quảng Ngãi, hồi ở Hà Nội tôi không biết nhiều về Quảng Ngãi. Khi vào thành phố Hồ Chí Minh tôi tiếp xúc với rất nhiều đồng nghiệp là người Quảng Ngãi, học trò cũng có. Tôi thấy rất đông những người bạn mà tôi biết những người chân thật, và rất chắc trong công việc của họ, và rất đáng tin cậy. Đến hội thảo này tôi thấy điều đó, mà tôi đã quan sát về người Quảng Ngãi. Cho nên có nhiều cái tích tụ lại nó mới có kết quả này.
Tôi đã đến Quảng Ngãi khi còn làm ở Ban văn hóa văn nghệ TW cách đây đã 20 năm. Tôi rất muốn trở lại Quảng Ngãi mà do máy bay bay qua mà người ta không dừng, tôi và nhiều người cũng không dừng.
Các anh than phiền người ta không biết nhiều về Quảng Ngãi lắm thì người ta thiệt, tôi thấy cái tâm trạng đó. Tôi nghĩ các anh đã làm cho người ta biết các anh chưa, Bích Khê mà anh không chịu biết thì nhiều điều khác anh sẽ không biết.
Tôi rất vui mừng khi được đến dự hội thảo này, qua bài viết của anh Hữu Thỉnh, anh Thanh Thảo, là tôi rất quí và đặc biệt quí bài viết anh Thanh Thảo, đó là bài viết rất sâu sắc, rất tài ba. Tôi thấy ảnh dám sửa lại thơ Bích Khê, và anh sửa đúng cả. Với cái nhìn của thời đại mình, với trình độ của nó là một điều rất hay.
Tôi nghĩ hội thảo này rất mới mẻ, rất lý thú, sau hội thảo này cần phải in đầy đủ thơ Bích Khê, đầy đủ những sáng tác của Bích Khê. Và Quảng Ngãi cần có một con đường mang tên Bích Khê, một ngôi trường mang tên Bích Khê. Bích Khê là một hiện tượng đáng nghiên cứu, các nghiên cứu sinh khi làm luận án nên đi vào những vấn đề có vấn đề, nếu mọi cái đã rõ hết thì nghiên cứu làm gì. Tôi thấy cái gợi mở của những bản tham luận ở đây đã đến lúc phải có một công trình nghiên cứu về Bích Khê. Tại sao người Quảng Ngãi lại hiểu biết ít về Bích Khê hơn nơi khác, thơ Bích Khê, cuộc đời Bích Khê, gia đình Bích Khê chưa ai viết thì học sinh, nghiên cứu sinh Quảng Ngãi phải làm nghiên cứu cẩn thận.
Hội thảo này đã cắm một mốc rất có ý nghĩa trong việc nghiên cứu về Bích Khê. Bích Khê rất gần gũi với chúng ta bây giờ, nhưng thực chất đã là cha ông của chúng ta rồi. Con cái mà nghĩ về cha ông không đúng thì rất là thiệt cho con cái. Thời đại của mình cực kỳ chủ quan, mình chỉ biết có mình, dân tộc đã trải qua hàng nghìn năm mà hóa ra anh cũng biết có mấy chục năm thôi. Anh không hiểu thì dân người ta cũng không hiểu, mình cứ cho cái gì của mình cũng là tuyệt vời nhất, mình là nhất trong lịch sử. Tôi thấy không đúng, có những so sánh không đúng. Anh đừng so sánh với ông Trần Hưng Đạo, ông Lý Thường Kiệt. Anh có việc của anh và họ có việc của họ. Một dân tộc khi đã trưởng thành nó nghĩ rất kỹ về việc bây giờ, việc lịch sử.
Người ta biết con đường đi tới không phải bằng những điều mong muốn của mình. Tôi nhớ câu nói của Sê-khốp: “Cái điều tốt thì tôi chưa biết, nhưng cái điều xấu thì tôi biết”. Cho nên con người hiểu về cái tốt nó lờ mờ mà hiểu rõ không được đâu, nhưng cái xấu thì người ta biết, cái sai thì người ta biết. Chính cái sự thật trong văn học nghệ thuật, mà nói chung trong đời sống của một đất nước cũng vậy. Phải hiểu kỹ cái sai của mình, và cần khắc phục cái sai đó thì nó sẽ đi vào quỹ đạo của sự tiến bộ. Còn anh cứ tưởng tượng thì đôi khi nó đúng, cũng có thể nó trật hoàn toàn. Cho nên ý thức về lịch sử phải trở thành vấn đề chung của chúng ta, của những người trí thức.
Xin cảm ơn quý vị!
Nguồn:
Bài phát biểu tại Hội thảo về Bích Khê,
Quảng Ngãi, 20-21/2/2006 (bản ghi của Hội VHNT Quảng Ngãi, 2006)
TỪ HIỂU NHẦM ĐẾN TÔN VINH
Nguyễn Hoàng Sơn
Phó Chú tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi
Kính thưa quý vị
Những việc mà UBND tỉnh cần nói thì trong lời chào mừng quý vị về dự hội thảo, đ/c chủ tịch đã nói rồi. Trước khi kết thúc cuộc hội thảo quan trọng này, nhà thơ Thanh Thảo đề nghị tôi có ý kiến, tôi có mấy lời thưa lại như thế này:
Tôi phụ trách lĩnh vực văn hóa xã hội đến nay đúng 17 tháng, trong 17 tháng phụ trách VH-XH của tỉnh, chúng tôi thấy VH-XH của tỉnh có nhiều điều trăn trở trong đó có việc của Bích Khê, và trong một lần đi thăm bà con quê hương Quảng Ngãi đang làm ăn ở thành phố Hồ Chí Minh, rất nhiều người đề nghị tỉnh tổ chức cuộc hội thảo này, trong đó có giáo sư Lê Hoài Nam, có nhạc sĩ Trương Quang Lục, có nhà văn Đoàn Minh Tuấn. Lúc đó tôi cũng chưa hiểu lắm, cũng chưa dám hứa chắc chắn rằng sẽ tổ chức được cuộc hội thảo hay không, nhưng mà có một điều tôi muốn cam đoan rằng, cái gì đã oan thì phải giải oan, chưa rõ thì cần phải làm cho nó rõ, và tôi cũng bắt đầu tìm hiểu cái việc này. Trước đó, tôi cũng chỉ là người đọc bình thường thôi, cũng thuộc một ít câu thơ của Bích Khê, cũng thích một vài bài mà có tính tâm trạng của mình. Trước khi diễn ra cuộc hội thảo này tôi có đề nghị giáo sư, nhà giáo Nguyễn Đình Thảng cũng là nhà thư pháp của Quảng Ngãi viết giúp một bảng để trưng bày kia. Viết ba chữ thôi: “Sầu lãng tử”, là bài tôi thích nhưng không biết tại sao thầy Thảng bảo bài đó buồn lắm, bây giờ phải viết “Mộng cầm ca”, là ba chữ hiện nay đang có ở ngoài kia. Xin thưa rằng trước đó tôi cũng chỉ biết rằng trên quê hương chúng tôi có nhà thơ Bích Khê và biết nhà thơ qua từ điển. Và tôi cũng đã có đến nhà thờ, có đến mộ của nhà thơ, nhưng mà hiểu cái tầm của nhà thơ ở mức độ nào, có lẽ là tôi cũng chưa hiểu lắm trước khi có cuộc hội thảo này. Có lẽ nhiều người cũng như tôi, có lẽ nhiều cái ý tham luận ở đây vì thơ Bích Khê rất kén chọn người đọc và đọc đi đọc lại nhiều lần mới hiểu được phần nào, cho nên người đọc, người yêu thơ Bích Khê có những khó khăn nhất định và tôi nghĩ rằng hiệu quả của nghệ thuật là công chúng. Còn nữa, thơ Bích Khê là dâm nữa chứ, cho nên còn khó chấp nhận trong một thời cuộc, trong bối cảnh lúc bấy giờ. Chúng ta thử đặt mình trong bối cảnh cách đây 60 năm, cũng thấy rằng quan điểm, tư tưởng lúc đó cũng nặng nề về vấn đề này lắm và rõ ràng thơ Bích Khê không dễ đàng được chấp nhận một cách suôn sẻ mà nó cần có một khoảng thời gian. Chúng ta rất tiếc rằng thời gian quá dài, 60 năm. Và rồi còn những hiểu lầm, những nhận định sai lầm đã làm cho thi nhân tài hoa nhưng mà mang nhiều nỗi niềm, nếu không muốn nói rằng là cái họa. Trong cuộc sống thì có nhiều cái lầm mà cũng hết sức chết người như chúng ta biết thì mới đây thôi mà cũng lầm. Chiếc xe nào đã tấn công vào dinh Độc lập đầu tiên, mình cũng đã nhầm mấy chục năm, bây giờ mới tìm lại chính nó, tôi nói ví dụ như thế. Hay là ở tại Quảng Ngãi này thôi, cái ngày giải phóng tỉnh là ngày nào, bây giờ cũng còn cãi. Tỉnh thì công bố là giải phóng vào ngày 24.3, nhưng mà Sơn Tịnh là đất chúng ta đang ngồi đây thì lại ngày 25. Như vậy là trong ngày 25 còn huyện Sơn Tịnh chưa giải phóng thì làm sao giải phóng tỉnh, cho nên vấn đề này cũng còn sự nhầm lẫn và bàn cãi. Tôi muốn nói cái việc gần nhất để chúng ta thấy rằng cái việc nó rất là dễ như thế đó, và rất là nhiều người biết như thế cũng còn nhầm thì cái việc nhận biết tầm cỡ Bích Khê ở mức nào thì có lẽ cũng có cái khó thật. Nhưng mà tôi nghĩ trong họa thì có phúc, nếu không có sự im lặng, sự trăn trở, sự chờ đợi, sự khó chịu trong bao nhiêu năm qua thì đến nay nhà thơ Thanh Thảo có giỏi mấy cũng không có cái hội thảo Bích Khê, bởi vì nếu không có Bích Khê thì làm sao hội thảo, hoặc giả Bích Khê đã nói từ lâu như Tế Hanh, như Xuân Diệu rồi thì lấy gì đâu nói nữa. Cho nên tôi nghĩ rằng cái điều này cũng là một điều lạ ở Quảng Ngãi, mà lại hội thảo ngay trên quê hương của mình nữa. Tôi cứ tưởng tượng rằng, trong mấy ngày vừa rồi, Bích Khê có thể đi thuyền trên bờ bắc sông Trà để lên đây, để ngồi đây, để nghe hậu thế nói về mình. Tôi nghĩ đó là niềm hạnh phúc lớn lao của nhà thơ và chắc chắn rằng nhà thơ cũng rất mãn nguyện. Tôi cứ tưởng tượng là Bích Khê sẽ đi bè, đi thuyền trên sông này, ghé vào bến này lên đây vì trước đây chỗ này cũng có cái bến đỗ. Và tôi cũng xin nói nhỏ rằng, trước cuộc hội thảo này tôi cũng có về thắp hương trên mộ Bích Khê, tôi với anh Đăng Vũ, đây chỉ nói cho vui, nói nhỏ thôi. Mấy người ở đó họ cho rằng cái mộ này thiêng lắm, cầu là ổng lên ổng cho, hỏi cho cái gì? Cho mấy câu thơ, mấy câu thơ để làm gì? Để đánh số đề. Nói như thế để thấy rằng, với Bích Khê tôi chỉ mới đi tìm hiểu đây thôi, chứ trước đó tôi biết Bích Khê như tôi vừa nói ở trên. Cho nên một số đại biểu cũng nói với tôi rằng Bích Khê đối với Quảng Ngãi hiện nay cũng như cái mỏ quí giàu trữ lượng mà bây giờ mới bắt đầu khai thác. Như vậy thì Hội VHNT của tỉnh có nhiều việc để làm và rất giàu có trong tương lai.
Còn về những vấn đề mà các đại biểu nêu, thì nỗi oan của nhà thơ, tôi xin thay mặt cho Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh khẳng định rằng ở Quảng Ngãi chưa có văn bản nào quy kết nhà thơ là Tờ-rốt-kít cả, tôi cũng xin nói lại điều đó. Nếu có chăng chỉ là ý kiến cá nhân trong một trường hợp nào đó như anh Hồng Nhân nói, hoặc dư luận ở một số điểm nào thôi. Tôi cũng theo dõi từ trước đến nay chưa có văn bản nào kết luận ông này thế này thế kia mà cũng chỉ là sự hiểu nhầm, có lẽ đó là do ý kiến của một cá nhân nào đó rồi nó lan tỏa ra. Còn minh oan cho nhà thơ, tôi nghĩ rằng, bản thân cuộc hội thảo này tổ chức tại quê hương của nhà thơ đã là một sự minh oan một cách hết sức thuyết phục. Không chỉ là minh oan mà chúng ta còn tạo ra một bước để tôn vinh Bích Khê lên đúng tầm của một nhà thơ lớn. Và những việc các đại biểu nêu ra trong cuộc hội thảo này, được sự ủy nhiệm ủa Thường vụ Tỉnh ủy và UBND tỉnh, hôm nay có tôi và anh Nguyễn Thanh Quang là Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy sẽ ghi chép hết sức đầy đủ những ý kiến của quí vị trong cuộc hội thảo kể cả trong văn bản và không có trong văn bản cũng đều được ghi chép tỉ mỉ. Chúng tôi sẽ tổ chức thực hiện và sẽ đưa Bích Khê trở về với vị trí vốn có trên thi đàn Việt Nam. Đây là một niềm tự hào của Quảng Ngãi, cũng như GS. Phương Lựu đã có một vài ý kiến nhỏ về nhà thơ Bích Khê nhưng không được đọc ở đây do tác giả vắng mặt, ông có ý nói rằng “Tỉnh Quảng Ngãi thiệt thòi đủ bề, cũng chậm chạp trên nhiều mặt, cho nên nếu có cái gì khá, khá thật, có cái gì tinh hoa, tinh hoa thật thì phải cùng nhau ra sức chăm sóc, phát huy lên, cố nhiên là chung cho đất nước, nhưng cũng xin nói thật là để cho tỉnh nhà mở mày mở mặt”.
Tâm tư của chúng tôi là như thế, cho nên Ba Tơ, Trà Bồng, Dung Quất, Ba Gia, Vạn Tường cũng được cả nước này bàn. Rồi sự kiện Đặng Thùy Trâm cũng cả thế giới này bàn. Bây giờ có cái việc Bích Khê nữa thì đúng là Quảng Ngãi có nhiều điều lạ thật, tinh hoa thật, và những điều đó bây giờ mới bắt đầu phát tiết ra, chúng ta bắt đầu nâng nó lên. Chúng ta phải có trách nhiệm, không phải chỉ có giới văn nghệ sĩ, mà trách nhiệm đó là của chính quyền, Đảng và chính quyền địa phương nữa, cũng xin cam đoan với quý vị như thế. Xin cảm ơn quý vị, chúc quý vị mạnh khỏe, xin cảm ơn.
Nguồn:
Bài phát biểu tại Hội thảo về Bích Khê,
Quảng Ngãi, 20-21/2/2006 (bản ghi của Hội VHNT Quảng Ngãi, 2006)
BÍCH KHÊ – TỪ PHONG KÍN ĐẾN MỞ RA
Vũ Quần Phương
Tại hội thảo này, tất cả những vấn đề đặt ra để tôn vinh Bích Khê về phía thân thế, về phía sự nghiệp chúng ta đều đã đạt được và mở ra một thời kỳ nghiên cứu sâu hơn về Bích Khê, cũng là nghiên cứu sâu hơn về thơ Việt Nam thời kỳ gần đây nhất. Có cái không may là Bích Khê ít được nghiên cứu nhưng mà bây giờ chúng ta đã tạo được một hội thảo chưa từng có ở nước ta, tức là hội thảo về một tác giả làm tại quê hương tác giả. Chỉ Bích Khê mới đủ năng lượng để làm, bởi vì nó được phong kín bây giờ mới được mở ra. Bây giờ, sau hội thảo này nếu phải học Hội VHNT tỉnh Quảng Ngãi để làm cho các tác giả cũng khó, vì nó hở hương mất rồi. Năm nay 90 năm Xuân Diệu không biết có làm được không. Rồi Nguyễn Bính cũng được nhân dân đề cao, có khi còn được đề cao hơn cả chính quyền, nhưng Nguyễn Bính cũng hở hương rồi. Cho nên cái không may của Bích Khê cũng tạo ra một cái tư thế để chúng ta tiếp cận văn học hiện đại. Chúng tôi biết rằng, vấn đề Bích Khê theo Tờ- rốt-kít như vừa nói, mọi người thấy chi tiết ấy rất vu vơ. Nhưng giả sử có chi tiết ấy nữa, thì vấn đề ấy cũng không có ý nghĩa nữa.
Họ đánh giá về đóng góp, vẫn là đóng góp. Nếu có vấn đề Tờ-rốt-kít thì đến nay cũng không có nghĩa gì ngày hôm nay nữa. Cái hay của hôm nay là chúng ta mở ra, cho nên cái việc thơ Bích Khê ít được in cũng có lý do của nó. Hồi tôi làm ở NXB Văn học những năm 80 có bàn với Chế Lan Viên để in ở NXB văn học một cuốn thơ Bích Khê. Anh Chế Lan Viên cũng phân vân, không phải phân vân về thân thế mà là phân vân ở khuynh hướng văn học thôi. Anh Chế Lan Viên nhiều năm lãnh đạo về thơ Hội Nhà văn nên anh bảo đưa bây giờ có thể hơi vội, mà anh Chế Lan Viên muốn đưa ra là chắc thắng, nên dè dặt hơn, ảnh in ở Nghĩa Bình trước. In ở đâu thì lúc bấy giờ đã có được cái văn bản. Vì quyển của Nghĩa Bình in năm 1988 ấy là quyển đầu tiên đưa được thi phẩm Bích Khê ra mắt bạn đọc.
Tôi nhớ cái lời giới thiệu đầu tiên của ông Chế Lan Viên là giới thiệu tính chất cách mạng của gia đình Bích Khê. Bích Khê đòi khiêng cái giường ra đường để ra nhìn lá cờ đỏ. Ông phải đưa lên phần đầu của lời giới thiệu và đây là sự thận trọng của Chế Lan Viên ở thời điểm ấy. Thời điểm bây giờ cho phép chúng ta mở ra con đường rất rộng, thì cuộc hội thảo này tôi cũng rất cảm ơn anh Thanh Thảo và Hội VHNT dụ Hội Nhà văn vào, chứ thật ra Hội Nhà văn không chuẩn bị được gì, anh Hữu Thỉnh giao cho tôi phối hợp với Thanh Thảo, tôi nghĩ rằng anh Thanh Thảo trước sau cũng làm được nên mình không nên phối hợp làm rắc rối người ta. Người ta mời mình vào nên viết một bài cho tử tế, rồi đọc. Cuộc hội thảo này, tập hợp rất nhiều tham luận hay, và tôi nghĩ rằng nó có tính cách mẫu mực về mặt học thuật. Vì nhiều hội thảo ở các cơ quan lớn hơn tổ chức tại thủ đô cũng có rất nhiều bản tham luận viết rất “bổi”, tức là viết cho lấy có, nhưng ở đây các bài viết mở rất nhiều mặt kể cả nghiên cứu về ngôn ngữ, nghiên cứu về tính địa phương, về những hình ảnh, rồi thì về các lý thuyết của các học thuyết tượng trưng, về cái tôi trong chủ nghĩa lãng mạn tức là mở rộng ra. Hội thảo này sẽ có một tập kỷ yếu rất tốt. Điều cuối cùng tôi sẽ về báo cáo với Hội Nhà văn cho mừng, tức là các đồng chí lãnh đạo địa phương đã ủng hộ hết mức nhưng mà về mặt văn hóa, các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương biết nhìn nhận vấn đề đó nó là cái phúc của nước. Cái lớn của Cụ Hồ là người ta công nhận Cụ là danh nhân văn hóa, người ta đề nghị kỷ niệm Cụ là danh nhân văn hóa trong khi đó văn hóa là vấn đề cốt lõi. Tôi sẽ về báo cáo Hội Nhà văn, báo cáo về bài phát biểu của ông Nguyễn Hoàng Sơn phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi vừa rồi. Ông Sơn đã có nhận xét rất sâu sắc vấn đề ấy rồi, nếu có khó khăn gì của các đồng chí lãnh đạo khác, chắc ông Sơn góp phần khai thông vấn đề đó. Với gia đình tạo được tiền đề, cung cấp tư liệu, để hình thành tủ sách, nhất là về thực địa.
Cái việc kỷ niệm các nhà văn tại đất nước ta đã sống, ngồi trong không gian đó thì các nước người ta làm rất tốt, nhưng nước ta chỉ mới làm được lần đầu như đối với Bích Khê ở buổi chiều ngồi ở sân đó. Các nước họ làm kỷ niệm danh nhân nào, họ cũng làm thế. Ngay hồi Liên Xô còn nghèo cũng làm như vậy, tôi có dự kỷ niệm một danh nhân ở Ucraina, ông Sepchenco - dân có phát biểu rằng: Nhờ kỷ niệm ông này mà mỗi lần kỷ niệm ông này dân được sửa mái nhà, hàng rào, nhà nước sửa cho. Cho nên cái việc đưa về kỷ niệm tại chỗ như thế, gia đình quản lý một cái phòng lưu niệm để người ta xem bảo tàng văn học ở Hà Nội, người ta đi du lịch ở các tỉnh, mỗi tỉnh có địa chỉ văn học người ta đến. Người ta đến Quảng Ngãi là đến với Bích Khê, đến với bảo tàng văn học ở Thu Xà, nơi ấy phong cảnh rất đẹp, nơi đây lại có di vật của nhà thơ mệnh yểu nhưng tài cao. Cuộc hội thảo này có ý nghĩa là như vậy, tôi xin cám ơn anh Thanh Thảo, cám ơn quý vị.
Nguồn:
Bài phát biểu tại Hội thảo về Bích Khê,
Quảng Ngãi, 20-21/2/2006 (đầu đề do Ban Biên Soạn đặt)
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA BÍCH KHÊ
VÀO NỀN THƠ CA HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
Gs. Lê Hoài Nam
(Cháu ruột nhà thơ Bích Khê)
Cuộc đời Bích Khê là một cuộc đời đầy bất hạnh.
Bất hạnh vì một căn bệnh quái ác -- bệnh lao phổi, một trong “tứ chứng nan y” thời bấy giờ -- đã sớm tàn phá sức khỏe của ông, nhiều lần gây trở ngại cho ông trong việc mưu sinh, cũng như trong hoạt động sáng tác; và ông đã lặng lẽ qua đời lúc chưa tròn 30 tuổi, khi thời cuộc những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám đang rất khẩn trương, bạn bè thân thiết không ai nhận được tin buồn;
Bất hạnh vì luôn thất bại trong sinh kế: mấy lần đi dạy học, mở trường học đều bị dở dang hoặc do bệnh tật, hoặc do mâu thuẫn nội bộ, và còn do chính quyền thực dân, phong kiến cấm đoán;
Bất hạnh vì trước sau cả ba cuộc yêu đương đều đổ vỡ, không đưa đến kết quả mỹ mãn; đó là chưa kể một mối tình đơn phương tuyệt vọng, mà người được yêu chỉ biết đến mấy năm sau khi nhà thơ qua đời.
Người xưa thường nói: “Cái quan luận định”, nhưng với Bích Khê, dù nắp đã đậy quan tài từ 60 năm trước, ông vẫn chưa có được một danh vị gì trên chính quê hương mình: đó lại là một bất hạnh lớn khác khi không còn trên cõi đời này nữa.
Trong phạm vi một bài tham luận ngắn ở đây, tôi chỉ xin trình bày cái nhìn toàn cảnh về sự nghiệp sáng tác thi ca của Bích Khê và tập trung nêu lên một số đóng góp mới mẻ tạo nên tính hiện đại độc đáo của thơ ông.
I. Tiến trình sáng tác của Bích Khê chia làm ba giai đoạn:
-- Giai đoạn “thơ cũ”: Bích Khê bước vào làng thơ rất sớm, khi còn ở tuổi thiếu niên. Từ những năm 1931-1932, ông đã có thơ đăng ở báo “Tiếng dân”. Cho đến cuối năm 1936, nhiều bài được sáng tác theo các lối Đường luật, từ khúc và hát nói của ông đều đặn xuất hiện trên mặt báo này, và đăng rải rác ở một số báo khác như “Phụ nữ tân văn”. . . dưới các bút danh Lê Mộng Thu, Bích Khê. Tuy tuổi đời tác giả còn trẻ, nhưng nhiều bài thơ của ông đã đạt đến trình độ già dặn, và được nhiều bậc túc nho tán thưởng. Hấp thụ truyền thống gia đình, đồng thời chịu ảnh hưởng của cụ Phan Bội Châu, “thơ cũ” của Bích Khê nằm trong xu hướng văn chương “ưu thời mẫn thế” hồi mấy thập kỷ đầu thế kỷ 20. Chan chứa một lòng yêu nước thương dân, ông thổ lộ nỗi đau xót của mình trước cảnh đổi thay của đất nước, trước cuộc sống cơ cực của người dân, đồng thời nói lên sự bất bình của mình đối với những bất công trong xã hội. Ông phê phán những hạng người chỉ biết tranh thủ “đục nước béo cò” sao cho vinh thân phì gia, hoặc chỉ biết đua đòi ăn chơi trụy lạc, không nghĩ gì đến dân, đến nước. Trong phạm vi diễn đàn công khai bấy giờ cho phép, ông cũng vạch ra sự kìm kẹp gắt gao của bọn thống trị đối với nhân dân. Mặt khác, ông luôn nhắc đến giống nòi, ca ngợi những anh hùng dân tộc như Lê Thái Tổ, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Huệ. . . Thậm chí có lúc, chàng thanh niên Bích Khê toan “bán” cả sầu (1) “bán” cả thơ (2) hành động thiết thực. Tiếc rằng ông không có điều kiện để thực hiện chí hướng ấy!
-- Giai đoạn “Tinh huyết”: Từ năm 1936, Bích Khê từ giã con sông dù sao cũng vẫn êm ả của “thơ cũ”, để nhảy vào dòng xoáy của “thơ mới”. Điều đó không có gì là lạ trong xu thế đổi mới tất yếu của thi ca Việt Nam đương thời, mà Hàn Mặc Tử cũng là một trường hợp tiêu biểu. Có lạ chăng là một khi đã chuyển hướng, Bích Khê muốn vượt lên đi đến một cuộc “Duy tân” (tên một bài thơ nổi tiếng của ông) thật mạnh mẽ, sâu sắc và táo bạo đối với thi ca. Để làm việc này, Bích Khê đã tìm đến các trường phái thi ca hiện đại của Phương Tây cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20: chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực. Đặc biệt ông chịu ảnh hưởng của mỹ học của Baudelaire mà ông tôn làm “Vua thi sĩ” (“Ăn mày”- “Tinh huyết”). Nhưng ông không dừng ở đó, mà còn tiếp biến nhiều quan điểm nghệ thuật khác của các nhân vật cự phách thuộc các trường phái nói trên: Rimbaud, Verlaine, Mallarmé, v.v. Đương nhiên ông không phải là người độc nhất trong số các nhà thơ đương thời đã tiếp nhận ảnh hưởng của phương Tây, nhưng ông là người hơn ai hết muốn đi đến tận cùng của lý thuyết các trường phái ấy.
Tuy nhiên, trong khi hướng mạnh về Phương Tây, Bích Khê vẫn giữ những mối liên hệ mật thiết, bền chặt với các truyền thống văn hóa, văn học Phương Đông và dân tộc Lý Bạch của Trung Quốc, “Khúc ngâm người chinh phụ”, Hồ Xuân Hương và Tản Đà của Việt Nam vẫn để những dấu vết sâu đậm trong thơ ông. Và nếu Hàn Mặc Tử tìm nguồn cảm hứng trong Thiên Chúa giáo, thì Bích Khê đến với Phật giáo và Đạo giáo. Sự kết hợp Đông - Tây, kim - cổ dường như là một nghịch lý, nhưng không phải là phi lý, là một thứ “hổ lốn”, một việc làm tùy tiện cầu may như có người đã nghĩ. Cơ sở của sự kết hợp đó là sự gần gũi nhất định giữa chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực Phương Tây, với đường lối sáng tác, phong cách, thi pháp truyền thống của thi ca cổ điển Trung Quốc và Việt Nam: sự gần gũi về phương thức biểu hiện sự vật bằng một bên là những hình ảnh tượng trưng, và bên kia là những ẩn dụ, ngụ ngôn, về ưu thế của trực giác trong cảm nhận thế giới; về sự đề cao tính nhạc trong thơ; về lao động nghệ thuật tỉ mỉ và công phu. Cái phóng túng, cái ngang tàng, thách thức của một Lý Bạch, một Hồ Xuân Hương và cả thái độ khẳng định của nhà thơ nữ độc đáo này đối với bản năng tính dục của con người không xa lắm với tinh thần “nổi loạn”, phá phách những lề lối, thiên kiến, cấm kỵ có tính chất quý tộc và trưởng giả ràng buộc, đè nặng lên con người, với sự công nhiên phô bày đời sống tình dục, khoái cảm xác thịt của một Baudelaire hay một Rimbaud. Có một sự gặp gỡ thú vị giữa chủ nghĩa tượng trưng với Mật tông của Phật giáo trong một thế giới quan nhị nguyên luận, mang tính chất thần bí. Chủ nghĩa tượng trưng phân biệt và đối lập cuộc sống hiện thực với cuộc sống lý tưởng nằm ngoài sự hiểu biết thông thường của con người, còn Mật tông cũng cho rằng đằng sau thế giới hữu hình có một thế giới thần bí; mọi vật đều có hai mặt: mặt “hiển” và mặt “mật”. Và cả hai đều cho rằng cái thế giới ẩn, cái mặt bên trong của vạn vật mới là thật, là đáng kể. Người nghệ sĩ phải khám phá, thể hiện thế giới lý tưởng trong tác phẩm của mình; tương tự, người tu hành phải tìm đến cái mật ý của cuộc đời, cái tâm ẩn của mọi vật.
Tất cả những điều này chi phối mạnh mẽ hoạt động sáng tác của Bích Khê, nhất là trong thời gian đầu của quá trình chuyển hướng sang thơ mới, mà kết quả là sự ra đời của tập thơ “Tinh huyết” vào cuối năm 1939, đã được Hàn Mặc Tử đón nhận như “một bông hoa lạ nở hương” (Tựa tập thơ “Tinh huyết”).
-- Giai đoạn “Tinh hoa”: Từ sau “Tinh huyết” cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng, mặc dù sức khỏe ngày càng suy giảm, Bích Khê vẫn tiếp tục sáng tác. Nhưng giờ đây người ta sẽ bắt gặp một Bích Khê khác. “Tinh huyết” là cả một bầu máu nóng của tuổi trẻ với những ưu điểm, nhược điểm của nó. Sự háo hức đi tìm cái mới lạ, sự sôi nổi trong cảm hứng sáng tạo, một mặt đem lại sức sống và tính độc đáo cho các bài thơ, nhưng mặt khác có lúc cũng dẫn đến những gì còn sượng, chưa nhuần nhị. Có thể nói đó mới là một cuộc thử nghiệm táo bạo. Đến “Tinh hoa”, sự bồng bột ban đầu lắng xuống, những cái gì quá đà được gạn lọc để hiện lên một Bích Khê chín chắn hơn, cả về tâm hồn lẫn nghệ thuật. Một sự so sánh những bài thơ ở dạng ban đầu trong “Tinh huyết”, với những văn bản đã được sửa đổi của chúng in trong tập “Tinh hoa” sẽ cho ta thấy một phần quan trọng của sự chuyển hướng ấy. Trong sự kết hợp Đông - Tây, nếu trước kia ảnh hưởng của Phương Tây có phần mạnh hơn, dù bây giờ yếu tố “Đông” trỗi dậy để tạo ra sự hài hòa trong nội dung cũng như trong hình thức. Nói cách khác, “Tinh hoa” là một cuộc trở về: trở về với những lối thơ truyền thống cùng những âm hưởng quen thuộc, nhưng cấu trúc không hoàn toàn như cũ; trở về với cách nghĩ, điệu cảm quen thuộc nhưng với một tâm trạng của con người thời đại mới.
Tuy nhiên ông vẫn giữ một sự nhất quán về những quan niệm nghệ thuật cơ bản của mình.
Có thể khái quát tiến trình thơ của Bích Khê như sau: “Tinh huyết” là phủ định của “thơ cũ”, và “Tinh hoa” là phủ định của “Tinh huyết” vậy.
II. Những đóng góp mới của Bích Khê:
1. Một quan niệm mới về cái “Đẹp”.
Tình yêu, sự ám ảnh của cái chết, nỗi cô đơn: đó là những đề tài chủ yếu của cả hai tập thơ. Nhưng bao trùm lên tất cả là sự tìm kiếm, lòng khát khao cái Đẹp. Về điều này, đáng chú ý là thoạt đầu, ông đã định đặt cho tập thơ sau cái tên là “Đẹp”.
Quan niệm về cái đẹp của ông rất phức tạp. Đây cũng là nơi bộc lộ rõ ảnh hưởng của Baudelaire đối với ông. Tác giả của tập thơ “Những bông hoa của cái Ác” đã tuyên bố chấp nhận mọi cái đẹp dù nó đến từ nơi đâu: thiên đường hay địa ngục, Thượng đế hay quỷ Xa tăng, dù nó đưa đến điều thiện hay tội lỗi, niềm vui hay những thảm họa, miễn là nó mở ra cánh cửa đi tới cái Vô cùng (Infini), nó “làm cho vũ trụ bớt gớm ghiếc và những khoảnh khắc bớt nặng nề” (“Bài tụng ca sắc đẹp”). Mỹ học Baudelaire vừa đề cao cái thanh cao của đời sống tinh thần, lại vừa dành chỗ cho khoái lạc xác thịt, cho “trụy lạc”. Để thoát khỏi nỗi buồn chán (spleen) triền miên, ông đã vượt qua những giới hạn mà đạo đức và tục lệ qui định, thám sát lĩnh vực những cảm xúc và dục vọng cấm kỵ. Cũng trong một tâm trạng u uất được tạo nên do cảm giác về sự bất lực trước xã hội, do những đau khổ trong tình yêu, và do linh cảm về sự ngắn ngủi của đời mình không cho phép ông thực hiện sự nghiệp văn chương hằng mơ ước, Bích Khê đã tiếp nhận cái mỹ học ấy với cả hai mặt tích cực và tiêu cực của nó, tuy rằng trong thực tế, ông không có lối sống phóng đãng của Baudelaire.
Trong lịch sử văn chương Việt Nam, Bích Khê là người đầu tiên phơi bày và ca ngợi cái đẹp của cơ thể con người trong sự toàn vẹn của nó. Ông không tránh né nói đến, miêu tả những bộ phận kín đáo của người phụ nữ, công nhiên bộc lộ những rung động nhục dục. Ở đây cái đẹp trong sáng đi liền với cái mà chính nhà thơ gọi là vẻ đẹp của khiêu dâm (“Tranh lõa thể”). Thực ra Bích Khê chỉ là một kẻ táo bạo trong nghệ thuật ngôn từ, chứ còn trong nghệ thuật tạo hình hiện đại của Việt Nam đương thời đang cố hòa nhập vào nghệ thuật tạo hình thế giới, thì lối vẽ tranh phụ nữ khỏa thân nào có lạ lẫm gì, và từ những năm 1929, họa sĩ Nam Sơn đã sáng tác bức tranh sơn dầu cỡ lớn miêu tả ba con yêu tinh khỏa thân nhảy múa quyến rũ Phật. Còn Tô Ngọc Vân, họa sĩ lỗi lạc thuộc thế hệ đầu tiên của trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương đã quan niệm: “không có nghệ thuật nào lại không có sự nhục cảm” (theo Quang Phòng – “Mỹ thuật hiện đại Việt Nam” – Nxb. Mỹ thuật - Hanoi, 1996).
Nhưng nhục dục, “khiêu dâm” không phải là cứu cánh của sáng tác của Bích Khê. Đó chỉ là một mặt, một bộ phận của sự chiếm lĩnh thẩm mỹ đối với thế giới, một khát vọng cảm thụ thế giới toàn vẹn bằng tất cả các con đường mở rộng của tâm - sinh lý con người, kể cả bản năng và trực giác. Ông muốn đi đến cái tận cùng của mọi cảm giác. Ông muốn đạt tới cái “Tuyệt đích”. Vì vậy ở ông có những sự trái ngược kỳ lạ. Cái đẹp trong thơ ông gợi lên những gì là thanh nhã, thuần khiết, thánh thiện, đồng thời lại hết sức trần tục, vừa có tính chất lý tưởng lại vừa hết sức thực tế. Cái đẹp đó vừa đưa người ta vào một thế giới huyền ảo, lại vừa khiến cho người ta phải “rởn ốc” (“Sắc đẹp” - Tinh huyết). Ngay ở nhan sắc ra người yêu, ông cũng vừa cảm nhận cái “vẻ huyền diện” làm ông ngây ngất, nhưng cũng vừa bắt gặp cái “vẻ yêu tinh” khiến lòng ông giận dữ.
Tuy nhiên, trong sự “tranh chấp” giữa cái tinh thần và cái vật chất, giữa tâm hồn và xác thịt, cuối cùng phần ưu thắng vẫn thuộc về những cái trước: xác thịt chỉ là tạm thời, còn tình yêu mới là vĩnh viễn:
Nàng! Nàng! Nàng! Không có nữa châu thân .
Xác là mộng mà tinh là tuyệt đích!
(“Nàng bước tới” - Tinh huyết)
Điều cầu mong tha thiết nhất của ông ở con người là một trái tim:
Tôi ăn mày chỉ một trái tim thôi!
(“Trái tim” - Tinh huyết)
Hơn nữa, trong sự dao động giữa hai cực đối lập: cái thanh cao và cái thấp kém, thiên đường và địa ngục, Bích Khê cho rằng đi sâu vào cực này là điều kiện để hiểu hết ý nghĩa của cực kia, có đắm mình trong nhục cảm mới thấy hết giá trị của đời sống tâm linh, và đó là nguồn cảm hứng dồi dào của sáng tạo:
Ôi! say khướt mới dào muôn ý tứ,
Ôi! điên rồ mới ngớp ánh chiêm bao;
Ôi! dâm cuồng mới biết rõ giá trăng sao.
(“Trái tim” - Tinh huyết)
Trong hành trình đi tìm cái Đẹp, Bích Khê khám phá ra những khía cạnh khác nhau, và trong một chừng mực nào đó đối lập với nhau của cái đẹp trong con người. Vì vậy, ông không dừng ở đó mà muốn đi xa hơn, tìm đến một cái đẹp cao hơn, thuần khiết hơn, và ông đã tìm thấy nó ở thi ca. Ông có đề cập đến cái đẹp của đủ các ngành nghệ thuật: hội họa, điêu khắc, kiến trúc, nhiếp ảnh và nhất là âm nhạc. Nhưng, theo ông, cao hơn cả vẫn là cái đẹp của thi ca, -- sự tổng hợp tất cả các nghệ thuật kia. Cái “Cõi trời”, cái thế giới mà Bích Khê muốn tạo lập nên trong các tác phẩm của mình, -- một thế giới “cách biệt với trần gian” -- gồm có ba tầng: tầng thứ nhất là cái thế giới cảm tính đầy những hương thơm, sắc màu tươi mát, mùi vị ngọt ngào, tiếng nhạc êm ái; tầng thứ hai là “địa ngục”, là thế giới của dục vọng, và tầng trên cùng là thiên đường, là thế giới của thi ca (“một cõi trời” – “Tinh huyết”). Bài “Duy Tân” (Tinh hoa) chính là một bản tuyên ngôn về thơ của Bích Khê, trong đó ông muốn tìm cho mình một tiếng nói riêng. Đó sẽ là một thứ thơ sử dụng một ngôn ngữ thật trau chuốt, trong sáng, đầy âm hưởng, tạo ra được những hình ảnh mới mẻ đầy sức sống, mang nhiều tầng lớp ý nghĩa. Nhà thơ phải thể hiện cái tinh túy của sự vật, nhập thân (“họa điệu”) vào tự nhiên để khám phá ra ý nghĩa, ngôn ngữ thầm kín của vạn vật. Trên cơ sở kết hợp cái “mới mẻ” (cái hiện đại) với các giá trị tiềm tàng cổ truyền của Phương Đông (cái truyền thống), thơ phải đạt đến một cái đẹp chân thật, thuần túy làm say người.
Trong lý tưởng thẩm mỹ của Bích Khê, còn có một yếu tố nữa, tuy không xuất hiện nhiều lần trong thơ ông, nhưng rất đáng trân trọng: ấy là mơ ước về một xã hội không còn có những cảnh đời đen tối, khổ đau:
Ta những muốn Sầu thương thôi biểu lộ.
- Sắc trong màu, màu trong sắc; hân hoan
Ta những muốn Mùa đông nhường lại chỗ.
- Nhạc gầy hương, hương gầy nhạc; lan man
Ta những muốn Màu đen về cõi mộ.
- Cả không gian là bể sáng tràn lan
(“Đồ mi hoa” - Tinh huyết)
2. Một cảm nhận mới về thế giới:
Bích Khê luôn mở rộng các giác quan tinh tế để cảm nhận thế giới, và chỗ nào các giác quan dừng lại, thì ông dùng đến trực giác và trí tưởng tượng mạnh mẽ để khám phá những bí ẩn hàm chứa trong sự vật. Thế giới trong thơ Bích Khê đầy hương thơm, màu sắc và âm nhạc. Có những thứ hương của tự nhiên: hoa cỏ và loài xạ, và có cả hương thơm toát ra từ da thịt con người:
Hương da thịt còn thơm hơn chất xạ
(“Cô gái ngây thơ” - Tinh huyết)
Có đủ các loại màu sắc của vàng bạc, ngọc ngà, của san hô, xà cừ, hổ phách v.v. . .. Trong bài “Nghê thường”, từ cảnh thực nơi trần gian đến cảnh ảo trên cung trăng là cả một bức tranh rực rỡ màu sắc: trời xanh, trăng vàng, mây nhung, sao kim cương, mặt hồ thủy tinh, cả không gian là xà cừ, là san hô… Một điều đáng chú ý là khi miêu tả thiên nhiên, Bích Khê thường chỉ chú trọng đến những mảng màu theo phong cách của các họa sĩ trường phái lãng mạn thế kỷ 19, đối lập với phong cách trường phái cổ điển quan tâm trước hết đến đường nét, hình thể. Cùng tả những khóm trúc thôn Vỹ Dạ, trong khi Hàn Mặc Tử làm nổi bật cái hình dáng thon dài của lá trúc vắt ngang qua khối vuông của một khuôn mặt: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”, thì Bích Khê chỉ phết một màu xanh biếc che lấp cả cành lẫn lá: “Biếc che cần trúc không buôn mà say”. (Huế đa tình)
Các yếu tố hương, sắc, nhạc đó hô ứng nhau: “Nhạc gầy hương, hương gầy nhạc, lan man” (“đồ mi hoa”), hòa trộn vào nhau: “Ôi! Nắng vàng thơm... rung rinh điệu ngọc” (“Nhạc”). Hơn nữa, nhiều khi chúng được tạo ra, toát ra từ những sự vật và những vận động vốn xa lạ đối với chúng. Hương từ mắt trào ra: “Mắt có phép trào ra hương khoái lạc” (“Một cõi trời”) và phảng phất trong mỗi cái liếc yêu: “Mỗi liếc yêu là phảng phất mùi hương” (“Cặp mắt”). Nụ cười cũng có thể thơm: “Cười thơm như ngọc dội hương vang” (“Sầu lãng tử”), và có màu trắng: “Nụ cười ai trắng như hoa lê” (“Nghê thường”). Thậm chí giấc mộng cũng có màu sắc, khi thì “rất xanh” (“Sắc đẹp”) khi thì “trắng phau phau” (“Mộng”).
Trong sự chuyển động của người đẹp, nhà thơ ngây ngất cảm nhận đủ cả hương, sắc, nhạc:
Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc;
Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương,
Là nơi đây đoàn tụ nhạc mười phương
Ứ thành xuân cho niên hoa bất tuyệt,
(“Nàng bước tới”)
Trong sự cảm nhận thế giới của Bích Khê, âm nhạc có một vai trò đặc biệt quan trọng. Đối với ông, dường như đâu đâu cũng vang lên tiếng nhạc, dường như tất cả đều vận động theo nhạc điệu: nhạc trong gió, trong nắng, nhạc trong lời nói, trong hơi thở của con người; trái tim, lồng ngực, và cả da thịt người con gái đều rung động theo nhịp điệu, và cung bậc:
Không chỉ không gian tràn ngập nhạc, mà cả thời gian cũng vận động theo nhịp điệu của nó:
Mây, tuyết thời gian bay tợ nhạc
(“Nấm mộ”- Tinh hoa)
Thậm chí đi sâu vào thế giới bí ẩn của cái sọ người, ông cũng bắt gặp cả một “máy thu thanh hòa âm nhạc thơm tho” (“Sọ người”).
Đi đôi với sự chuyển đổi cảm giác, là sự chuyển đổi chức năng các giác quan. Người ta có thể ăn ánh sáng (Tình tôi sửng vì ăn nhiều ánh sáng – “Nàng bước tới”), ăn cả hương (Đi đâu ăn cả hương ngây ngất – “Mộng lạ”), có thể hớp nhạc (Ô nàng tiên nương! Hớp nhạc đầy hương – “Nhạc”), hớp cả trăng (Hớp nhiều trăng cho niềm trinh rất ngớp – “Cặp mắt”), và người ta cũng có thể uống cả cặp môi người yêu (Tôi uống trọn cặp môi hường thơm phức – “Bàn chân”).
Đối với những gì đã nói trên đây, hẳn y học sẽ gọi là chứng loạn cảm giác (synesthésie), nhưng với các nhà thơ tượng trưng, đó chính là những sự tương ứng cảm giác rất chân thật, như P.Valéry -- một nhà thơ tượng trưng Pháp -- đã nói: “Ở người thi sĩ, tai nói; miệng nghe; chính là trí tuệ và sự tỉnh táo sản sinh và mơ mộng; chính là giấc ngủ nhìn thấy rõ; chính là hình ảnh và ảo ảnh nhìn ngó; chính là sự khiếm khuyết và sự trống rỗng sáng tạo”.
Trên một phương diện khác, Bích Khê thường không dừng lại chiêm ngưỡng cái thế giới hữu hình trước mắt, mà qua đó, từ đó, hình dung ra, khám phá ra một thế giới huyền ảo khác. Ông tin rằng đôi mắt con người có thể nhìn thấu suốt trần gian và địa ngục, có thể biết hết “nhiệm màu muôn thế giới”, cũng như những điều thầm kín trong đau khổ và khoái lạc của con người (“Tối hôm nay mùa thu đang áo não”). Quả măng cụt là cả một “khối tình, khối mộng” (“Quả măng cụt”). Sọ người là “hồ nguyệt đựng nhiều trăng lấp loáng”, “chứa một trời thương”, là máy thu thanh phát ra”âm nhạc thơm tho”, và dẫn hồn người phiêu diêu đến một bến tàu đầy hương sắc (“Sọ người''). Đàng sau hình ảnh một đóa đồ mi, là cả thế giới của cái đẹp: những con người đẹp, một xã hội đẹp và bao trùm lên tất cả là cái Đẹp tiềm ẩn trong vũ trụ (“Đồ mi hoa”). Đặc biệt cơn mưa trong bài “Tiếng đàn mưa”, một tuyệt tác trong tập “Tinh hoa”, có đến ba lớp hình ảnh: ở lớp ngoài cùng là cơn mưa của thiên nhiên, một cơn mưa rả rích làm tối trời tối đất, và dường như bất tận, dẫn đến hình ảnh “mưa hoa xuân rụng” (3) tượng trưng cho sự tàn lụi những năm tháng tuổi trẻ, sự tiêu ma của tài năng và sự tan vỡ của khát vọng sự nghiệp; và ở lớp tận cùng là trận mưa nước mắt trong lòng người “Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi”.
Chính cách cảm thụ thế giới bằng cả cảm giác, trực giác tưởng tượng lẫn trí tuệ này đã đưa đến trong thơ Bích Khê những so sánh, ẩn dụ bất ngờ, táo bạo rất thú vị theo kiểu:
Nàng ơi! tay đêm đang giăng mềm.
Trăng đan qua cành muôn tơ êm.
Hay những cách diễn đạt mới mẻ như:
- Thủy tinh ai để lòng gương hồ
- Ai giam lỏng một vì sao giữa mắt
v.v...
3. Hình ảnh một xã hội mới, hiện đại:
Có thể nói rằng thơ ca Việt Nam, từ trước đến đây, kể trong phong trào thơ mới, gắn liền với xã hội và văn mimh nông nghiệp. Bích Khê là người đầu tiên đã sử dụng như một nguồn thi liệu, đã thi vị hóa những sản phẩm công nghiệp, những thành tựu của khoa học kỹ thuật xuất hiện ngày càng nhiều trong đời sống xã hội bấy giờ, nhưng còn bị người ta cho là “vật chất tầm thường”, “phàm tục” không thể đi vào văn chương được. Ông nói đến máy thu thanh và sóng điện; đến thần kinh hệ và thuật thôi miên; đến óc, não, phổi, tim, gan và thuốc hồi dương; đến đường kinh tuyến và Kim tinh. . . Thật là mới mẻ cách ông ghi lại sự rung động mãnh liệt qua một cái hôn:
Đây tôi truyền sóng ở trong hôn
(Châu II)
Hay dưới tác động của cặp mắt người yêu:
Cả linh hồn, óc não phổi tim gan
Đều say rêm trong sóng điện Tan ran
(“Tối hôm nay mùa thu đang áo não”)
Từ xưa, để tạm thời quên lãng những đau khổ, chán chường trong cuộc sống trần thế, hoặc để thể hiện nỗi khát khao vươn tới cái Đẹp, người ta thường mơ ước lên cung trăng. Bích Khê cũng từng có những chuyến lên cung trăng, nhưng đặc biệt ông là nhà thơ đầu tiên nói đến chuyến du hành lên một thiên thể khác: “Kim tinh” (tức sao Mai hay sao Hôm, ngôi sao sáng nhất nhìn từ mặt đất), với những cảnh đẹp và những cơn người đẹp, qua óc tưởng tượng của một con người hiện đại. Âu đây cũng là một dự báo thi vị hóa về những cuộc du hành vũ trụ hiện nay.
Tuy nhiên, Bích Khê không chỉ có những giấc mơ lên trời, mà ông còn thiết thực hơn, nói đến khát vọng đổi đời của nhiều người dân phía Bắc, quyết chí tìm vào phương Nam, để lập nên sự nghiệp giàu sang với cái viễn cảnh:
Tiền ròng, bạc tốt trong tay trắng,
Danh nghiã cao sang tợ mặt trời.
(Nam hành)
Đây là sự phản ánh cuộc hành trình về phía Nam của cư dân phía Bắc đã được thực hiện từ thời xa xưa, đồng thời cũng là dự báo sự tiếp diễn của chuyển động ấy đến nay vẫn chưa chấm dứt!
4. Tính nhạc phong phú và độc đáo:
Trong lời giới thiệu tuyển tập thơ Bích Khê do Sớ Văn hóa Thông tin Nghĩa Bình in năm 1988, Chế Lan Viên có viết:”Cái đáng cho chúng ta yêu Bích Khê, bắt ta phải tìm đến anh, phải lôi anh ra khỏi lãng quên, đó là chất nhạc của thơ anh”. Nói như vậy không khỏi có tính chất phiến diện, vì dường như tất cả giá trị thơ Bích Khê chỉ tập trung ở chất nhạc. Nhưng dù sao, ông cũng đã nêu bật lên được một nét đặc sắc của thơ Bích Khê mà nhiều người đã nói tới, đã tán dương.
Là một kiện tướng của chủ nghĩa tượng trưng, Bích Khê đã thực hiện điều mà P. Valery từng nói “Trước hết là âm nhạc” (De la musique avant toute chose -- “Nghệ thuật thi ca”). Nhưng cũng như ở các phương diện khác trong sáng tác của ông, nhạc trong thơ Bích Khê có sự chuyển biến từ “Tinh huyết” đến “Tinh hoa”. Có thể nói đó là sự chuyển biến từ “tân nhạc” chịu ảnh hưởng của nhạc phương Tây trở về với nhạc cổ truyền được hiện đại hóa.
Nhiều người đã nói đến sự biến hóa về tiết tấu các dòng thơ của ông bằng thủ pháp cắt dòng thơ tám chữ ra làm hai bước thơ 4-4, phá vỡ mô hình 3-5 hay 5-3 làm mất đi cái rắn rỏi của nhịp điệu thông thường của lời thơ, và tạo ra một cảm giác êm dịu, mờ ảo:
Ô! nắng vàng thơm rung rinh điệu ngọc,
Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơm
Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương,
Màu trắng không gian như gờn gợn sóng
(“Nhạc”)
Bằng lối vắt dòng không chỉ trong phạm vi 2, 3 dòng thông thường, mà lắm lúc nhiều hơn thế, thậm chí có chỗ lên đến 7 dòng, tháo tung khuôn khổ các dòng thơ 5 tiếng, 7 tiếng và 8 tiếng, vừa mở rộng biên độ câu thơ, vừa làm bật ra một hình ảnh hay một cảm xúc đột xuất:
Người họa điêu với thiên nhiên, ân ái
Buồn, và xanh trời (Tôi trôi với bờ
Êm biếc -- khóc với thu: lời úa ngô
Vàng... khi cách biệt giữa hồn xây mộ
Tình hôm qua dài hôm nay thương nhớ
Im lặng nhìn bông ý, lặng lờ lên
Những dáng hình thanh khí) Giữa mông mênh...
Ông lại có một sáng tạo độc đáo về mặt âm thanh: đó là viết những câu thơ, thậm chí cả hai bài thơ toàn bằng tiếng bằng (4) (“Tỳ bà” và “Hoàng hoa”) tạo nên một âm hưởng chơi vơi, man mác cực tả được những nỗi buồn không day dứt mà thấm thía.
Lê Tràng Kiều khi giới thiệu thơ Bích Khê trên báo “Tiểu thuyết thứ năm”, ra ngày 11/05/1939 đã viết: “Mới đây, các bạn đã được say sưa, càng được say sưa hơn, khi nghe được tiếng đàn Tỳ Bà thần ảo ấy. Hãy im! Tác giả “Tỳ Bà”, ông Bích Khê Lê Mộng Thu sắp cho ta nghe hai khúc đàn nữa, nó cũng như khúc “Tỳ bà”, rất êm, rất nhẹ, có lẽ êm quá, nhẹ quá. Khúc “Hoàng hoa” và khúc “Nghê thường”. . . Kỳ này, các bạn hãy theo khúc Hoàng hoa, đưa tâm hồn đến với những người chinh phụ đang trông chồng nơi “ngàn khơi kia”. Chiều đã xuống. Ta hãy lắng nghe”
Tiến lên một bước, Bích Khê vận dụng những thủ pháp của âm nhạc vào thơ mình. Nhiều khi ông cấu trúc bài thơ theo cách thức của ca khúc như bài “Tối hôm nay mùa thu đang áo não” trong chương “Châu”, là một ca khúc hai đoạn với những trổ thay đổi (couplets) và một điệp khúc lặp đi lặp lại (refrain):
Nhạc khiêu vũ đâu đây lan sóng múa.
Tôi tưởng chừng da thịt biến ra thơm, v.v.
Sang “Tinh hoa”, Bích Khê chỉ làm một bài bát ngôn duy nhất (Bài “Duy tân” viết năm 1940 thực ra gần với”Tinh huyết” hơn). Ông trở về với các thể thơ cổ truyền, nhưng với những âm sắc mới. Các thể thất ngôn, ngũ ngôn không theo khuôn khổ gò bó của luật thơ Đường, mà mang dáng dấp phóng khoáng của cổ phong (bỏ đối ngẫu) và gần với phong cách văn xuôi, do đó trở nên mềm mại hơn, uyển chuyển hơn và theo điệu cảm nghĩ của người hiện đại. Chẳng hạn trong bài “Mộng trong hương”, hai cặp câu 3-4 và 5-6 không còn đối ngẫu nữa mà đi liền một mạch, với một văn phong thật mới mẻ:
Ngoài ly Lý Bạch trời như mộng,
Sau khói phù dung mộng cố hương.
Thì mộng: Xuân Hương nường đã đến
Thưa cô dáng nguyệt tuyết còn vương
Bài “Nam hành” làm theo thể trường đoản cú là một khúc nhạc khi tha thiết, khi hào sảng, khi lại man mác buồn theo từng trạng thái tâm lý của người ra đi. “Nam hành” với “Tống biệt hành” của Thâm Tâm là hai bài thơ đặc sắc thời kỳ 1930-45, cùng viết về một đề tài: từ biệt gia đình ra đi để mưu cầu sự nghiệp lớn, lại gặp nhau trong vận dụng thể loại: loại “hành”, một lối ca từ trong nhạc phủ nặng về tự sự của Trung Quốc, tuy âm điệu có chỗ khác nhau, nhưng cũng cùng có cái phóng khoáng, cái bi tráng ít gặp trong văn học thời bấy giờ.
Trong các bài thơ viết theo thể lục bát, song thất lục bát, ông phát huy cao độ tác dụng của phép lặp. Ở đây, phép lặp đã vượt qua phạm vi của một biện pháp tu từ thông thường để tiếp cận thủ pháp lặp trong âm nhạc -- nghệ thuật của thời gian này thường lặp ý nhạc để nhấn mạnh và phát triển chủ đề. Có những sự lặp nhỏ: lặp lại toàn bộ câu thơ trước rồi tiếp đến là một ý mới bổ sung. Bài “Giọt lệ trích tiên” đầy rẫy những kiểu lặp này như:
Bụi hồng cách với hoa đào
Bụi hồng cách mấy hoa đào nẻo xưa
(phát triển về khoảng cách thời gian)
hay:
Sông Ngân cách mấy sông Tương
Sông Ngân cách với sông Tương mấy trời
(phát triển về khoảng cách không gian)
Có những sự lặp lớn như trong bài “Tiếng đàn mưa” đã nói ở trên được cấu trúc hệt như một bản nhạc thuộc thể loại “Chủ đề và biến tấu” (Thème et variation). Bài thơ gồm bốn đoạn, mỗi đoạn đều thể hiện chủ đề “hoa xuân rụng” gắn liền với cơn mưa ngoài trời và nỗi lòng con người mỗi lúc một bi thiết hơn, đẩy kịch tính đến cao trào sự tuyệt vọng.
Trên hành trình đi tìm, khám phá cái mới lạ, không phải lúc nào Bích Khê cũng thành công, thậm chí có khi ông đi quá đà vào việc phơi bày cái nhục cảm. Tuy nhiên, thơ ông đã đạt được những giá trị nghệ thuật sáng chói, và với những gì đã đóng góp cho sự phong phú đa dạng của nền thơ ca hiện đại Việt Nam, ông xứng đáng được nhà thơ-nhà phê bình văn học sắc sảo Chế Lan Viên xếp vào hạng “những nhà thơ vừa làm thơ vừa đẩy lịch sử thơ ca, duy tân thêm một bước”, và được giáo sư Lê Đình Kỵ tôn xưng là “nhà thơ tiên phong” (“Đọc lại Bích Khê - nhà thơ tiên phong”, Tạp chí “Kiến thức ngày nay” số l13 - 21/06/1993).
Nguồn:
Bài tham luận tại Hội thảo về Bích Khê, nhân 90 năm sinh và 60 năm mất.
Quảng Ngãi, 20-21/2/2006
Chú thích
(1) “Bán sầu” (1935) – Mấy dòng thơ cũ.
(2) “Bán thơ” (1936) – Mấy dòng thơ cũ.
(3) Hoa xuân: Trong tiếng Hán có thành ngữ “xuân hoa thu thực” có nghĩa là mùa xuân nở hoa, mùa thu kết quả; nghĩa bóng là: người có thực tài thì thời đại nào cũng được dùng. “Xuân hoa” ví với tài năng; thu thực ví với sự nghiệp.
(4) Trong thơ Trung Quốc xưa cũng có bài thơ toàn thanh bằng: “Hạ nhật nhàn cư” của Lục Quy Mông đời Đường, lại cũng có bài thơ toàn thanh trắc: “Chu trung dạ dữ gia nhân ẩm” của Mai Nghiêu Thần đời Tống, nhưng đó chỉ là trò chơi văn chương, không có ý nghĩa nghệ thuật gì.
BÍCH KHÊ - CON SUỐI XANH LẶNG LẼ
Nguyễn Thị Thanh Xuân
1. Cái trong lặng của nguồn…
Có một Trường thơ Loạn ra đời, những năm 30 của thế kỷ trước, trên vùng đất “khúc ruột miền Trung” này, với ba chàng trai trẻ.
Họ là ai? Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê. Lịch sử văn chương Việt Nam có lúc sững lên vì họ. Và rồi Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử đường hoàng đi vào sách giáo khoa, được công chúng trẻ hôm nay đọc và học mỗi ngày trong giảng đường.
Duy chỉ có Bích Khê lặng lẽ.
Nhà thơ biết và muốn mình mãi là con suối biếc. Suối biếc thì luôn náu mình giữa đại ngàn. Giòng rất hẹp mà lòng rất sâu. Nước trong đến rợn người, xiết vào lòng đá tảng.
Tinh huyết và Tinh hoa từ khi ra đời vẫn luôn tỏa ra một mùi hương lạ. Nó làm ta liên tưởng đến tiếng chuông kỳ ảo trong các huyền truyện của H.C. Andersen. Những người lớn ngập mình trong thế-giới-được-thua sẽ không bao giờ bắt được mùi-hương-tiếng-chuông ấy. Chỉ có những trẻ thơ thoáng nghe và mải mốt đi tìm. Và, họ bắt gặp một chân trời bát ngát.
Những chân trời mời gọi. Thơ Bích Khê mời gọi chúng ta. Bước tới và khám phá đi, thơ ca của giòng suối biếc.
2. Khát vọng chạm môi vào tinh chất…
Tuổi đôi mươi, nhà thơ đã chọn những âm trầm. Phương Đông uy nghiêm (Đường luật) hay Việt Nam lả lướt (Hát nói) đều nằng nặng một u hoài.
Này sầu hoa, sầu cỏ, sầu núi, sầu non
Sầu tất cả bà con say tỉnh dở
Chưa nói đến tớ sầu vì tớ
Bôn ba mà vỡ lỡ nét tang thương
Ma dắt lối quỉ đưa đường
Sầu đây đó sầu vương chằng chịt mãi
(Bán sầu)
Cái u hoài này không trang trọng cổ kính Huyện Thanh Quan mà phóng túng tài hoa Nguyễn Khắc Hiếu.
Rồi cái âm trầm ấy đã trở thành chủ âm của thơ ca Bích Khê, khi chàng dấn bước vào hành trình khơi mở. Cúi xuống và cúi sâu xuống hồn mình, trái tim thơ trẻ đã giao hòa cùng đất đai quê xứ :
Nơi đây: làng cũ buồn thu quạnh
Anh có khi nào trở lại chưa?
Ngày đi chậm lắm. Giòng sông biếc
Hừng sáng trong trời sợi sợi mưa
(Làng em)
Làng thì cũ. Ngày thì chậm. Và mưa. Nhưng giòng sông biếc lại hừng sáng, bất chấp khung cảnh vây quanh. Bởi giòng sông ấy đã thu vào lòng mình cái hồn thời đại. Bởi nhà thơ đã tìm thấy thanh- gươm-bổn- mệnh của đời mình:
Người cho ta một thanh gươm rất sắc…
(Mộng cầm ca)
Từ ngôi làng quạnh hiu ơ thờ ngày tháng, làm thế nào chàng trai thơ bắt được thanh gươm? Không, gươm đã tìm đến chủ, như thuở xưa sứ thần tìm đến Gióng. Và rồi bình minh đến. Một bình minh của thơ ca và sáng tạo.
Một thanh gươm rất sắc, có ai nói như thế không về ngôn từ thơ ca? Và rồi ngay tức thì, từ khoảnh khắc chạm tay, Bích Khê hiểu ra mình đã cầm nắm được một điều kỳ diệu: một luồng sinh khí khác thường khai mở sức thanh xuân. Những cụm từ chỉ hành động mạnh mẽ ngông cuồng: Vung lên cắt… mạch nguyệt vàng xanh, Xẻ mạch trời mây xô sao, răng rắc, Phăng mạch đêm, hương vỡ, ứa ngầm tinh, Điên rồ múa…có khác thường không với một bài thơ mang cái tên êm đềm Mộng cầm ca?
Có mối liên hệ nào giữa chiếc đàn mộng tưởng và thanh gươm rất sắc? Bích Khê nói gì với ta ở ba từ mạch liên tiếp (mạch nguyệt, mạch trời mây, mạch đêm) nằm trong ba câu thơ liền nhau trên? Như thói thường, thi nhân nương mình vào vũ trụ để tìm hoà âm giai ngẫu, Bích Khê lại muốn lay động, phá vỡ, xáo trộn. Vì sao?
Một mình chiêm nghiệm trong bóng tối mịt mùng của không gian vật lý, không gian xã hội, không gian tâm lý và không gian chữ nghĩa, nhiều lúc nhà thơ đã như nắm được sợi sinh mạch –nguồn cơn của thế giới này. Đắm say và khát khao, người muốn đi đến cùng trong cảm giác chạm môi vào tinh chất (essence). Trịnh Công Sơn rất gần với Bích Khê trong tâm thế thường trực này, chỉ có điều người thì khẽ khàng, kẻ lại mạnh mẽ, nhưng cuối cùng cả hai đều đến đích, bởi họ đã sử dụng tài tình cái chìa khoá đầy quyền năng của ngôn từ và giai điệu.
3. Những bước lượn bất ngờ làm nên nghịch lý…
Trong giòng chảy 14 năm của mình, Bích Khê luôn có những bước lượn ngoạn mục đầy bất ngờ, bởi vì nói như Thanh Thảo, chàng luôn luôn“bước tới” (1). Có thể thấy những bước vận động lớn qua ba chặng đời nghệ thuật: 1931-1936, 1936-1939, 1939-1945, tương ứng với ba tập thơ: Mấy giòng thơ cũ (chưa xuất bản), Tinh huyết (1939) và Tinh hoa (1997). Cũng có thể nhận ra sự tự vượt thoát của Bích Khê trong từng tập thơ một. Rồi đây hẳn chúng ta còn phải nghiên cứu kỹ về hai vấn đề trên, với công tác văn bản học tỉ mỉ, khoa học. Ở đây, đi từng bước nhỏ, tôi muốn dõi theo những cú lượn trong từng bài thơ của Bích Khê. Những cú lượn cực nhanh và ngày càng tinh diệu, lắm khi làm chúng ta hoa mắt.
Với Mộng cầm ca, bốn khổ thơ đầu phả ra cảm giác dạt dào của ngũ quan về thiên nhiên và con người; bỗng ngoặt một cái, đường bay sững lại ở sự kiện đầy kịch tính, là biểu tượng chuyên chở tuyên ngôn:
Người cho ta một thanh gươm rất sắc
Ồ vung lên…cắt mạch nguyệt vàng xanh
Xẻ mạch trời-mây xô sao, răng rắc
Phăng mạch đêm, hương vỡ, ứa ngầm tinh!
Người cho ta một thanh gươm rất sắc
Ta điên rồ… múa giữa áng bình minh
Trong Đồ Mi hoa, sau khi ngợi ca một nhan sắc vừa lồ lộ đài nộn nhụy, vừa tinh khiết chứa mùa xuân phẩm tiết, Bích Khê uốn lượn ở khổ thơ áp chót:
Ta những muốn sầu thương thôi biểu lộ
-Sắc trong màu, màu trong sắc: hân hoan..
Ta những muốn mùa đông nhường lại chỗ
-Nhạc gầy hương, hương gầy nhạc: lan man…
Ta những muốn màn đen về cõi mộ
-Cả không gian là bể sáng tràn lan
Đến Duy tân, bằng thể thơ tám chữ, Bích Khê uốn lượn trong từng câu:
-vắt giòng, chấm ngang:
Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới,
Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong
(…)
Trong vòm xanh. Màu cưới màu bình lặng,
Gây phương phi: chiếu sáng ngả sang mờ
Vì hình dung những sắc mát, non, tơ
Như mặt trời lọc qua khóm liễu, một
Hoàng hôn-Ôi đàn môi, chim báu tớt:
-mở ngoặc:
Múa song song: khiêu vũ dưới đêm hồng
(Những con cừu tim trẻ mướt như lông…
-xuống giòng bậc thang, hỏi và trả lời:
Mộng?
Thiên tài?
-Trên hỗn độn khoả thân
-chú dẫn ý nghĩa bằng hai gạch nối :
Vàng…khi cách biệt -giữa hồn xây mộ-
Nhưng kinh ngạc hơn là Xuân tượng trưng và Ngũ Hành Sơn (tiền và hậu), những bài thơ mà theo tôi là đỉnh điểm của thiên tài. Nơi đây, trong một thể thơ năm chữ, Bích Khê đã lượn trong từng từ, từng âm, từng hình ảnh, từng nhịp điệu, từng ý nghĩa...
Văn bản cho thấy, từ mở cho đến kết, Xuân tượng trưng và Ngũ Hành Sơn (tiền và hậu) hoàn toàn không có dấu ngắt. Đó quả thực là con suối vô thuỷ vô chung, lưu vực hẹp và sâu, lưu lượng mạnh và luân chuyển khôn lường thành nhiều con sóng nhỏ: lời/ nhạc/ hình/ nét/ cảm giác/ tư tưởng… (Xuân tượng trưng); vật/ người/ tình/ cảnh/ nhạc/ tiên/ yêu tinh/ ngai báu/ thiên đường.. (Ngũ Hành Sơn (tiền) người/ cảnh/ vũ trụ/ triết học/ Phật/ văn chương/ thế gian… (Ngũ Hành Sơn (hậu).
Ở Ngũ Hành Sơn (tiền):
Hai ta là mảnh vỡ
Của ngai báu thiên đường
Hai ta là chất bổ
Cắn ở trái đau thương
Vì họ có đôi, nên ước vọng cao nhất là đến đỉnh non Bồng:
Ôm nhau chết bên đường
Mơ màng trăng hạc rước
Ở Ngũ Hành Sơn (hậu), chàng đi một mình, nên được cái niềm vui hào sảng sóng mình cùng triết lý, Phật pháp và “chính phẩm văn chương”:
Đứng trên Đài Vọng Hải
Ngỡ tới Hoàng Hạc Lâu
Tuyệt thay hòn Non Nước
Hồn Thôi Hiệu ở đâu
Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, lạy
Trên, dưới, đất, trời, chầu
Vàng sao ngời mắt rạng
Sương châu nhỏ giọt sa
Những bài thơ trên, khi đọc lên, gợi nhớ những thần chú xa xưa, do âm điệu cực kỳ biến ảo và ngôn ngữ thơ ca giàu sức nén.
Và như vậy có thể nói, bước lượn lớn nhất, bao trùm nhất của giòng chảy thơ Bích Khê là đường lượn chéo, uyển chuyển, đã nối liền Đông và Tây, xưa và nay, thi ca và triết học, cảm giác và trí tuệ….
Những bước lượn đã làm nên các nghịch lý trong văn bản và ngược lại. Phân tích các nghịch lý này, dường như ta hiểu được phần nào cái lạ lùng khó hiểu của thế giới thơ Bích Khê.
4. Con người kép trong thơ, sự chưng cất tuyệt đẹp từ đâu…
Không theo lẽ thường, Bích Khê xuất hiện và tồn tại trong không gian thơ của mình một con người kép: con người cảm xúc và con người suy tưởng.
Cuộc gặp gỡ giữa ba thi nhân thuở ấy, thoáng chốc thôi, mà như định mệnh. Lần lựa hơn trong khởi nghiệp, Bích Khê bừng nở muộn và thơ ông là tinh chất được chưng cất từ hai dung dịch thơ ca đậm sắc Hàn Mặc Tử - Chế Lan Viên.
Dù chứa chan cảm xúc, Bích Khê không chuồi đi trong dẫn dắt của ngũ quan như Hàn Mặc Tử. Dù tràn đầy ý thức cách tân, Bích Khê không xiêu theo hấp lực của suy tưởng như Chế Lan Viên. Không chỉ đam mê Bích Khê còn tỉnh thức. Vừa sống với thơ, Bích Khê còn nghĩ về thơ. Từng bài thơ Bích Khê dung chứa con người kép này của ông, mà phương diện nào cũng sục sôi, cũng “bôn bức” (2) .
Sẽ cắt nghĩa thế nào, hiện tượng này?
Đồng bệnh tương lân, có lẽ trong những người bạn thơ, Bích Khê gần Hàn Mặc Tử nhất. Chia sẻ, xót xa, tâm hồn thơ Bích Khê có lúc giao hòa cùng Hàn Mặc Tử: Hiện hình, Làng em, Nghê thường…Chất cảm xúc trong thơ ấy là cảm xúc quyện chặt giữa hồn và xác: chiêm ngưỡng và rạo rực, hân hoan và thảng thốt. Cái âm điệu trong thơ ấy vừa dào dạt vừa kìm nén. Cái hình ảnh trong thơ ấy vừa bảng lảng vừa suồng sã. Nhưng cả trong khi giống Hàn Mặc Tử như vậy, Bích Khê đã đi xa hơn, đã ướm mình vào thế giới siêu thực, như nhiều người nói, và vẫn là Bích Khê với âm chất Quảng Ngãi của riêng mình: Gió thiệt đa tình…Thơm tho mùi thịt bắt say ngà… (Hiện hình); Lên men nồng khướt, xoay tròn lên không (Cuối thu); Nhung mây ê ngời sao kim cương, Dạ lan ê ngời say men hương, Này! Muôn ngọc nữ ngớp y thường (Nghê thường); Gió tâm tư say chúi nửa lừng mơ (Đồ mi hoa); Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương.. Hỡi trần gian! Hãy chết ngột trong sao (Nàng bước tới); Tôi sú tình trong đôi mắt ướt, Mơ màng phối hiệp ở chiêm bao (Tôi chết rồi tiếng nói như châu); Màu thi sắc lá đọ dung nghi (Hồ Xuân Hương); Của lời thơ lóng đẹp. Ôi đàn môi, chim báu tớt (Duy tân); Miệng nào rục điệu ca, Làm ứa mảnh trăng lòn (Ngũ Hành Sơn).
Cũng từ phong khí đất đai và nhịp hồn thời đại mà thơ Bích Khê gặp gỡ thơ Chế Lan Viên, trong cảm hứng, trong motif nghệ thuật và trong sự tỉnh thức. Nhưng nếu Chế Lan Viên ngả về cái huy hoàng của tư duy, Bích Khê nương theo cái tráng lệ của ngôn từ. Suy tưởng với Bích Khê là suy tưởng trên ngôn từ. Vì vậy Bích Khê cách tân rõ hơn Chế Lan Viên về thủ pháp.
Chất nhựa thơm nồng kỳ lạ đã ứa ra, trên đôi tay của những người tinh luyện ngôn từ, Tây và Đông: Baudelaire, Rimbaud, Valéry, Bích Khê …
Có cả trong thơ Bích Khê, cái hồn của Đông và Tây, cổ kính và hiện đại, nghiêm trang và sỗ sàng, vì thế Quách Tấn nói “Bích Khê nhảy từ thái cực này sang thái cực khác” (…) lúc “khăn đen áo dài tề chỉnh”, khi “trần thân đứng trước chỗ đông người mà không chút ngượng ngùng” (3) .
Đọc thơ Bích Khê sẽ nhận ra cái cảm giác dạt dào của ngũ quan, cái táo bạo và bề bộn của hình ảnh, luôn bị gò trong cái khuôn cân đối chặt chẽ của câu thơ và nhịp điệu. Đừng hòng tìm ở đây cái lửng lơ xộc xệch của câu thơ tự do. Điều gì làm nên cái nghịch lý thứ hai này trong thế giới thơ ca Bích Khê? Ta biết rằng cả cũ và mới, Bích Khê đều muốn vắt ra cái chất nước trong ứa từ nguồn cội. Và là nước thì tất phải chảy, con suối ấy chưa bao giờ dừng đọng, chưa bao giờ chịu cam lòng quẩn quanh, dù nhà thơ thì đang phải giam mình trong một xác thân bệnh tật và một không gian tỉnh lẻ. Vận động, mải miết chảy, đó là hình ảnh mà thơ ca Bích Khê lưu lại. Bước vận động của thơ Bích Khê cũng khác người. Nói theo ngôn ngữ truyện chưởng, Bích Khê luôn đi những chiêu hết sức bất ngờ. Sách vở và kiến thức đông tây cổ kim tất nhiên là có, nhưng đến một lúc nào đó đã nép mình nhường cho một linh giác lạ thường, làm nở xoè ra những bông ánh sáng.
5. Tinh huyết, Tinh hoa, xác tín và trao gửi…
Nghệ sĩ nhất trong số những nghệ sĩ Việt Nam hiện đại, Bích Khê lại là con người luôn xác quyết trong đời và trong thơ. Những giòng hồi ức của Quách Tấn và Ngọc Sương hé mở nhiều với ta về một cá tính. Và tôi tự hỏi: làm sao ở độ tuổi đôi mươi, người ta có thể tự chủ và tự biết đến vậy! Tự chủ và tự biết trong học tập, trong lập thân, trong văn chương, trong tình cảm và cả trong cái chết, khi thân xác thì ốm yếu, đời sống thì gian nan.
Lời tuyệt mệnh Bích Khê tự đề cho mộ chí mình:
Thân bệnh: ngô vàng mưa lá rụng
Bút thần: sông lạnh ánh sao rơi
Sau nghìn thu nữa trên trần thế
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi
là một một dự báo đầy tự tin, hoàn toàn ung dung, của một thi nhân hiện đại đứng vững trên khu vườn thơ ca dân tộc.
Nhưng còn Tinh huyết và Tinh hoa, nhan đề hai tập thơ mà Bích Khê đã rất cân nhắc trong chọn lựa?
Tinh huyết làm chúng ta nghĩ về cái essence của vùng miền và đất nước kết lại, làm thành cốt cách, khí chất nơi người. Tinh hoa lại gợi đến cái essence của xã hội và thời đại hội tụ, bộc lộ thành tài năng, dáng vẻ.
Bích Khê đã trao tặng chúng ta cái món quà vô giá mà từ lúc hình thành ý tưởng, đếnlúc gói ghém, cột nơ, thảy đều cẩn trọng và chu tất.
6. Dáng viết Bích Khê…
Lịch sử thơ ca để lại cho ta những dáng viết và những dáng người. Có thời ta gặp những dáng viết tỏ ra vững chãi hân hoan trong những dáng người dựa dẫm. Thật hạnh phúc khi gặp những dáng viết liêu xiêu lảo đảo trong dáng người thung dung tự tại. Bích Khê-đời, từng chịu đựng những cơn đau, lặng lẽ thu xếp trước cho mình cái chết, nồng nàn cả tin mà cũng quyết liệt đến bất ngờ. Bích Khê-thơ, chọn cho mình một lối đi cheo leo, và cái dáng thơ chênh vênh nghiêng ngả trên sợi dây rất mảnh vắt ngang núi cao và vực sâu ấy luôn làm ta chóng mặt.
Ba mươi mốt năm trần thế, một thể chất mong manh, một trái tim nhạy cảm. Tình yêu hay thời cuộc, tiếng dội nào cũng đều làm ran ngực trẻ. Bích Khê đã chọn nhận và khước từ. Chỉ có cuộc hôn phối với thơ ca là vĩnh viễn. Với thơ ca, chàng đã giữ được thế cân bằng để đi đến đích. Cả trong thơ và trong đời, Bích Khê như một người đạt đạo ở tuổi ba mươi.
Sài Gòn, 2006
Nguồn:
Tham luận tại Hội thảo về Bích Khê, nhân 90 năm sinh và 60 năm mất.
(2) Lời của Bích Khê: “Tôi biết thơ tôi chưa theo kịp thơ Tử. Thơ Tử đã lên đến độ “xuất thần nhập hoá”. Tôi phải tu luyện lâu ngày mới vói tới vai Tử được. Sánh Tử là Gia Cát Lượng, tôi là Bàng Thống đúng lắm. Phải công nhận Bàng Thống thua Gia Cát Lượng xa. Một bên ung dung… một bên bôn bức…Tánh tôi thật giống tánh Phụng Sồ..” (Quách Tấn, Đời Bích Khê, Lửa Thiêng, S, 1971, tr.159)
(3) Sđd, tr.94.
XIN CÓ ĐÔI ĐIỀU
Vũ Ngọc Liễn
Tôi xin bắt đầu bài tham luận bằng thơ Bích Khê:
Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ
Ô tiên nương, nàng lại ngự nơi này
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi
…
Thơ đã hay đến vậy mà lời bình của Hàn Mặc Tử chính xác đến mức tuyệt đối: “Nếu chẳng phải là một nghệ thuật siêu thần thi nhân làm sao đưa đến một nguồn sống phong tình mà thanh khiết cho giai nhân”. Vài cái “chân như” của nghệ thuật siêu thần ấy (nói theo triết lý nhà phật) Hàn Mặc Tử bình tiếp: “Trực giác của thi sĩ mạnh quá đến nỗi thấy nhan sắc lên hương, thấy cả sóng nghê thường đang nao nao gợn, và so sánh hai hàng nước mắt trong trắng của nàng là hai chiếc đũa ngọc, mái tóc huyền xinh xinh như một mùa thu mươn mướt”.
Còn đối với thế hệ chúng tôi coi mỗi chữ của bài thơ này là một hạt kim cương, mỗi câu là một chuỗi ngọc. Vì rằng, hồi còn trẻ từng có dịp thưởng thức bức tranh tương tự trong đời thường vậy mà ngu đến nỗi không biết nói, hoặc nói chẳng nên lời... may mà có Bích Khê nói hộ. Chính vì lẽ ấy mà tôi quyết đến cho được Hội thảo này chỉ để nói hai điều:
-- Một là, Bích Khê -- một tài hoa của đất nước, “một núi lạ” (lời Chế Lan Viên), “Biệt thự một nhà triệu phú” (lời Hoài Thanh) có từng hoạt động Tờ-rốt-kít ở Quảng Ngãi hay không, hay bị người ta vu cáo chính trị?
-- Hai là, tôi xếp Bích Khê vào “trường thơ Bình Định” bởi những lý do nội tại của lịch sử hồi ấy!
Xin bàn về điều thứ nhất: Nếu căn cứ vào tiểu sử Bích Khê thì Lê Quang Lương đậu tiểu học Pháp-Việt năm 14 tuổi, đến 17- 18 tuổi đang học tú tài ở Hà Nội thì bỏ học chỉ vì dành tiền cưu mang một người bạn thất cơ lỡ vận, ấy vậy mà về sau, khi ông bạn quỉ quái này no ấm lại trở thành kẻ phản bội Bích Khê có đau không chứ! Giống như tên Tiết Nghĩa phản bội Tiết Cương trong vở tuồng Hộ sinh đàn của Đào Tấn vậy. Đến năm 1936 (20 tuổi) thì về quê sống với mẹ và dưỡng bệnh, đôi khi cùng chị là Ngọc Sương đi Huế tiếp xúc với cụ Phan Bội Châu và cụ Huỳnh Thúc Kháng. Năm 1938 lại cùng chị Ngọc Sương vào Phan Thiết mở trường dạy học, được một năm thì trường bị đóng cửa. Năm 1939 lại về quê vì bệnh nặng. Năm 1946 ở cái tuổi 30 Bích Khê từ giã cuộc đời. Chừng ấy thời gian Bích Khê vừa dạy học, vừa sáng tác, vừa đương đầu với bệnh nan y thì Bích Khê hoạt động Tờ-rốt-kít vào lúc mô? bằng đường nào? và hành động cụ thể là gì?
Dù Bích Khê có là Tờ-rốt-kít đi nữa thì cũng chẳng hề giảm sút giá trị “đỉnh núi lạ” mà đời thơ Bích Khê đã cống hiến cho đời, cho nên tôi cũng chẳng bận lòng về chuyện ấy. Nhưng ở đời, cái quí là sự công bằng, có thì nói rằng có, bằng không thì nói rằng không, đừng cơi gót giày mình cho cao để hạ thấp người khác bằng vu cáo chính trị thì thật là tệ hại!
Bây giờ xin bàn đến điều thứ hai:
Nhắc đến “trường thơ Bình Định” hồi ấy người ta hay gộp chung với câu chữ “Bàn thành tứ hữu” để chỉ các nhà thơ: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan, Quách Tấn. Rồi từ “tứ hữu” đến “tứ linh” tức bốn con linh vật: Long - Lân - Qui - Phụng.
Thực ra đây chỉ là khởi xướng của anh Quách Tấn nhằm tôn vinh tài thơ của các bạn mình, đồng thời tự coi mình là con rùa, con vật chậm chạp trong “tứ linh”, suốt đời không cất chân khỏi cái khu vườn “mùa cổ điển”. Có lẽ chỉ vì gò cho khớp với khuôn khổ “tứ linh” mà vô tình anh đã để “lọt lưới” một bạn thơ, một thành viên trong thi đàn Bình Định hồi đó là Bích Khê mà suốt đời Quách Tấn luôn kính yêu. Chúng ta hãy nghe một đoạn tự thuật của Quách Tấn:
“Bích Khê định ở chơi cùng tôi lâu, một là để nhờ Lê Văn Tân chữa bệnh; hai là đợi Yến Lan từ Hà Tiên về. Nhưng một hôm, nói chuyện về Hàn Mặc Tử, Khê hỏi tôi:
-- Anh đến thăm Tử, anh có sợ lây không?
-- Cũng có phần sợ, nhưng không bao giờ tỏ ý dè dặt.
-- Như vậy không khi nào anh bắt tay Tử?
-- Không bao giờ Tử đưa tay cho ai bắt cả... Tánh Tử rất thận trọng.
-- Đúng thế. Nhưng tôi phá 1ệ. Khi ở Phan Thiết, tôi ra thăm Tử mấy lần. Năm 1940 ở Thu Xà tôi vào thăm một lần trước khi Tử đi Qui Hòa. Lần nào tôi cũng ngồi cạnh Tử và lúc về cũng như lúc đến tôi buộc Tử phải đưa tay tôi bắt…
-- Anh không sợ lây ư?
-- Đã thương yêu nhau mà còn sợ lây à?
-- Thương yêu là một việc, sợ lây là một việc. Và yêu bạn sao bằng yêu mình?
Câu nói thật sống sượng nhưng trót ra khỏi miệng, bốn ngựa không còn theo kịp nữa rồi!
Khê hừ một tiếng:
-- Té ra lòng yêu thương bạn bè của anh có chừng mực!
Tôi hối hận và ngượng ngùng chữa lỗi...
Khê nhún vai bỏ đi nằm.
Đêm hôm ấy Khê đi ngủ sớm và sáng hôm sau dậy sớm bảo tôi:
-- Tôi cần phải ra Ninh Hòa thăm người bà con ít hôm.
Tôi biết Khê hờn tôi. Tôi tìm đủ cách để cầm chân. Khê gắt: “Tôi ra đó nhiều lắm là hai hôm rồi trở vào, chuyện chi mà sợ dữ vậy?”. Tôi đành phải để Khê đi. Khê đi buổi sáng thì buổi chiều Yến Lan ở Hà Tiên ra. Tôi có ít nhiều hy vọng rằng Khê không nỡ giận mình mà bỏ ra về như thế. Nhưng hai hôm sau tôi được thư Khê từ Ninh Hòa gửi vào cho biết vì có việc cần nên phải về nhà gấp. Tôi rất buồn. Nhưng rồi Yến Lan gửi thư cho Khê, Khê phúc đáp vui vẻ, trong thư không giận tôi. Sau đó tôi thường được thư Khê!!..”
Chưa hết, nếu không có cái cú hích của Hàn Mặc Tử bằng cách chê ỏng chê eo tập thơ đầu tay mà Bích Khê đã xé vụn thì liệu thiên tài thơ Bích Khê có bùng nổ như ngày nay chúng ta đang chiêm ngưỡng? Thật khó nói.
Như vậy khỏi cần phải nhắc lại mọi hành vi và tình cảm trong mối quan hệ keo sơn của họ suốt thời gian dài, khi còn sống cũng như lúc lâm chung tưởng cũng đủ chứng cứ xếp Bích Khê vào “trường thơ Bình Định” và nên gọi là “ngũ phụng tề phi” thay vì “Bàn thành tứ hữu”. Đây là điều tôi muốn nói khi đến với Hội thảo hôm nay.
Nguồn:
Phát biểu tại Hội thảo về Bích Khê, nhân 90 năm sinh và 60 năm mất.
Quảng Ngãi, 20-21/2/2006
Ý KIẾN NHỎ VỀ NHÀ THƠ LỚN
Gs. Phương Lựu
Tóm tắt:
Chính là cái hồn cốt Đường thi đã được hun đúc từ thuở thiếu thời mà Bích Khê không thật ăn nhập vào dòng thơ lãng mạn trong giai đoạn đầu, nhưng rồi lại tiến thẳng lên chủ nghĩa tượng trưng với những kết tinh nhanh chóng trong giai đoạn sau của thơ Mới.
***
Nhà thơ lớn của cả đất nước! Lại sinh thành từ tỉnh nhà, và cũng xin muốn thơm lây chút nữa là quê hương Thu Xà của Bích Khê nằm bên kia sông làng tôi. Được biết lần đầu tiên có Hội thảo, mà lại Hội thảo toàn quốc để kỷ niệm 90 năm ngày sinh và 60 năm ngày mất của nhà thơ lớn chỉ có mặt trên đời này vỏn vẹn có 30 năm, thật vô cùng cảm động, phấn khởi và nhiệt liệt hoan nghênh. Với ý nghĩ rằng tỉnh ta thiệt thòi đủ bề, rồi cũng chậm chạp trên nhiều mặt, cho nên nếu có cái gì khá, khá thật, có cái gì đó tinh hoa, tinh hoa thật, thì phải cùng ra sức chăm sóc, phát huy lên cố nhiên chung cho đất nước, nhưng cũng là, xin nói thật, để cho tỉnh nhà mở mày, mở mặt dần. Chắc chắn đây cũng là tâm trạng chung của bà con anh em tỉnh nhà, nhất là của những đứa con xa quê. Nhưng riêng tôi, sở dĩ phải bộc bạch hơi có phần vụng về như trên là bởi vì bản thân thuộc lĩnh vực chuyên môn khác, chẳng qua là vì không thể và không nên “cảm động, phấn khởi và hoan nghênh” suông, cho nên phải cố gắng góp một tiếng nói, nhưng cũng chính vì thế mà ý kiến được viết ra đây rất nhỏ nhoi, thô thiển, dám mong tất cả nhất là Ban Tổ chức Hội thảo thông cảm và tùy nghi sử dụng.
***
Phong trào thơ Mới 1932 - 1945 của ta mặc dù thường mang tên chung là Lãng Mạn, nhưng thật ra còn mang nhiều sắc thái, xu hướng, nhất là từ năm 1936-37 trở đi chuyển dần sang chủ nghĩa tượng trưng, đã nâng tư duy thơ, thi pháp thơ lên một tầm cao mới, vẫn rất có ý nghĩa cho mãi đến ngày nay. Đó là xu hướng chung của cả phong trào, chứ thật ra, ít nhiều chuyển được sang bến bờ tượng trưng chỉ có vài mươi nhà thơ, nghĩa là chỉ độ một phần tư số lượng nhà thơ mới đương thời. Vấn đề là trong số một phần tư đó bao gồm hầu hết các nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới. Và trong số lượng cùng tỷ lệ không lớn đó có Bích Khê của chúng ta.
Nhưng Bích Khê không đi vào Thơ Mới ngay từ đầu để chuyển từ chủ nghĩa lãng mạn sang chủ nghĩa tượng trưng, mà khi xuất hiện được với tư cách nhà thơ Mới thực thụ, thì về cơ bản đã là nhà thơ tượng trưng. Bởi vì nói như Quách Tấn: “Bích Khê làm thơ cũ cho đến năm 1937, lúc làm quen với Hàn Mặc Tử” (Đời thơ Bích Khê).
Và đến năm 1938, Bích Khê đã có thể thề với Hàn Mặc Tử: “Trong sáu tháng sẽ trở nên một thi sĩ phi thường, bằng không sẽ không bao giờ làm thơ nữa”. Sự thực diễn ra gần đúng như thế, bởi vì cũng chẳng bao lâu sau Tinh huyết ra đời, được nhà thơ đàn anh ca ngợi trong lời tựa: “Một bông lạ nở hương, một thứ hương quý trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc..., một đóa hoa thần dị”. Như thế là với tư cách nhà thơ Mới, Bích Khê đã bỏ qua chủ nghĩa lãng mạn và đi thẳng lên chủ nghĩa tượng trưng, rồi kết tinh nhanh chóng thành những thi tập để đời. Nét riêng này trong đời thơ Bích Khê cần được giải thích càng cặn kẽ càng rất nên.
Tất nhiên cũng đã từng có sự giải thích rồi. Chẳng hạn Quách Tấn nói: “Ở ngoài thì Khê chịu ảnh hưởng Baudelaire và Valéry là hai thi hào của Pháp, như Hàn Mặc Tử đã nói rõ trong bài tựa. Còn ở trong nước thì Khê chịu hưởng Hàn Mặc Tử (phần lớn) và Chế Lan Viên (phần nhỏ) (Đời thơ Bích Khê). Chế Lan Viên có phần càng cụ thể hơn: “Đây là các quan niệm về thơ tổng hợp của Châu Âu lúc đó. Quả măng cụt của Khê, ta biết đấy là quả lựu của Valéry, Valéry hóa thân, con quạ trên mộ Khê là con quạ của Edgar Poe, của thơ Mallarmé bay đến, da thịt, rồi xác thịt, rồi xác chết trong anh, nguyên là của Baudelaire” (Thơ Bích Khê), v.v... Trong nước, ngoài nước, khái quát đều đầy đủ cả. Nhưng đây đều là ngoại nhân. Song ngoại nhân còn phải thông qua nội nhân mới phát được hết tác dụng. Nội nhân đây phải được nói thẳng vào cái vốn có của Bích Khê. Tất nhiên chỉ nói trọng phạm vi tư duy thơ, thi pháp thơ mà thôi.
Nội nhân theo tôi là cái hồn cốt Đường thi của Bích Khê được hun đúc và triển khai từ lúc thiếu thời cho đến tuổi hai mươi. Tất nhiên duyên nợ của Bích Khê với thơ là điều quá rõ. Nhưng vấn đề là xem nó như một động lực bên trong để Bích Khê bỏ qua chủ nghĩa lãng mạn đi thẳng lên chủ nghĩa tượng trưng với những kết tinh nhanh chóng thì cần phải được chứng giải. Trước hết chúng ta hãy đối sánh Bích Khê với nhà thơ lãng mạn thuần túy, rất ít, nếu không muốn nói là hầu như không có yếu tố tượng trưng, mà cũng rất nổi tiếng tài hoa, nghĩa là rất xứng đáng với một vế trong đối sánh, đó là Huy Thông. Thơ Huy Thông đã tả hoặc kể thì khá tỉ mỉ, biểu hiện thì tuôn trào hết mọi nỗi lòng. Huy Thông đóng góp to lớn cho nền thơ Mới. Cảm hứng thơ rất độc đáo, đa dạng và phát triển theo các dạng đơn lập hoặc liên kết cặp đôi giữa tình yêu tuổi trẻ, lòng yêu nước và niềm ngưỡng mộ người anh hùng chiến bại. Về mặt thể loại ông có thiên hướng “kịch hóa” thơ ca, từ “thơ đối thoại” đến “thơ kịch” (dramatic poetry) rồi đến “kịch thơ” (poetic drama), mở đầu cho nền kịch thơ hiện đại. Hội họa và âm nhạc trong thơ Huy Thông cũng rất phong phú, từ đây chúng ta như nghe được cả nhạc tự nhiên, nhạc nhân tạo, nhạc nhân hóa, và thấy được những bức tranh phong cảnh, tranh chân dung thiếu nữ và thiếu phụ,v.v. Tuy nhiên, chưa vươn lên được chủ nghĩa tượng trưng, cho nên thơ Huy Thông không tránh khỏi nhược điểm rườm rà, thậm chí có chỗ ý đã hết mà lời vẫn còn. Tất nhiên ngay từ năm 1937, lúc mà Bích Khê chấm dứt thơ cũ thì Huy Thông lại rời thi đàn nước nhà, đi du học trời Âu. Nhưng ly hương đâu có gì cản trở, có khi còn rất thuận tiện cho sáng tạo thơ ca. Nguyễn Giang đấy thôi, làm thơ Đường ngay ở vườn hoa Luxembourg. Mà xét vấn đề theo chiều hướng tiến về chủ nghĩa tượng trưng, nếu Huy Thông có thiệt thòi không trực tiếp được hậu thuẫn từ xu thế chung của phong trào trong nước, thì trái lại có điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều là được sống trong bối cảnh ngôn ngữ và văn hóa ở quê hương của Baudelaire, Mallarmé. Đặc biệt, Paris hoa lệ trong những năm 30 thế kỷ trước còn ngân vang bởi giọng thơ của thi sĩ hậu tượng trưng P.Valéry, được suy tôn là “nhà thơ lớn nhất nước Pháp thế kỷ XX”. Và không xa ngoài biên cương còn có những nhà thơ hậu tượng trưng nổi tiếng như T.S. Eliot, W.B. Yeats, E Montale, v.v., ấy thế nhưng Huy Thông hầu như không lay chuyển chút nào. Thực ra, có thể rất ít, vì hoạt động tinh thần đã chuyển về lĩnh vực khoa học, nhưng Huy Thông có tiếp tục làm thơ, mà chúng ta có thể đọc được như bài Chào sứ giả của tự do năm 1946 lúc còn ở Paris, hoặc bài Đón anh em Việt viết lúc đã về nước lâu trong thời chống Mỹ đều có một nội dung và ý nghĩa mới nhưng tư duy thơ không có gì mới. Có thể tạm giả định trước cách mạng, Huy Thông vẫn tiếp tục theo dòng thơ Mới, thì cống hiến của ông cũng chỉ vốn như cái đã từng có, gần như trường hợp của Thế Lữ, chứ không đuổi kịp sự chuyển biến của phong trào. Vì sao vậy?
Xuất thân trong gia đình tư sản, nhưng bố là cụ Chấn Hưng giao việc kinh doanh cho 3 bà vợ, còn bản thân chỉ hoạt động văn hóa và thiên về cựu học, rất say mê thơ nhất là thơ Đường, miệng luôn ngâm nga “Thương nữ bất tri vong quốc hận”. Ông còn mời cụ giáo Quế dạy chữ Hán và thơ Đường cho các con. Trưởng nam Huy Thông đều gương mẫu trong mọi việc, kể cả viết chữ rất đẹp. Duy chỉ có việc làm thơ Đường luật thì lúc nào cũng thua các em. Bài thơ nào làm nghe chừng cũng có cái gì mới lạ, duy chỉ có không theo vần luật gì cả, đến nỗi bố chê trách cậu cả không biết làm thơ. Nhưng Huy Thông lại say mê đọc Lamartine, Huygo và cả Byron. Cho nên không lấy gì làm lạ khi xuất hiện trên thi đàn, thì không thấy chút bóng đáng Đường thi nào, mà tuôn trào ra những hơi thơ lãng mạn, và cũng chỉ thế mà thôi.
Bích Khê của chúng ta thì hoàn toàn ngược lại. Theo bà Lê Ngọc Sương kể lại thì: “Mười hai tuổi, chàng đã làm thơ Đường luật và đã làm cho thân sinh chúng tôi hãnh diện trước các bạn thân hữu: Ai cũng nói một thiên tài đã bắt đầu phát sinh” (Người em: Bích Khê). Và khi đã xuất hiện trên thi đàn, qua báo Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn và nhất là Tiếng dân ở Huế, thì như Quách Tấn đã nói: “Thơ Khê đã già đặn, nhiều bài làm cho các bậc túc nho thán phục... Bích Khê được khá nhiều tri âm” (Đời thơ Bích Khê). Chính Bích Khê cũng nói: “Những bài thơ cũ ấy đã được cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng nhiều người học thức ở Quảng Ngãi khen là giai tác” (Đời thơ Bích Khê). Tạm gác một bên về nội dung của Mấy dòng thơ cũ mà chắc chắn ít nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp do “Chịu ảnh hưởng cụ Huỳnh Thúc Kháng và cụ Phan Bội Châu” (Quách Tấn), thì về hình thức thể loại cũng có thơ lục bát, song thất lục bát, ca trù, nhưng chiếm một tỷ lệ khá lớn là thơ Đường luật mà ngày nay chúng ta còn đọc được như: Lê Thái Tổ, Nguyễn Huệ, Đèo Hải Vân, Đặng Lâm, Về Thu Xà cảm tác v.v... Có thể thấy hoàn toàn khác với Huy Thông, Bích Khê đã hun đúc được hồn cốt Đường thi và triển khai nó trước khi trở thành nhà thơ Mới thực thụ. Như thế qua việc so sánh hai nhà thơ đồng tuế (đều sinh năm 1916), có thể ghi nhận một điều là nếu không có thì rất khó chuyển hóa, nhưng nếu có dồi dào cái vốn Đường thi, thì có thể dễ đàng chuyển hóa thẳng sang chủ nghĩa tượng trưng với những kết tinh nhanh chóng. Nhưng đây mới chỉ là ghi nhận hiện tượng, nghĩa là mới trình bày “cái thế nào” (le comment), còn phải tiến lên giải thích “cái vì sao” (le pourquoi) như vậy?
Có thể trả lời một cách giản dị ngay, là bởi vì tuy thơ Đường và thơ tượng trưng Pháp rất xa nhau về không thời gian, từ đó tất yếu không thể không khác nhau trong sắc thái biểu hiện, nhưng lại khá giống nhau trong cốt lõi. Tất nhiên vốn cũng đã có sự so sánh sơ bộ giữa hai loại thơ này – từ Hoài Thanh đến Phan Cự Đệ... Nhưng tôi muốn từ góc độ thi học liên quan đến triết học, nhưng cũng có kết tinh từ thực tiễn sáng tác thơ để làm sáng tỏ thêm vấn đề. Về mặt nào đó có thể nói, thi học cổ điển Trung Hoa có hai dòng lớn. Một là dòng thi học Nho gia nên về nội dung đạo đức chính trị xã hội của thơ văn. Hai là dòng thi học Đạo gia nhất là khi nó kết hợp với Phật giáo thì bàn thiên về phẩm chất thẩm mỹ kỳ diệu của thơ văn. Dòng thi học này phát triển đến đỉnh cao là Tư Không Đồ và Nghiêm Vũ đời Đường Tống, và còn tiếp tục về sau. Thơ Đường tuy cũng có nhiều dòng phái, nhưng nhìn một cách chung nhất vẫn là chú ý đến nội dung đạo đức chính trị xã hội, nhưng nếu xét riêng về mặt nghệ thuật kỳ diệu, thì chính là nó khơi nguồn từ dòng thi học Phật Lão rất tương đồng với thi học của chủ tượng tướng.
Hai loại thi học tuy cách diễn đạt không thể nào giống nhau nhưng đều thống nhất chủ trương thơ không nên tả, kể dài dòng, mà cốt chỉ gợi ra, ám thị những tình ý và trí tiềm ẩn ở bên trong. Baudelaire nói: “Trải lòng ra với những mộng ảo được ám thị bởi vô số cảnh huống triển khai từ cuộc sống trên trời dưới đất là quyền lợi hợp pháp... chủ yếu của các nhà thơ”. Xuất phát từ triết mỹ Lão Tử “Muốn nhìn cái kỳ diệu, phải hướng về cái thường là không”; “cái hình tượng không có hình tượng” (vô tượng tri lượng), Tư Không Đồ chủ trương nhà thơ phải làm sao gợi được “những hình ảnh ngoài hình ảnh, những cảnh ngoài cảnh”. Cho nên từ đó người ta thường nói “Chất thơ ở ngoài lời” (thi tại ngôn ngoại) là vì vậy. Hai loại thi học còn gặp gỡ nhau ở chủ trương chan hòa giữa chủ thể và đối tượng. Baudelaire nói “Thuần nghệ thuật... vừa bao hàm chủ thể vừa bao hàm khách thể, có nghĩa là thế giới bên ngoài nhà thơ cũng chính là bản thân nhà thơ”. Khơi nguồn sâu xa từ triết lý của Trang Tử: “Trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một”, Vương Xương Linh nói: “Tâm nhập vu cảnh”, Tư Không Đồ cũng nói: “Tứ dữ cảnh hài'' Vv.v.. Thứ ba là hai loại thi học đều cho rằng cái đẹp trong thơ chỉ có thể trực giác cảm nhận phi lý tính. Edgar Poe cho rằng: “Trong sự quan sát đối với cái đẹp, mỗi ngươi chúng ta sẽ phát hiện cái khả năng đạt đến sự thăng hoa của khoái cảm và sự kích động của tâm linh. Chúng ta xem loại thăng hoa và kích động ấy là tình cảm của thơ, và đồng thời rất dễ phân biệt nó với chân lý, vì chân lý chỉ thỏa mãn lý trí”. Tất nhiên cũng có chân lý của thơ nhưng chỉ có thể cảm nhận chứ không thể xác nhận nó bằng lý trí. Trang Tử cũng nói: “Cái giảng giải ra được là cái thơ của sự vật, còn cái tinh của sự vật thì chỉ có thể dùng ý lĩnh hội mà thôi”. Khi Phật giáo truyền vào, càng kết tinh thành loại thi học mang yếu tố phi lý tính. Tư Không Đồ và nhất là Nghiêm Vũ đã “lấy đạo thiền so sánh với thơ”: “Thơ có thú riêng không liên quan đến lý. Đạo thơ ở chỗ diệu ngộ..., chỗ kỳ diệu của nó thấu triệt lung linh không thể nắm bắt được”. Cuối cùng hai loại thi học đều nhấn mạnh âm nhạc siêu thăng trong thơ. Cái câu “Âm nhạc trước mọi thứ” của Verlaine không nên chỉ hiểu là nhạc cụ thể, là phải kết hợp với quan niệm văn học thuần túy, thơ thuần khiết của E.Poe và P. Valery để lý giải. Thơ dù sao vẫn là nghệ thuật ngôn từ, mà ngôn từ thì có ngữ nghĩa, tức là có liên quan đến các sự vật khác, không còn thuần khiết được nữa. Chỉ có nhạc âm, mặc dù có giá trị biểu cảm, nhưng không rõ nghĩa, có phần trừu tượng và mơ hồ, khả dĩ đáp ứng tối đa cho nhu cầu thuần khiết hóa, huyền diệu hóa chủ nghĩa tượng trưng, nhằm “sáng tạo ra cái đẹp thần diệu” (E.Poe). Xuất phát từ quan niệm của Đạo gia như vô thanh thắng hữu thanh”, “Đại âm hy thanh” (cái âm lớn, thanh rất ít) của Lão Tử và “Chí nhạc vô nhạc” (nhạc đến cùng là không có nhạc gì cả) của Trang Tử, Tư Không Đồ đã nêu ra quan niệm “thần vận” (vần điệu thần diệu), chủ trương âm nhạc trong thơ phải có “cái đẹp ngoài vần điệu”. Nghiêm Vũ cũng cho rằng nhạc điệu kỳ diệu trong thơ Đường như “thanh âm giữa trời” không thể nắm bắt được. Cho nên từ đây người ta nói “huyền ngoại chi âm” (âm nhạc ngoài dây tơ) là vì vậy Tóm lại từ góc độ thi học so sánh (Comparative poetics) có thể thấy rõ thêm sự tương đồng giữa thơ Đường và thơ tượng trưng Pháp ở chỗ chỉ ám thị, gợi ra, chủ thể hòa lẫn trong đối tượng, vai trò của trực giác phi lý tính, và của âm nhạc siêu thăng. Huy Thông không có cái vốn tương đồng này cho nên tuy không tất yếu, nhưng khó mà vươn lên chủ nghĩa tượng trưng. Trái lại ngay từ đầu những năm 30 Bích Khê đã có nhiều thể thể nghiệm mang tính chất tương đồng này, cho nên khi đọc Baudelaire đến Hàn Mặc Tử, mặc dù thích thú vì cảm thấy tân kỳ, nhưng ngẫm cho cùng thì “lạ mà quen”! Cái tương đồng vốn có trong bản thân được kích phát, bừng dậy nhanh chóng với nhiều màu sắc mới rồi đi đến những kết tinh là vì thế.
Và như là hệ quả dây chuyền, khi đã ngồi cùng chiếu với Hàn, Chế, Bích Khê vẫn vương vấn khá đậm đà mà tự nhiên với thơ Đường như không có gì gián cách. Điều này hiển nhiên là sẽ cảm nhận được nhiều hơn là xác nhận. Tuy vậy sự trình bày ở đây vẫn phải theo thao tác xác nhận, nghĩa là phải dựa vào thực chứng. Vả chăng thực chứng ở đây không ít chút nào, từ nhà thơ, bài thơ, hình ảnh thơ và đặc biệt là thể thơ. Bích Khê nhắc đến Thôi Hiệu (Ngũ Hành Sơn, hậu) Vương Duy (Thơ bay) và đặc biệt là Lý Bạch (Mộng Xuân Hương, Mộng, Ngũ Hành Sơn, hậu). Bích Khê còn mượn ý hoặc cả tứ thơ trong các bài Thiên Thai (Hai tiên nữ nhớ Lưu Nguyễn), Đặng U Châu đài ca (Ngũ Hành Sơn, hậu) v.v... Rồi hình ảnh lá ngô vàng trong Tỳ bà, Đề bia trước mộ, và chỉ trong một bài như Băng tuyết mà có cả núi Thiên Thai, dòng Tiêu Tương, mây Hoàng hạc, Động Đình hồ thu v.v... Đặc biệt về thể thơ Đường luật thì chiếm tỷ lệ khá lớn, hơn nữa là quá lớn trong Tinh huyết và Tinh hoa với nhiều thơ ngũ ngôn và thất ngôn, tứ tuyệt và bát cú, thật không kể xiết. Thể thơ Đường luật không chỉ là hình thức, mà chan chứa cái hồn cốt Đường thi trong Tinh hoa và Tinh huyết, càng chứng tỏ sự hài hòa giữa thơ Đường và thơ tượng trưng Pháp trong thơ Mới 1932 - 45. Tất nhiên sự hài hòa này dày mỏng khác nhau ở các nhà thơ. Nhưng phải chăng sự hài hòa này đạt đến đỉnh điểm trong thơ Bích Khê?
Nguồn:
Tham luận tại Hội thảo về Bích Khê, nhân 90 năm sinh và 60 năm mất.
Quảng Ngãi, 20-21/2/2006
ẢNH HƯỞNG CỦA BAUDELAIRE
TRONG THƠ BÍCH KHÊ
Nguyễn Thị Đỗ Quyên
Bích Khê là một trong những gương mặt đặc biệt của phong trào Thơ Mới. Năm 1939, trong bài tựa tập “Tinh huyết” của Bích Khê, Hàn Mặc Tử đã trân trọng gọi: “Một bông hoa lạ nở hương, một thứ hương quý trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc. Ta có thể sánh thơ Bích Khê như đóa hoa thần dị ấy”(1). Năm 1941, trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã giới thiệu về thơ Bích Khê như sau: “Tôi đã đọc trong “Tinh huyết” những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam”... và thơ Bích Khê, đọc đôi ba lần cũng như chưa đọc(2) . Năm 1988, nhà thơ Chế Lan Viên viết: “Nếu Nguyễn Bính là một đồng bằng thân thuộc thì Khê là một đỉnh núi lạ. Có những nhà thơ đem đến một mùa lương thực, lại có nhà thơ cầm một dúm hạt giống mới trên tay, Khê thuộc vào loại thứ hai”(3) . Năm 1997, nhà giáo Lê Đình Kỵ cho rằng: “Bích Khê xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như một nhà cách tân đi xa hơn cả so với đương thời”(4). Còn nhà nghiên cứu văn học Hoàng Thiệu Khang thì nhận thấy: “Bích Khê đã thực thi một đoạn tuyệt cao hơn thời đại mình với thơ cũ và mọi thách đố đáng sợ hơn với thơ đương đại”(5).
Vậy yếu tố nào đã tạo nên sự “thần dị”, “đỉnh núi lạ”, “nhà cách tân hơn cả so với đương thời ấy? Thật không dễ dàng kiến giải thấu đáo vấn đề ấy. Trong bài viết này, tôi chỉ xin đi vào một khía cạnh nhỏ: ảnh hưởng của Baudelaire - người thầy của chủ nghĩa tượng trưng, ông tổ của nền thơ ca hiện đại Pháp, người có vị trí văn học bạt chúng siêu quần, có chỗ ngồi rộng nhất và cao nhất trong lịch sử thi ca và văn học thế giới(6) - trong thơ Bích Khê.
1. Ảnh hưởng của Baudelaire về quan niệm thẩm mỹ:
Charles Baudelaire quan niệm rằng: cái đẹp không phải tồn tại trong một thế giới riêng mà nằm ngay trong những điều bình thường của cuộc sống. Tập thơ duy nhất của ông: “Những bông hoa Ác” mà ngay chính tựa đề của nó cũng đã thể hiện rõ quan niệm thẩm mỹ này. Chính vì vậy đọc thơ ông, ta bắt gặp biết bao cái đối nghịch, cái nghịch lý nghĩa là tất cả đều chứa đựng hai yếu tố: Cái cao cả, lý tưởng và cái bẩn thỉu chán chường: ngay bên cạnh những “lâu đài mênh mông vĩ đại” những “xưởng thợ ca hát nói chuyện rì rào”, những ống khói, gác chuông, cột buồm vươn lên trời cao hoặc tắm trong ánh trăng huyền ảo là khu ngoại thành với những căn lều rách nát, với những đêm trụy lạc; thành phố Paris đông nghẹt người, đầy mộng mơ là thế nhưng lại có “bóng ma ban ngày níu chân người qua lại”, có sương mù vàng bẩn, có những lão già ghê rợn và những bà già còm cõi trước đây vốn là những thiếu nữ xuân sắc tràn trề…Và ngay trong cái xác chết “thối hoang” của ông vẫn “đang sống và đang nẩy nở sinh sôi”, toát lên một vẻ đẹp “rực rỡ” như “một bông hoa vừa nở sớm mai”, trong tiếng chuông rè kia lại vang lên những “âm thanh kính cẩn”, ngay cả ở quỷ Sa tăng vẫn có thể là “vị thiên thần hơn tất cả những thiên thần đẹp giỏi”, là “ông hoàng của đầy ải”, là “chúa tể của cả lòng đất”... Có thể nói bài thơ “Bài ca sắc đẹp” của Baudelaire là bài thơ thể hiện rất rõ quan niệm thẩm mỹ mới lạ này của ông:
Nàng từ trên trời bay xuống hay từ vực thẳm hiện lên
Ôi! Sắc đẹp! Đôi mắt nàng quỷ quái và thần tiên
Rót thiện ác vào lòng người lẫn lộn
Nên người ta ví nàng như rượu người ta uống...
Bích Khê cũng có một bài thơ nhan đề là “Sắc đẹp”:
Những mặt tươi,, nhan sắc đẹp như trăng
Và sắc lẻm như thanh gươm vấy máu,
Những đôi mắt, kho tàng muôn châu báu,
Có những hàng đũa ngọc gắp hương yêu,
…
Ôi rất thanh! Rất thanh là rất thanh!
Ngát thinh khí vì thơm tho như xạ
Và rùng rợn như một điềm quái lạ.
Và trong bài “Duy tân”, Bích Khê lại viết:
Mộng?
Thiên tài?
- Trên hỗn độn khỏa thân
Một hỗn độn đẹp xô bồ say dậy.
(Duy tân)
Qua những bài thơ trên, dễ dàng nhận ra rằng: Quan niệm thẩm mỹ của Baudelaire cũng là quan niệm thẩm mỹ của Bích Khê. Cũng như Baudelaire, Bích Khê quan niệm cái đẹp hiện diện ngay trong những cái hỗn độn xô bồ của cuộc sống. Và đây chính là nguyên lý chi phối hướng cách tân trong thơ Bích Khê. Cũng như trong thơ Baudelaire, thơ Bích Khê cũng có rất nhiều những hình ảnh kỳ dị. Đó là sọ người, xác chết, máu cuồng, hồn điên,. tinh huyết... Nhưng những cái mà người đời vốn coi là xấu xa đáng ghê tởm ấy hiện lên trong thơ Bích Khê lại gợi những vẻ đẹp bất ngờ: Cái sọ người kia chính là “bình vàng”, “chén ngọc”, “hồ nguyệt đọng trăng lấp loáng”, “gương phép tắc”... Còn máu cuồng hồn say kia là trạng thái thăng hoa của tâm hồn. Và cả “Bức tranh lõa thể” kia nữa, không hề trần truồng dâm đãng mà lại gợi lên ý vị nên thơ của hương, hoa, nhạc... Bao trùm lên tất cả là một khát vọng kiếm tìm cái đẹp, cái mới đúng như nhà thơ Hàn Mặc Tử đã nhận xét: “Cái gì rung cảm hồn phách chàng đến tê liệt, dại khờ, dù cái đẹp ấy là cao cả, hay đê tiện, tinh khiết hay nhơ bẩn, miễn là có tính chất gây đê mê, khoái lạc”(1).
2. Ảnh hưởng của Baudelaire về thuyết tương giao Thuyết tương giao là nguyên tắc mỹ học chủ đạo của Baudelaire, và cũng chính là nguyên tắc mỹ học của thơ tượng trưng Baudelaire quan niệm vũ trụ là một thể thống nhất trong đó tất cả đều tương ứng với nhau. Sự tương ứng đó diễn ra ở nhiều mặt: Đó là sự tương ứng, giữa ý niệm hư thực, giữa cảm giác ánh sáng và bóng tối, ,không gian ngang dọc, giữa tự nhiên, siêu nhiên và con người. Đặc biệt, ông nhấn mạnh sự tương ứng giữa các giác quan:
Mùi hương, màu sắc âm thanh tương giao với nhau
Có những mùi hương mát như da thịt trẻ con
Ngọt ngào như trứng sáo xanh mát như đồng cỏ...
Cảm quan tương ứng của Baudelaire trên nhiều bình diện ấy đã được các nhà thơ Mới tiếp nhận theo những hướng khác nhau.
Cũng như các nhà thơ Mới khác như Xuân Diệu, Huy Cận… Bích Khê đã sử đụng sự tương giao, tương ứng, các giác quan như một phương thức phổ biến để bộc lộ nội dung trữ tình. Ví dụ như ở trong bài “Mộng cầm ca”, Bích Khê đã viết:
Đây bát ngát và thơm như sữa lúa;
Nhựa đương lên sức mạnh của lòng thương:
Mùi tô hợp quyện trong tơ trăng lụa
Đây dạ lan hương, đây đỉnh trầm hương,
Đây bát ngát và thơm như sữa lúa;
Hồn xạ hương phơ phất ở trong sương..
Hiện lên theo những vần thơ trên là một không gian với hình ảnh trăng lụa, hồn xạ hương vừa hư vừa thực, với bao hương vị thanh tao, quyến rũ của cuộc đời: sữa lúa, mùi dạ lan hương.... với những chuyển biến huyền diệu: nhựa đang lên, mùi tô hợp quyện... Nhưng đó không phải là hiện thực nhà thơ muốn phản ánh mà đó là tất cả những gì gợi lên từ tiếng đàn được cảm nhận bằng sự giao thoa của các giác quan. Và với sự giao thoa kỳ diệu giữa những giác quan đó, người đọc thấy vang lên tự trong lòng mình không phải là những giai điệu gợi sự giá buốt tê lạnh của đêm, của nhạc, của nước, của trăng như trong bài “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu mà là những thanh âm cứ ngân nga, ngân nga trong lòng mình một làn điệu rất nương, rất nhẹ, có sức quyến rũ mê hồn, cứ như tất cả những tinh túy của đất trời được kết tinh ở đó Hoặc trong bài thơ “Hiện hình”, nụ cười của thiếu nữ đã được nhà thơ miêu tả:
Nường hé môi ra cho Bay điệu nhạc
Mát như xuân mà ngọt tợ hương:
Ôi sao là khúc Ba sinh lụy
Rào rạt như đầy nỗi cảm thương
Nếu như nự cười “như mùa thu tỏa nắng”, “cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh” của cô gái quan họ Bắc Ninh trong thơ Hoàng Cầm gợi lên sự ấm áp, tươi sáng đến choáng ngợp thì nụ cười của thiếu nữ trong thơ Bích Khê là sự kết tinh của những hương vị, sắc màu, giai điệu tuyệt vời nhất của cõi đời này. Một nụ cười mở ra cả một thế giới huyền diệu.
Nhờ sử dụng sự tương ứng giữa các giác quan mà biên giới thơ Bích Khê mở rộng đến không ngờ, cho phép nhà thơ đi mãi vào cõi vô hình để đem về những âm thanh sắc màu diễm ảo của một thế giới khác hẳn thế giới trần tục ta đang sống. Trong thế giới đó, nụ cười đêm tân hôn nhuộm sắc trắng thủy tinh (chết giả nhưng cười trắng thủy tinh) trở thành một ám ảnh khôn nguôi trong lòng người. Những giấc mơ của Bích Khê cũng được nhuộm một màu trắng “phau phau”:
Mộng trắng phau phau, vót cung nga:
Xuân Hương! Người ngọc, máu say ngà!
(Mộng)
Hoặc một màu trắng như ngà:
Mộng sao mộng lạ - trắng như ngà
Giai nhân hiện dưới bóng hằng nga...
(Mộng lạ)
Và đôi môi của giai nhân có khi là “hương thơm nức”, cũng có khi là “gươm sắc lẹm”:
Những cặp môi cười gươm sắc lẹm
Chóa lên không khí dột hương vang
Khoái lạc ửng hồng như quả gấc.
(Bàn chân)
Đặc biệt thế giới thơ Bích Khê là thế giới tràn ngập những mùi hương. Hương hòa nhập với tất cả, đồng hóa với tất cả sự vật: Trăng là ngọc, là hương mà nàng cũng là hương:
Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc;
Như nắng thơ hớp đặc cả nguồn hương,
(Nàng bước tới)
Lời nói cũng là hương:
Lời nức ra hơi hương
Dìu dịu tỏa trong buồng -
(Hàn Mặc Tử)
Âm nhạc cũng được ướp hương:
Ta những muốn mùa đông nhường lại chỗ
- Nhạc gầy hương, hương gầy nhạc, lan man...
(Đồ mi hoa)
Đến cả châu thân nhà thơ cũng quyện với hương là một:
Chàng ơi, đêm nín thờ
Để hồn biến ra hương
(Ngũ Hành Sơn (tiền))
Mùi hương ấy còn được vật chất hóa, cụ thể hóa, có thể đong đếm được:
Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nằng nặng.
Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ.
(Mộng cầm ca)
Mùi hương ấy có thể phát ra cả âm thanh nữa:
Phăng mạch đêm - hương vỡ, ứa ngầm tinh!
(Mộng cầm ca)
Hương đó có thể là hương trần thế:
Ô nàng tiên nương! hớp nhạc đầy hương.
(Nhạc)
Nhưng cũng có thể là mùi cái chết đang đến gần:
Những tờ thơ nát đầy hơi hám
Tay khách đa tình đã chuyển trao
(Nấm mộ)
Như vậy, thơ Bích Khê đã ướp đầy một mùi hương kỳ dị, mùi hương trong thơ Bích Khê như là một hệ ngôn ngữ riêng, dùng để “làm mới” mọi sự vật trong vũ trụ này.
Phải chăng ta đã quá quen với một không gian bát ngát đến rợn ngợp trong thơ Huy Cận, một không gian tràn trề hương sắc trong thơ Xuân Diệu, một không gian lưu giữ vẻ đẹp “chân quê” trong thơ Nguyễn Bính... nên quá lạ lẫm với không gian “kỳ dị” trong thơ Bích Khê? Để giải mã cái thế giới nghệ thuật được kết bằng sự giao thoa lạ lùng giữa các giác quan ấy là điều không dễ, bởi từ “bùn đất của từng con chữ”, Bích Khê đã tạo nên những ẩn dụ “mới độc đáo, lạ lẫm”, những ẩn dụ gây ra sự “bùng nổ một dây chuyền ngữ nghĩa”, chạm đến sự phi lý; những ẩn dụ khiến nhà thơ đã “tự giải phóng mình khỏi... các chuẩn logic của sự phát triển ngôn từ”. Và theo nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy, đây là một trong những biểu hiện chứng tỏ Bích Khê đã “vượt qua địa hạt lãng mạn sang lãnh địa tượng trưng”(7).
3. Ảnh hưởng của Baudelaire về tính biểu trưng
Trong tập “Những bông hoa Ác” của Baudelaire, lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca Pháp đã xuất hiện một quan niệm thật mới lạ về thơ qua cái nhìn vũ trụ và cuộc đời như thế này:
Con người đitrong thiên nhiên qua những rừng biểu tượng
Chúng quan sát con người với những cái nhìn thân quen
Nếu nguyên tắc của thơ lãng mạn là miêu tả trực tiếp sự vật và bộc lộ trực tiếp mọi nỗi niềm đem lại một thế giới nội tâm tràn đầy xúc cảm, suy tưởng mang bản sắc cá tính thì Baudelaire và các nhà thơ tượng trưng lại chủ trương phản ánh thế giới bằng biểu tượng, xây dựng những tượng trưng của một thế giới đầy bí ẩn, với ý nghĩa của hai từ “tượng trưng” nghĩa là “cái vật nào đó có một ý nghĩa rộng lớn hơn chính nó”(8), là từng bước một gợi ra một vật thể, và như thế là phơi bày một tình cảm, hay nói ngược lại. Đó là nghệ thuật lựa chọn một vật thể để từ đó rút ra một tình cảm. Quá trình này không được làm lộ liễu mà phải thông qua ám thị”(9). Như vậy, Baudelaire chủ trương dùng biểu tượng như một cấu tạo hình tượng đặc biệt để chống lại lối miêu tả trực tiếp và biểu lộ tình cảm trực tiếp của thơ lãng mạn. Nói cách khác, Baudelaire và các nhà thơ tượng trưng tôn trọng điều bí ẩn của thơ nên tránh dùng những từ miêu tả mà chỉ gợi lên ý nghĩa, ngôn ngữ của lãng mạn là biểu cảm, ngôn ngữ của thơ tượng trưng là biểu ý. Biểu tượng ở đây được dùng như một phương tiện biểu hiện đắc lực của thơ ca. Bài thơ “Chim hải âu” của Baudelaire là bài thơ tiêu biểu cho tính biểu trưng này. Biểu tượng chim hải âu “cánh mênh mông”, kiêu hãnh trên sóng cả nhưng khi rơi xuồng sàn tàu trở thành trò chơi thảm hại cho những gã thủy thủ chính là hiện thân của nhà thơ giữa sóng gió phũ phàng của cuộc đời.
Cũng như Baudelaire, Bích Khê đã chọn biểu tượng làm phương tiện biểu hiện đắc lực trong thơ mình. Theo Đỗ Lai Thúy, những biểu tượng trong thơ Bích Khê là một “phức thể các ấn tượng, những cảm giác hồi tưởng, chiêm bao, huyễn tưởng, tiềm thức và vô thức trùm lên không gian và thời gian có chức năng gợi nghĩa chứ không phải để miêu tả”(10).
Sọ người, Đồ mi hoa, Tỳ bà, Ngũ Hành Sơn là những biểu tượng nổi bật trong thơ Bích Khê.
Sọ người vốn là biểu tượng xuất hiện rất nhiều lần trong thơ Chế Lan Viên.
Này chiếc sọ người kia mi hỡi
Dưới lần xương mỏng mảnh của dấu mi
Mi nhớ gì, tưởng gì trong đêm tối
Mi trông mong ao ước điều chi
(Cái sọ người)
Đem mau đây chiếc sọ người ứ huyết
Chiếc xương khô rợn trắng khí tinh anh
(Điệu nhạc điên cuồng)
Và xương khô, và sọ dừa và thịt nát
Và hơi âm rờn rợn của yêu tinh
(Mồ không)
Người Chàm và các dân tộc khác ở phương Đông đều cho rằng đầu là nơi trú ngụ của linh hồn cả khi sống lẫn khi chết. Chế Lan Viên đã biến biểu tượng của tôn giáo ấy thành biểu tượng của nghệ thuật. Nhưng biểu tượng “Sọ người” trong thơ Chế Lan Viên là biểu tượng thiên về miêu tả, biểu cảm gợi lên sự điêu linh của dân tộc Chàm. Còn thơ Bích Khê không hề miêu tả chiếc đầu lâu:
Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng!
Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương!
Ôi bình vàng! Ôi chén ngọc đầy hương!
Ôi hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng
…
Ôi! Sọ người! Sọ người- Gương phép tắc
Ngọc Kiều ơi! Ghé lại mgắm dung nhan ....
(Sọ người)
Như vậy, cái sọ người trong thơ Bích Khê là hội tụ những vẻ đẹp trần thế, đó là vẻ đẹp của buồng xuân, bình vàng, chén ngọc hồ nguyệt, ,à tiền thân của thiếu nữ với “Miệng yêu kiều mơn ánh sáng say no/ Nguồn trinh tiết gây hồng tươi xanh thắm/ Bầu sữa người êm mát vạn sầu lo” Cái sọ người còn gợi lên cả một không gian tuyệt vời “đêm vàng”, “xanh mịt ngàn phi lau”, “biển ngọc bích”, “hoa thần bí”, “động đào nguyên”... Rồi sọ người còn là gương phép tắc, là luật thiên nhiên, là dung nhan trong tương lai của Ngọc Kiều, là nơi ẩn chứa bao đau khổ tuyệt vọng... Làm sao có thể liệt kê được đầy đủ mọi liên tưởng được gợi lên từ bài thơ “Sọ người” của Bích Khê, bởi mỗi người có một sự tiếp nhận khác nhau, bởi biểu tượng này mang tính trùng phức. Chỉ biết rằng bài thơ đã đưa tư duy ta trượt khỏi những rãnh thông thường, đi theo một hướng mới, đọc rồi, suy nghĩ mãi mà vẫn thấy mỗi ngôn từ trong bài thơ còn ẩn chứa điều bí ẩn mời gọi những cuộc “thám hiểm” kỳ thú vào thế giới ngôn từ...
Biểu tượng “Đồ mi hoa” trong thơ Bích Khê cũng được đặt trong sự chuyển hóa biến ảo khôn lường như vậy, lúc thì gợi lên sự thanh khiết của thơ ca.
Đây một đóa đồ mi, ta đón lấy
Ấp hồn hoa... đem đặt giữa bài thơ
Thoắt cái đã trở thành biểu tượng của giai nhân tuyệt vời nhan sắc:
Tràng cánh trắng biến ra da thịt tuyết
Một tiên nương mừa tựa một giai nhân
Rồi cũng ngay lập tức trở thành “Anh hoa hồn vũ trụ”, thành họa, nhạc, thơ....
Như vậy, những biểu tượng trong thơ Bích Khê đều là những “mã hóa” mà chìa khóa giải mã nhà thơ đã cố tình mang theo về bên kia thế giới.
Với những biểu tượng trên, Bích Khê thực sự đã làm công việc lập lại ngôn từ trần gian, nghĩa là gạt bỏ đi ở ngôn từ những nghĩa quá quen thuộc đã trở nên nhàm chán, sáo rỗng, cấp cho chúng những tầng nghĩa mới mà không hề dựa trên những logic thông thường, giúp ta cùng khám phá bí ẩn của vũ trụ, và quan trọng hơn cả, là những bí ẩn của thế giới bên trong của con người.
Trong bài thơ có tựa đề là “Ăn mày” Bích Khê đã không hề dấu ta thái độ tôn sùng Baudelaire của mình:
Baudelaire, người là Vua Thi sĩ
Cho xin trụm bao nhiêu mùi thi vị,
Phà hơi lên, truyền nhiễm thấu trần ai.
Như vậy, việc Bích Khê chịu ảnh hưởng của quan niệm thẩm mỹ, thuyết tương giao và tính biểu trưng của thơ Baudelaire là sự tiếp nhận có chủ ý do sự tác động trực tiếp giữa hai nền văn học Pháp Việt.
Chính Hàn Mặc Tử, nhà thơ cùng thời, bạn tâm giao của Bích Khê cũng đã từng nhận xét: “Bích Khê nhuộm đầy máu huyết của Baudelaire''(l1). Và Chế Lan Viên đã khẳng định rằng: “Quả măng cụt của Khê, ta biết đây là quả lựu của Valery, con quạ trên mồ Bích Khê là con quạ của Edgar Poe, của thơ Mallarmé bay đến, da thịt rồi xác thịt. Xác chết trong anh nguyên là của Baudelaire''(12). Cho đến bây giờ, việc xếp Bích Khê vào hàng ngũ những nhà thơ lãng mạn hay tượng trưng vẫn chưa phải đã thống nhất. GS Trần Đình Sử thì cho rằng: Tuy Bích Khê có công khai chủ trương thơ thuần túy và thơ tượng trưng nhưng “hồn thơ Bích Khê vẫn căn bản là hồn thơ lãng mạn”(l3). Còn Đỗ Lai Thuý thì cho rằng: Bích Khê “đã vượt địa hạt lãng mạn sang lãnh địa tượng trưng, và trở thành một “chủ soái” của trường thơ này”(14). Nhưng có một thực tế không thể phủ nhận, bên cạnh sự ảnh hưởng của thơ cổ điển, thơ lãng mạn, Bích Khê chịu ảnh hường rất đậm nét của Baudelaire. Chính những ảnh hưởng ấy đã tạo nên sự cách tân trong thơ Bích Khê, thỏa mãn khát khao cháy bỏng của thi nhân:
Đường kiến trúc nhịp nhàng thơ điệu mới
Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong
(Duy tân)
Có thể trong quá trình tiếp biến, Bích Khê đã vương phải những hạn chế, nhưng chúng ta cần trân trọng ghi nhận tấm lòng và tài năng của nhà thơ tài hoa nhưng mệnh bạc này.
Nguồn:
Tham luận tại Hội thảo về Bích Khê, nhân 90 năm sinh và 60 năm mất.
Quảng Ngãi, 20-21/2/2006
In trong cuốn Bích Khê, Tinh hoa Tinh huyết, Nxb. Hội nhà văn, 2008.
Chú thích
(1), (3), (4), (5)Nhiều tác giả -70 năm đọc thơ Bích Khê - NXB Thanh niên, 2003- tr 5.
(2) Hoài Thanh, Hoài Chân - Thi nhân Việt Nam - NXB Văn học, 2000- tr 228.
(6) Đông Hoài – Thơ Pháp nửa sau thế kỷ XIX đầu XX – NXB Văn học, 1992.
(7), (12) Nhiều tác giả - 70 năm đọc thơ Bích Khê - Sđđ – tr101.
(8), (11), (15) Đỗ Lai Thúy - Con mắt thơ - NXB Giáo dục, 1997 - tr 198, 199, 200.
(9), (10) Xem Trần Đình Sử - Những thế giới nghệ thuật thơ - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001-tr 61.
(13), (14) Trần Đình Sử - Những thế giới nghệ thuật thơ - sđđ - tr 78.
Tham luận tại Hội thảo về Bích Khê, nhân 90 năm sinh và 60 năm mất.
Quảng Ngãi, 20-21/2/2006
In trong cuốn “Bích Khê, tinh hoa tinh huyết”, Nxb. Hội nhà Văn, 2008.
BÍCH KHÊ VỚI CA TRÙ
Nguyễn Thụy Kha
Khác với nhiều nhà thơ miền Trung và miền Nam thời tiền chiến, Bích Khê chẳng những đã có thời gian học ở Hà Nội mà còn có cả thời gian đi nghe hát ca trù (còn gọi là hát ả đào hay hát cô đầu) đến mức ngấm vào mình thể loại hát truyền thống này, để có thể viết ra những bài ca cho thể loại này. Trong tập “Thơ Bích Khê” do Sở Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình ấn hành, có in hai bài ca trù do Bích Khê sáng tác là “Nghe chuông” và “Bán thơ”. Cả hai bài, Bích Khê đều viết ở thể hai đoạn. Đoạn đầu là Mưỡu. Còn đoạn sau là Hát nói.
Trong hát Ca Trù, Mưỡu còn gọi là Miễu hoặc Hát Miễu là từ đọc chệch ra từ chữ Mũ hoặc Mão giống như một bài báo có phần giới thiệu riêng gọi là phần mũ (chapeau). Mưỡu thường gồm hai câu lục bát gọi là Mưỡu đôi có khi là 4 câu lục bát. Người hát ca trù thường chọn các đoạn thơ trong truyện “Kiều” để làm Mưỡu. Mưỡu trong hai bài ca trù của Bích Khê đều có 4 câu lục bát và do ông tự sáng tác. Bài “Nghe chuông” có đoạn Mưỡu là:
Đêm khuya giấc điệp mơ màng
Nghe chuông chợt tỉnh một tràng mộng xuân
Trớ trêu cho khách phong trần
Nghe chuông đối cảnh tinh thần ngẩn ngơ
Cảm thán về phận mình, vận nước thật tha thiết.
Ở bài “Bán thơ”, đoạn Mưỡu là:
Hôm nay tớ đã bán sầu
Món hàng khá đắt, khách cầu khách mua
Còn môn THI vẫn của chua
Khách nào có thích, tớ cũng bán đùa làng quen
Đoạn này khôi hài, tự trào, diễu cợt và mang chất xẩm chợ rất Bắc Bộ, thật khác lạ với suy nghĩ của một nhà thơ xuất thân ở miền Quảng Ngãi “Núi Ấn sông Trà”.
Sau đoạn Mưỡu trang nhã, Bích Khê bước vào phần Hát nói cũng tỏ ra rất sành điệu. Ở hát Ca Trù, Hát nói nghĩa là hát những lời nói xếp thành vần để mà hát lên. Câu hát thì từ bốn chữ đến bảy chữ hoặc chín chữ là vừa. Bài hát thì mười câu là đủ. Nhưng có khi một câu dùng đến hai, ba mươi chữ, dôi phách Nam hoặc dơi cả phách Bắc, khúc khuỷu lạ lùng gọi là gối hạc. Cũng có bài dùng tới 19 câu hoặc ngoài 20 câu, dôi khổ xuyên, dôi cả khổ thơ lâm ly réo rắt, tục gọi là dôi khổ. Nhưng trong khi hát lên, vào phách ra phách đều có phách nhất định, không khác gì nhau. Cách ấy là cách thông thường nhất trong các nhạc phủ, biến hóa vô cùng, mà hay hớm cũng vô tận, người hát không biết mệt và người nghe không biết chán. Ở Hát nói, câu thứ 9 gọi là lặp nhịp. Ngoài câu thứ 11 lại thêm 2 câu gọi là Nói hoãn điệu của nó cứ như mây bay, nước chảy. Có cả lời cổ và lời kim. Từ câu thứ 11 trở đi là một khuôn, có thể là 13 câu hoặc 15 câu cũng đều thế cả. Trong hai bài Ca Trù của Bích Khê thì phần Hát nói ở bài “Nghe chuông” là 15 câu, còn ở bài “Bán thơ” là 16 câu. Câu thứ 9 ở hai bài - câu lặp nhịp đều găm vào ta một nỗi niềm xa xót. Ở “Nghe chuông” là: “Riêng tớ những chứa chan bầu thống khổ” còn ở “Bán thơ” là câu tự trào rất đời: “Rõ bát xáo cởi quần mò không thấy cái”. Các câu nói hoãn cũng rất khác thường. Ở “Nghe chuông” là: “Nghe tiếng dội rồi trở quanh về non nước - Đêm dài dặc ấy ai người tỉnh trước...” còn ở “Bán thơ” là: “Khách làng thơ ai cần đến để chơi, Tớ xin bán, không lời cả vốn”.
Trong khuôn khổ 11 câu thì câu 1, 2 là Tổng mạo, câu 3, 4 là Thừa đề, câu 5, 6 dùng thể thất ngôn hay ngũ ngôn chữ hay là nôm là hai câu cốt tử đứng giữa, như treo ở giữa khúc cái đại ý của toàn khúc. Từ câu 7 đến câu 10 là nói diễn giải rõ ràng 6 câu ở trên. Còn câu thứ 11 là tổng kết cái ý nghĩa bài. Để mang chứa được nội dung và tâm sự của mình, Bích Khê đã sử đụng tối đa (15 câu và 16 câu) trong phần Hát nói của hai bài Ca trù “Nghe chuông” và “Bán thơ”, cho thấy tác giả rất hiểu nghệ thuật hát ca trù. Hai bài “Nghe chuông” và “Bán thơ” đã được đào nương số một Hà Nội bây giờ là Thanh Hòa trình diễn thật cuốn hút và hiệu quả trong các chương trình hàng tuần của Câu Lạc bộ Sắc Việt tại 75 Hàng Bồ, Hà Nội.
Bích Khê còn tỏ lòng sâu nặng với Ca Trù khi ông viết ra bài “Tỳ bà” một điệu hát Ca Trù giống như Tản Đà và Thế Lữ viết về điệu Thiên Thai trong “Tống biệt” và “Tiếng sáo Thiên Thai”. Còn Văn Cao thì từ cảm hứng nghe Khúc Thiên Thai của Ca Trù mà làm ra bản ballade “Thiên Thai” hoành tráng. Cái riêng của Bích Khê trong “Tỳ bà” là có lẽ vì do quá yêu điệu hát này nên ông đã bắt ra được cái âm của điệu hát đó mà từng tưng nó lên trong một bài thơ chỉ toàn thanh huyền trong đó có câu:“Ôi! hay buồn vương cây ngô đồng / Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông” mà Hoài Thanh - Hoài Chân cho rằng đó là những câu thơ hay bậc nhất của thơ Việt Nam.
Điệu Tỳ Bà của Ca Trù bắt nguồn từ bài thơ Tỳ bà hành nổi tiếng của Bạch Cư Dị. Bài thơ được làm khi tác giả bị triều đình phát vãng về tỉnh Giang Châu làm chức tư mã. Bài thơ thuật lại câu chuyện cảm động như sau: Giữa cảnh thu buồn man mác, giữa cảnh biệt ly xé lòng, tiếng Tỳ bà văng vẳng bên sông khiến khách không thể đi. Hóa ra cuộc đời của kỹ nữ gảy Tỳ bà cũng bất hạnh như tác giả. Và “Tỳ bà hành” ra đời. Cảm hứng “Tỳ bà hành” cụ Phan Huy Vịnh thời Nguyễn đã dịch ra thơ Nôm thể song thất lục bát. Nó đã trở thành độc điệu trong Ca Trù với lối phổ thơ hết sức riêng biệt. Những bài ca trù được hát theo điệu này gọi là hát theo điệu Tỳ bà. Ở Tỳ bà bao gồm cả 5 cung bậc Nam, Bắc, Huỳnh, Pha, Nao lúc khoan, lúc nhặt, lúc dồn nhanh, biến hóa tinh tế, đẩy tới cao trào rồi hóa giải bằng ngậm ngùi tĩnh lặng. Bích Khê đã bắt được cái hồn của “Tỳ Bà” nên dường như ông cũng đi qua các cung bậc để mà vừa diễn tả rung động của mình với nàng kỹ nữ trong mộng đêm thu cùng tiếng Tỳ bà réo rắt lòng người khiến cho ta nếu được yêu cầu chọn một bài thơ Việt Nam thế kỷ 20 thì ta cũng có thể không ngần ngại mà chọn “Tỳ Bà” của Bích Khê với tràn trề âm hưởng Ca Trù thật độc đáo và tầm vóc “Tỳ Bà” đã được Phạm Duy phổ nhạc rất hay.
Nguồn:
- Tham luận tại Hội thảo “Bích Khê và thơ Bích Khê” nhân 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 20-22/2/2006
- In trong cuốn “Bích Khê, Tinh hoa, tinh huyết”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008
BÍCH KHÊ, “HÌNH NHƯ VẪN CÒN GÌ NỮA…”
Hoàng Thị Huế
Với những thành tựu mới trong lý luận và phê bình văn học, vai trò của việc đọc và người đọc tác phẩm đã được khẳng định. Những trường phái phê bình lớn như chú giải học, hiện tượng học, thuyết tiếp nhận... đặc biệt chú trọng đến vai trò của người đọc và việc đọc trong tiếp nhận tác phẩm văn học. Với việc khám phá ra vai trò của người đọc, tác phẩm văn học không phải là một thực thể tồn tại độc lập với những giá trị bất biến nữa mà trở thành sản phẩm của “một quá trình” (chữ dùng của Trương Đăng Dung). Một tác phẩm văn học được đọc bởi những độc giả khác nhau thì đồng thời nó cũng hồi âm lại những giá trị khác nhau tùy thuộc vào vốn văn hóa và “tầm đón đợi” của bạn đọc. Giá trị của tác phẩm sẽ được phát hiện trong quá trình đọc, căn cứ và “kinh nghiệm” đọc và “diễn giải” văn bản của độc giả. Đó là quá trình “cụ thể hóa một tác phẩm, là biến một văn bản thành một tác phẩm, cuối cùng là làm một tác phẩm thành một tác phẩm văn học” (tr 156; 1).
Việc nhấn mạnh vào vai trò, ý nghĩa của việc đọc và người đọc đã cho thấy lịch sử văn học không chỉ là “lịch sử sáng tác” mà bên cạnh đó còn tồn tại một phương diện khác nữa là “lịch sử việc đọc”. Những hiện tượng, những tác phẩm văn học lớn luôn luôn được nhìn nhận, đánh giá, khám phá bởi nhiều cách đọc khác nhau. Và trong tiến trình đọc, đọc lại tác phẩm đó, cái mới được phát hiện từ những cái tưởng như đã là chân lý vĩnh cửu. Tác phẩm văn học vì vậy luôn lấp lánh vẫy gọi với những hứa hẹn, những mạch ngầm cho người đọc khai phá dù thời gian, dù năm, dù tháng.
Với hiện tượng Thơ Mới 1932 – 1945, giá trị của nó trong lịch sử văn học dân tộc đã thực sự được khẳng định qua các tên tuổi như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích khê, Vũ Hoàng Chương... mà những sáng tác của họ đã góp phần không nhỏ trong việc hiện đại hóa thơ ca Việt Nam, đưa thơ ca dân tộc hội nhập vào quỹ đạo chung của thơ ca thế giới. Song có một điều không thể phủ nhận là giá trị của nó không phải chỉ ở những bài thơ mà còn ở cách đọc, việc đọc Thơ Mới của Hoài Thanh - Hoài Chân. Cho đến nay những phát hiện của Hoài Thanh vẫn có giá trị như “kim chỉ nam” trong phê bình, tiếp nhận Thơ Mới của bao thế hệ. Ông đã chứng tỏ được năng lực thẩm văn tinh tế, nhạy cảm của mình trong việc nhận diện cái hồn, cốt của mỗi nhà thơ, bài thơ. Những nhà thơ, những bài thơ Hoài Thanh chọn thuộc vào loại hay và đặc sắc nhất, những nhận định của ông đưa ra khó có ai vượt qua nổi. Tất cả những giá trị làm nên “Thi nhân Việt Nam” khiến Thơ Mới trở thành “một hiện tượng độc đáo” trong thơ ca Việt Nam không còn gì đáng bàn nữa. Bởi đó là những hệ giá trị đã được khẳng định, chứng minh. Cái đáng bàn ở đây là cách đọc, việc đọc của tác giả thi nhân Thơ Mới với nhà thơ của “Thuần túy và tượng trưng”.
Bích Khê sinh ngày 24-3-1916, mất ngày 17-1-1946 do bệnh lao. Đến nay đã tròn 90 năm sinh và 60 năm mất. Khi Hoài Thanh viết Thi nhân Việt Nam và xuất bản nó năm 1942, Bích Khê đã xuất bản tập “Tinh huyết” (1939) và đăng nhiều thơ trên “Tiếng dân”, “Tiểu thuyết thứ năm”, “Người mới”... Với lời đề tựa tập “Tinh huyết” của Hàn Mặc Tử, Bích Khê được xem như “một bông hoa lạ nở hương, một thứ hương quý trọng thơm đủ mọi mùa phước lộc. Ta có thể sánh văn, thơ Bích Khê như đóa hoa thần dị ấy”. (Tựa “Tinh huyết”)
Từ những bài thơ và lời xưng tụng ấy, Bích Khê không thể không được Hoài Thanh biết đến, nhưng có một điều lạ là trong “Thi nhân Việt Nam” ngay sau lời ca ngợi: “Tôi đã gặp trong “Tinh Huyết” những câu thơ hay vào loại bậc nhất trong thơ Việt Nam” (tr. 226; 5) là những nhận định có phần dè đặt: “Nhưng tôi chưa thể nói nhiều về Bích Khê. Tôi đã đọc không biết mấy chục lần bài”Duy Tân”, tôi thấy trong đó những câu thật đẹp. Nhưng tôi không dám chắc bài thơ đã nói hết cùng tôi những nỗi niềm riêng của nó. Hình như vẫn còn gì nữa… Còn các bài khác hoặc chưa xem hoặc mới đọc có đôi ba lần, mà thơ Bích Khê, đọc đôi ba lần thì cũng như chưa đọc”. (tr 227 ; 5).
Trong quá trình đọc người đọc sẽ phát hiện ra giá trị của tác phẩm văn học. Giá trị ấy như thế nào tùy thuộc vào “cá tính, kinh nghiệm và cảm xúc riêng của từng người” (tr 4). Khi đọc Thơ Mới 32 - 45, Hoài Thanh đã tham gia vào việc đồng sáng tạo với các nhà Thơ Mới, dựa vào cái tạng riêng của chính mình để chọn ra những nhà thơ tài hoa của phong trào Thơ Mới. Trong việc lựa chọn thẩm định ấy, tác giả Thi nhân Việt Nam đã chịu tác động của một trường lực từ môi trường văn hóa xã hội thời kỳ 1930 - 1945. Đó là những hệ giá trị đóng vai trò chuẩn mực trong trường thẩm mỹ của công chúng độc giả. Thời kỳ 1930 - 1945 là thời kỳ giao thoa của hai nền văn hóa Đông - Tây trong xu hướng bất lợi cho văn hóa cổ truyền phương Đông. Ý thức về cái tôi cá nhân, cảm xúc cá nhân, tự do cá nhân... là hệ tư tưởng có tính chất chủ đạo trong văn hóa giai đoạn này. Đối tượng thẩm mỹ của văn học không nằm ngoài cái tôi cá nhân cùng ý thức tự do trong thưởng thức và sáng tạo văn học. Hơn nữa Thơ Mới ra đời trong giai đoạn trào lưu lãng mạn chủ nghĩa ở phương Tây đã chín muồi và đạt được những thành tựu rực rỡ. Những tiêu chuẩn thẩm mỹ của văn học lãng mạn đã được truyền bá trong trường học, qua việc dịch thuật, giới thiệu các tác phẩm văn học Pháp... Khi đọc Thơ Mới, giải mã Thơ Mới, Hoài Thanh đã tham gia vào việc “diễn giải” tác phẩm theo trường thẩm mỹ mà mình hấp thu từ một bối cảnh văn hóa nhất định. Đó là một quá trình “cộng đồng diễn giải” (Wolfgang Iser) (tr 167; 8). Chính việc “cộng đồng diễn giải” ấy đã chi phối cách đọc Thơ Mới của Hoài Thanh. Trong xu hướng khẳng định cái tôi hơn cái ta cộng đồng truyền thống, , khẳng định cảm xúc của cá nhân, của óc tưởng tượng, xây đựng một thế giới đẹp đẽ, mộng mơ nhằm vượt thoát khỏi những nhiêu khê, khổ lụy đời thường - dẫu chỉ trong cảm giác... (Thơ Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Xuân Diệu...) của các nhà Thơ Mới đã được công chúng đón nhận nồng nhiệt. Bởi nó đáp ứng tâm lý chung của độc giả - đã được điều kiện hóa thành “tầm đón đợi”. Chính từ ưu thế ấy, Hoài Thanh đã rất thành công trong thẩm bình thơ của các nhà thơ thuộc xu hướng lãng mạn vì ông cũng nằm trong “tầm đón đợi” chung của độc giả với vốn văn hóa và những kiến thức có sẵn về văn học.
Song cũng chính “tầm đón đợi” với lợi thế giúp Hoài Thanh thể hiện năng lực tinh tế nhạy cảm của mình trong việc đọc Thơ Mới lại trở thành một lực cản khiến ông ngại ngần trước cái mới, cái lạ - những yếu tố những nằm vừa vặn trong “tầm đón đợi” mà mâu thuẫn với nó bởi một hệ giá trị mới.
Thơ Bích Khê (cả Đinh Hùng, Nguyễn Xuân Sanh) không nằm ngoài quy luật này. Với quan niệm làm thơ là phải “đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới”, đổi mới ngôn ngữ thơ, kết hợp âm thanh và ngữ nghĩa, xây dựng những biểu tượng phức nhiều ám gợi “trên hỗn độn khỏa thân” để “tìm chất quý thơm tinh mùi khoái lạc” (Duy Tân - Bích Khê) Bích Khê đã vượt thoát khỏi phạm trù lãng mạn đặt chân vào địa hạt tượng trưng và siêu thực:
Chữ biến hình ảnh mới, lúc trong ngâm,
Chữ điêu khắc, tiả nghệ thuật sầu câm
Đầy thẩm mỹ như một pho thần tượng…
Thơ lõa thể! Giai nhân tuần trăng mật,
Nữ thần ơi! Ta! Nô lệ bên người!
(Duy Tân - Bích Khê)
Về phương diện tâm lý, người đọc với hệ giá trị có sẵn từ giáo dục, từ tiếp nhận theo phong cách truyền thống khó có thể chấp nhận ngay những câu thơ tân kỳ như thế. Thơ Bích Khê ca ngợi vẻ đẹp của thân xác con người. Đó là cái đẹp chân thực, đáng được xưng tụng:
Sương - phất phơ lau lách,
Khe - uốn mình giai nhân.
Đường non khéo điêu khắc.
Những dáng hình khỏa thân
(Xuân tượng trưng - Bích Khê)
Cái đẹp thân xác xuất hiện lồ lộ trong thơ Bích Khê, nó vừa là nguồn cảm hứng vừa là đối tượng ngợi ca của thơ ông. Bích Khê đã khoác cho thơ một hệ giá trị mới với những thủ pháp tượng trưng, siêu thực, thơ mang vẻ đẹp của thị giác... sắc biến thành hương, ánh mắt thành sóng nghê thường, lệ là hai hàng đũa ngọc:
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương
Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi
(Tranh lõa thể - Bích Khê)
Với thói quen “nghe” thơ chứ không đọc thơ, nhìn thơ, những hình ảnh trong thơ Bích Khê có lẽ sẽ tạo nên những “ổ gà” nhỏ trong mặt bằng tiếp nhận của độc giả thời bấy giờ. Hơn nữa vấn đề dục tính trước đây vốn là một đề tài cấm kỵ trong văn học chính thống, trong ý thức thẩm mỹ của độc giả lúc ấy khi cái đẹp không đi liền với cái “đa thanh đa sắc đa tầng đa nghĩa” kiểu như thơ Bích Khê. Hoài Thanh dè dặt khi đánh giá thơ Bích Khê cũng một phần từ nguyên nhân ấy. Quan niệm và sáng tác của Trường thơ lọan nói chung, Bích Khê nói riêng đã có những cách tân và thể hiện khá mới mẻ, tân kỳ từ cách sử dụng ngôn từ giàu nhạc tính đến hình ảnh biểu tượng thơ... vượt qua ngưỡng giới hạn của chủ nghĩa lãng mạn tìm kiếm con đường đổi mới tạo nên khuynh hướng tượng trưng và siêu thực.
Chính khao khát chống lại lối mòn ngữ nghĩa trong tiếp nhận, cách tân thơ, Bích Khê đã quan niệm “Lời truyền sóng đánh điện khắp luôn trời. Chữ bí mật chứa ngầm hơi chất nổ”. Đó là sự “bí mật nhưng phải gây nên sức nổ dây chuyền của cái lạ lẫm, cái tiềm thức, cái vô thức qua những ấn tượng, những liên tưởng đột xuất, bất ngờ xóa tan mọi khoảng cách, đem nhích lại gần nhau giữa những cái xa lạ vô can... chữ vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh” (tr 327 ; 7). Trong thời đại ngày nay, với thực tế đổi mới văn học, quan niệm sáng tác của Bích Khê không còn lạ lẫm và mới mẻ nữa. Song nếu những cách tân này của Bích Khê được Hoài Thanh đánh giá mạnh dạn hơn, bắt đúng kênh, tái hiện đúng tầm vóc của nhà thơ trong thời điểm khuynh hướng sáng tác này còn chưa được phổ biến thì lịch sử phát triển thơ ca sẽ được đóng góp khá nhiều. Bởi ông sẽ gởi một cái nhìn vào tương lai, cung cấp cho thực tiễn sáng tác thơ ca nước nhà những quan điểm sáng tác mới, những tiền đề lý luận mới có tác động tích cực đến sự phát triển của văn học và lý luận phê bình văn học. Sau bao năm e dè, giữ ý, Bích Khê đã được nhìn nhận đánh giá lại tuy có phần muộn màng nhưng từ đó để thấy công lao, đóng góp của ông là không nhỏ.
“Tầm đón đợi” của độc giả với quá trình “cộng đồng diễn giải” trong giải mã tác phẩm sẽ gặp phải những giới hạn ở hệ giá trị chật hẹp, khiến độc giả không thể vượt thoát khỏi cái khung do chính mình định ra để khám phá một hệ giá trị mới làm thay đổi cách đọc, cách nhìn nhận về tác phẩm. Biết dùng chính hệ giá trị mới để soi chiếu những tác phẩm, những giá trị đã được định hình trong quá khứ, khiến tác phẩm văn học luôn luôn là một thực thể sống động hấp dẫn mời gọi. Việc xây dựng hệ giá trị mới cũng sẽ mang lại những tác động tích cực cho sáng tác bởi “cái mới là tiêu chuẩn để định giá thơ ca” (Nguyễn Đăng Điệp)
Nguồn:
- Tham luận tại Hội thảo “Bích Khê và thơ Bích Khê” nhân 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 20-22/2/2006
- In trong cuốn “Bích Khê, Tinh hoa, tinh huyết”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008
Tài liệu tham khảo
1. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb. KHXH
2. Nguyễn Thanh Mừng (1992), Bích Khê, Tinh hoa và Tính huyết, Nxb. Hội Nhà văn.
3. Quách Tấn (1971), Đời Bích Khê, Sài Gòn, 1971
4. Hàn Mặc Tử (1939), Bích Khê thi sĩ thần linh (Tựa tập thơ Tinh huyết), trong sách: Bích Khê, Tinh huyết, (tái bản), Nxb. Hội Nhà văn, H.1995.
5. Hoài Thanh, Hoài Chân (1942), Thi nhân Việt Nam 1932-1941, (tái bản), Nxb. Văn học, H., 1998.
6. Đỗ Lai Thúy (1998), Con mắt thơ, Nxb. Giáo dục.
7. Nhiều tác giả (2003), 70 năm đọc thơ Bích Khê, Nxb. Thanh niên.
8. Tạp chí “Văn học nước ngoài”, số 1/2005.
BÍCH KHÊ TRONG TRƯỜNG THƠ LOẠN
Phạm Phú Phong
Sự ra đời của thơ mới làm thay đổi toàn bộ diện mạo của đời sống văn học. Đó là sự đổi mới về câu từ, giọng điệu, cấu trúc, thể loại... mà cái chính là ở cảm xúc và kiểu tư duy. Từ những thay đổi về cảm xúc đưa đến những thay đổi tư duy, mở ra một thời đại mới trong thi ca, với những tên tuổi rạng rỡ như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương... trong đó không thể không kể đến một nhóm, một trường phái, một dòng thơ, mà ở đó cái gì cũng dữ dội, cũng tha thiết, cũng đắm say, cũng muốn đi đến tận cùng, cái tận cùng đầy tuyệt vọng, đã xuất hiện trên thi đàn như một “niềm kinh dị”, đó là trường thơ Loạn, nơi qui tụ những tên tuổi như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Quách Tấn, Yến Lan, Hoàng Diệp. Mỗi người đều thống nhất với nhau ở một nguồn chung, nhưng đều có thi pháp biểu hiện riêng và đã đạt được những thành tựu khác nhau, còn sống mãi trên thi đàn dân tộc. Đã có nhiều công trình đánh giá tương đối đầy đủ về những đóng góp của từng người, trong bài viết ngắn này tôi chỉ xin rẽ bóng thời gian nhìn lại vị trí của Bích Khê trong trường thơ Loạn.
1. Trong hồi ký Miền Nam trung bộ, đất thơ trong kháng chiến chống Pháp, nhà thơ Nguyễn Viết Lãm đã tự hào về những tổ chức văn học có tính chất tự phát, tập hợp những người làm thơ có cùng quan niệm trước Cách mạng tháng Tám như “văn đoàn Thái Dương ở Bình Định, văn đoàn Tương Lai ở Kon Tum, nhóm thơ Cẩm Thành ở Quảng Ngãi” và đặc biệt là trường thơ Loạn do Hàn Mặc Tử sáng lập năm 1936 (1). Có người chia thơ mới thành ba dòng: dòng ảnh hưởng thơ Đường, dòng ảnh hưởng thơ Pháp và dòng thơ thuần Việt (2). Có người chia thành nhiều nhánh nhỏ hơn, dựa vào những người sáng tác có cùng quan niệm: nhánh của Thế Lữ, nhánh của Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, nhánh của Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, nhánh Xuân Thu nhã tập và trường thơ Loạn. Thật ra, đây chưa hẳn là một trường phái, có tổ chức, có cương lĩnh, có điều lệ với sự tham gia của nhiều người, mà chỉ là một nhóm người có cùng quan niệm, cùng sở thích, cùng tập họp nhau lại, ra một tuyên ngôn... Ra đời tại Bình Định, trường thơ Loạn đã thu hút những tài năng nghệ thuật đặc biệt, tạo ra một dòng thơ lạ lẫm, kỳ dị khiến cho nhiều người phải giật mình sững sốt. Tòa thơ của họ vụt cao chót vót nối tầng cao nhất của thiên đường với tận cùng địa phủ, từ đó tạo ra thứ ánh sáng huyền hoặc, buộc người ta phải ngước nhìn, vừa trầm trồ chiêm ngưỡng, vừa hết hoảng hoang mang. Nếu Hàn thi sĩ chỉ dừng lại ở Gái quê (1936), thì chưa có gì đặc biệt so với thơ ca lãng mạn thời đó, phải đến Đau thương (Thơ điên) mới sừng sững một Hàn Mặc Tử như ta có hiện nay. Thật ra, đây chỉ là bước nối tiếp của chủ nghĩa lãng mạn trong thơ mới, nó đã đặt bước chân của mình vào chủ nghĩa tượng trưng và đưa vào thơ những nét chấm phá đầu tiên của chủ nghĩa siêu thực. Ảnh hưởng sâu sắc chủ nghĩa tượng trưng Pháp thế kỷ XIX, mà người đề xướng là Baudelaire, họ cho rằng “giữa vũ trụ và con người có mối quan hệ siêu việt. Thế giới được cảm nhận chỉ là sự phản ánh một vũ trụ tinh thần. Thơ phải nắm bắt dược tương giao bí ẩn” đó giữa con người và vũ trụ”(3). Trong Tựa cho tập Điêu tàn, được coi là tuyên ngôn của trường thơ Loạn, Chế Lan Viên không chỉ trình bày ý kiến của mình mà còn dẫn cả ý tưởng của người đồng điệu với mình rằng: “Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: Làm thơ là làm sự phi thường. Thi sĩ không phải là người. Nó là người Mơ, người Say, người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát Hiện Tại. Nó xáo trộn Dĩ Vãng. Nó ôm trùm Tương Lai”(4). Tiến sâu hơn, Hàn Mặc Tử còn bước sang miền mộng ảo, đến với xứ sở của siêu thực: “Trí Người đã dâng cao và thơ Người cao hơn nữa. Thì ra Người đang say sưa đi trong Mơ Ước, trong Huyền Diệu, trong Sáng Láng và vượt hẳn ra khỏi ngoài Hư Linh... Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng”(5). Với Bích Khê, hầu như không có một tuyên ngôn, tuyên bố gì, mà cách lập ngôn đầy đủ nhất của ông là thông qua thực tiễn sáng tạo. Ngay cả trong Tinh huyết (1939), tập thơ duy nhất được in lúc sinh thời của tác giả, cũng do Hàn Mặc Tử viết lời Tựa thay cho ông.
Điều đáng lưu ý là tuy nói Loạn mà không loạn, Điên mà không điên. Không bừa bãi, cẩu thả, mà được trau chuốt cẩn trọng từng câu, từng từ, nhằm thể hiện cảm xúc luôn khao khát được sống hết mình, được cảm nhận và thấu hiểu cuộc sống hết mình, đòi hỏi người nghệ sĩ phải sống bằng trái tim, bằng tâm hồn cháy bỏng từng giọt lửa yêu thương, phải mở lòng rộng rinh, lắng nghe tiếng nói thầm thì ở nơi tĩnh lặng nhất của cõi lòng mình, phải thét phải gào cho thỏa những khát khao, ước mong về thế giới đau thương, về cái đẹp, về tình yêu và cuộc sống. Điều ấy thể hiện rõ rệt thông qua sáng tác của những tác giả chủ chốt của nhóm như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê. Những người còn lại, tuy có tham gia, có sự tương đồng về quan điểm, nhưng chưa có sự bứt phá trong sáng tác, một Quách Tấn mực thước với thể thơ Đường luật và chưa dám chuyển mùa, chỉ dừng lại ở Mùa cổ điển, một Yến Lan (đến với trường thơ Loạn với bút đanh Xuân Khai) vẫn còn loanh quanh bên Bến My Lăng...
2. Trường thơ Loạn mang âm hưởng chung là nỗi đau đớn, tiếc thương cuộc sống đã hoặc đang lụi tàn, khát khao ôm cả đất trời vào trái tim nhỏ bé của con người, ước vọng điên cuồng chiếm lĩnh cả không gian, thời gian, năm tháng cuộc đời. Cũng trong khát vọng muốn biến cái hữu hạn thành vô hạn ấy, nhưng Bích Khê nhìn cuộc đời ở một góc độ khác. Tuy cùng một ý thức, nhưng trong Bích Khê không có những Đau thương, Điêu tàn như ở Hàn và Chế. Không có sự đau đớn, bi thương đến hốt hoảng cố bám riết vào đời sống với nỗi đau tuyệt vọng như Hàn Mặc Tử; không có những không gian hoang lạnh, một thế giới bị lãng quên, bên những hồn ma vất vưởng như Chế Lan Viên. Bích Khê không bị ám ảnh bởi cái chết, mà có thể từ cái chết làm nẩy sinh một thế giới khác, nó rực rỡ, sáng láng một cách kỳ lạ. Chiếc đầu lâu là biểu tượng của sự chết chóc. Cái sọ người của Chế Lan Viên là cả khối xương khô, gợi nhớ đến pháp trường ghê rợn, đến những đốm lửaa ma trơi, đến cõi chết, nhưng vào thơ Bích Khê, Sọ người là bình vàng, chén ngọc, là hương thơm, là ánh sáng... Cũng với cách nhìn vừa ảo vừa thực ấy, thế giới hiện thực đi vào thơ ông được khúc xạ bởi một thứ ánh sáng khác, tạo ra thế giới âm thanh, màu sắc rực rỡ đến chói chang. Dường như nó được chưng cất từ những gì thanh khiết và cao quí nhất của đất trời. Nó không còn là cõi phàm trần nữa, mà là cõi tiên, cõi mộng, cõi siêu thăng chỉ có linh hồn thoát tục mới vươn tới được:
Đêm ôm hồn tôi chơi phiêu diêu
Bắt gặp nàng thơ diện yêu kiều
Man mác cho nên nhớ chị Hằng
Hai tôi nhịp nhàng lên cung trăng
(Nghê thưởng)
Cũng như các nhà thơ mới và những người đồng điệu trong trường thơ Loạn, Bích Khê cũng nói nhiều đến trăng. Nhưng trăng của ông không phải là thứ “trăng nằm sóng soãi trên cành liễu”, không phải là “trăng tan thành bọt nước” như Hàn Mặc Tử; cũng không phải “vừa dâm tục ôm trăng vờ vật ngủ” như Chế Lan Viên... Trăng của Bích Khê không còn là trăng của đất trời, của không gian bao la mang ý nghĩa vật chất, mà là vàng trăng, ngọc trăng, chén trăng, sữa trăng có thể tiếp nhận bằng vị giác:
Chén trăng vừa tầm với
Chàng ơi, vàng ròng đây
Kề môi say ân ái...
(Ngũ hành sơn)
3. Với Bích Khê, thơ không chỉ là nghệ thuật cao quý, thanh khiết của tâm hồn, là những gì tinh túy được đấng tối cao ban phát, mà còn là một đặc chủng nghệ thuật tổng hợp, có thể dung nạp nhuần nhuyễn các yếu tố của các loại hình như âm nhạc, hội họa, lại có cả tính tạo hình của điêu khắc, nhiếp ảnh, thậm chí có cả kiến trúc tham dự vào, tuy chỉ là yếu tố hình thức của hình thức: Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới (Duy tân)... Có thể nói, trong tâm hồn chật chội của ông luônn chứa đựng một không gian rộng rinh, trong đó đầy ăm ắp những âm thanh, màu sắc, đường nét, hình khối, vừa cụ thể vừa trừu tượng, vừa thực vừa hư. Có những bài thơ như Nghê thường, Tỳ bà khi đọc lên thật khó mà phân biệt đâu là yếu tố của hình tượng ngôn từ, đâu là yếu tố của hình tượng âm thanh. Đỗ Lai Thuý(6) đã phân tích một cách xác đáng, khi dẫn hai câu thơ toàn vần bằng độc đáo của Xuân Diệu để so sánh với Bích Khê: Sương nương theo trăng ngừng lưng trời / Tương tư nâng lòng lên chơi vơi (Nhị hồ). Nhưng với Bích Khê không chỉ một câu, một bài mà nhiều bài toàn vần bằng như Mộng Cầm ca, Nhạc, Thi vị, Cơn mê, Hoàng hoa, Nghê thường, Tiếng đàn mưa... ở góc độ này thể hiện tài năng của ông, không chỉ là nhà ảo thuật về ngôn từ, mà còn là người biết sử dụng các biến tấu, biết trêu đùa cùng các giai điệu để phổ vào tâm hồn bắt nó phải ngân lên. Chịu ảnh hưởng của các nhà tượng trưng, ông cho rằng thế giới là sự giao hòa kỳ diệu giữa âm thanh, màu sắc, hình khối và hương thơm:
Nhạc khiêu vũ đâu đây lan sóng múa
Tôi tưởng chừng... da thịt biến ra thơm
(Châu)
Sự kết hợp hài hòa giữa âm thanh, màu sắc, hương vị và đường nét, tạo nên tính tạo hình cho ngôn ngữ thơ ca một cách sắc nét. Có những bài theo cái vỏ ngữ âm được miêu tả, có thể vẽ ra thành những bức tranh đẹp như Tranh lõa thể, Ảnh ấy, Đề ảnh, Trên núi Ấn ngắm sông Trà... Đã có bao tranh vẽ về Truyện Kiều của Nguyễn Du: Tô Ngọc Vân vẽ Tú Bà, Nguyễn Đỗ Cung vẽ Từ Hải, Nguyễn Tường Lân vẽ Kiều ngủ, Lê Lam vẽ Kiều tắm... Bích Khê yêu thương con người, yêu cái đẹp của người phụ nữ và ca ngợi vẻ đẹp thân xác có tính chất trần tục của nó. Ông không chỉ yêu và miêu tả nó như một đối tượng, mà còn biến nó thành phương tiện để biểu hiện khát vọng của mình. Chính vì thế ông trở thành người ca tụng thân xác, ca tụng những phẩm chất kỳ diệu mà tạo hóa ban cho họ. Không chỉ ở tấm thân vật chất với những đường cong tuyệt mỹ, mà còn cả mùi vị thanh sạch, hương thơm tinh khiết, buộc người ta không chỉ nhìn bằng mắt, nghe bằng tai, tiếp cảm bằng da thịt mà còn có thể nhận ra mùi vị bằng khứu giác, vị giác:
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
Hai vú nàng! Hai vú nàng! Chao ôi!
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng.
(Tranh lõa thể)
Không cái gì có thể khuất phục được cả thời gian như cái đẹp, như nghệ thuật, như người phụ nữ, nó có thể bắt “bóng thời gian phải quỵ dưới chân nàng”. Ca tụng thân xác đến mức ấy, thật là hiếm thấy...
Do nhiều yếu tố chi phối, trong đó, có một phần do quan niệm nghệ thuật của chủ nghĩa tượng trưng, một phần là do hoàn cảnh bệnh tật, những năm cuối đời Bích Khê như quả bóng đã được bơm căng hơi thở đời sống, khi chạm đến tận cùng của nhục dục để rồi nó bật tung lên vời vợi thanh khiết, đến lúc ấy, những gì là tội lỗi, ghê rợn đều trở nên thanh sạch, trong lành, cao quý biết bao nhiêu! Ở điều này, Bích Khê cũng khác với chất trần trụi của Chế Lan Viên (Ngủ trong sao, Tắm trăng), hoặc mơ . màng của Hàn Mặc Tử (Bẽn lẽn, Cô gái đồng trinh, Mùa xuân chín)... Bích Khê đã tái tạo lại những gì mà thượng đế đã sáng tạo ra, và, đem cho nó sức sống mãnh liệt hơn cả tấm thân vật chất của người nghệ sĩ tài hoa đoản mệnh, vì chính đấng tối cao dường như cũng đem lòng ghen tị.
4. Người đoản mệnh chưa chắc đã tài hoa, nhưng không ít những người tài hoa đã rơi vào tình trạng đoản mệnh, trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó. Những người cùng thế hệ với Bích Khê có Nam Cao cuộc đời chỉ dừng mãi ở tuổi 36, Thâm Tâm 33, Thạch Lam 32, Hàn Mặc Tử 28, Vũ Trọng Phụng 27, Phạm Hầu và Nguyễn Nhược Pháp 24... đó là những người mà tác phẩm của họ có sức sống lâu bền hơn tấm thân vật chất của người sinh ra nó. Bích Khê cũng không thoát ra khỏi mệnh số đa đoan của con người tài hoa bạc mệnh. Cũng như Bích Khê, những người mà tôi chưa thể thống kê đầy đủ trên đây, nếu tạo hoá còn cho họ có thêm cơ hội, chắc chắn rằng họ còn có khả năng đóng góp nhiều hơn. Ngay cả những người chưa đến với lý tưởng và nền văn học cách mạng, Nguyễn Viết Lãm cũng tin tưởng rằng họ sẽ chào đón cuộc đời mới một cách nhiệt thành, hồ hởi: “Tôi có biết anh Bích Khê, gặp anh năm 1941 tại Sông Cầu... Ngày khởi nghĩa tháng Tám, anh đang bị bệnh phổi nặng, nhờ người nhà khiêng cả giường nhỏ anh nằm ra trước cổng để tự mình trực tiếp nhìn thấy nhân dân xuống đường, trực tiếp sống cái giây phút giải phóng đất nước, giải phóng tâm hồn người làm thơ. Tôi hiểu sâu sắc nỗi niềm của anh, cũng như từng hiểu ít nhiều tấm lòng anh Hàn Mặc Tử ngày anh còn sống. Trong không khí hào sảng của cuộc khởi nghĩa cả nước, tôi cứ nghĩ rằng, cũng như Bích Khê, nếu Hàn Mặc Tử còn đến hôm nay, anh sẽ cùng chúng tôi, xuống đường biểu tình với quần chúng cách mạng”(7). Nhưng biết làm sao được. Nguyễn Du đã từng nói về tài mệnh tương đố. Trên thế giới không thiếu những tài năng sớm ra đi, nhưng những gì họ để lại khiến cho hậu thế vừa ganh ty vừa phải kính cẩn nghiêng mình: Nhạc sĩ tài hoa người Áo F.P. Schubert ra đi lúc 31 tuổi thiên tài âm nhạc Ba Lan F.F. Chopin 39 tuổi, nhà phê bình văn học Nga nổi tiếng V.G. Belinski 37 tuổi, nhà thơ Nga danh tiếng M.Ju. Lermotov 27 tuổi, nhà toán học Pháp E.Galois 21 tuổi...
Cùng chống chọi với bệnh tật như những tác giả cùng thời, những Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Phạm Hầu, Nguyễn Nhược Pháp; hoặc cũng giống như người trong cùng trường thơ Loạn là Hàn Mặc Tử, nhưng Bích Khê có thái độ chấp nhận, đón chờ cái chết đến trong tư thế của một người biết rằng mình không thể cưỡng lại số phận. Về mặt thi pháp hình thức, cách đặt nhan đề của tác phẩm cũng thể hiện rõ điều đó. Hàn Mặc Tử đi từ Gái quê đến Đau thương (Thơ điên), Bích Khê có Tinh huyết, Tinh hoa, rồi Đẹp. Trong hồi ký Trong bóng nguyệt soi của người chị ruột Lê Thị Ngọc Sương kể về những ngày cuối đời của Bích Khê, càng chứng tỏ được rằng, ông đã chuẩn bị cho cái chết rất chu đáo: “Chàng mời người chị thứ sáu lên, đọc lời di chúc, nhờ chị chép lại và xin mẹ, căn dặn mẹ làm đúng theo lời tuyệt mệnh: 1. Khi chết không được khóc. 2. Chết xong liệm liền, chôn liền. 3. Liệm rất giản dị, một tấm vải trắng đắp thi hài, một cái hòm thường và đám tang không cần kèn trống. 4. Bà con đến phúng điếu, không nhận tiền bạc. 5. Ngày giỗ chỉ thắp hương trầm và cắm hoa, không được đặt đồ ăn trên bàn thờ...”(7). Hãy hình dung, những dặn dò này là của một người sắp chết, nói với mẹ mình, cách đây đã tròn sáu mươi năm! Chính vì thế, cũng chừng ấy thời gian đã qua đi, thơ ông vẫn là cơn cuồng phong, là “niềm kinh dị”, vẫn có sức lay động trái tim nhiều thế hệ độc giả, vẫn đồng hành cùng với đời sống thơ ca hiện đại, và, tuy người đã đi xa nhưng còn lẩn khuất đâu đây, như chính sự giao hẹn trong Lời tuyệt mệnh:
Sau nghìn thu nữa trên trần thế
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi
Nguồn:
- Tham luận tại Hội thảo “Bích Khê và thơ Bích Khê” nhân 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 20-22/2/2006
- In trong cuốn “Bích Khê, Tinh hoa, tinh huyết”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008
Chú thích
(1) Nguyễn Viết Lãm - Cách mạng, kháng chiến và đời sống văn học, Nxb KHXH, H. tr. 543, 546.
(2) Hoài Thanh, Hoài Chân- Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, H.2000, tr. 20. (3) Hoàng Nhân - Phác thảo các xu hướng văn học phương Tây hiện đại, Nxb ĐHQG tp HCM, 1999, tr. 120.
(4) Tựa Điêu tàn, Thơ mới 1932-1945, tác giả và tác phẩm, Nxb HNV, H. 1998, tr. 804.
(5) Tựa Thơ điên, Sđd, tr. 151-152.
(6) Đỗ Lai Thúy- Con mắt thơ, Nxb Lao động, H. 1992, tr. 186.
(7) Dẫn theo Đỗ Lai Thúy, Sđđ, tr. 269.
BÍCH KHÊ, NHÀ THƠ
CỦA ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ
Đặng Thị Ngọc Phượng
Thơ mới đã có ý thức sâu sắc về cá tính sáng tạo của thi sĩ và sự thức nhận ngôn từ. Thơ không còn là những giai đoạn thuần khiết của khuynh hướng lãng mạn mà đã có sự chuyển biến từ cái tôi trữ tình giai đoạn lãng mạn sang thế phân cực để diễn đạt cái tôi trữ tình đang tự đi tìm mình, khai thác cảm xúc của chính mình. Chính sự vận động này là thành tựu và bước tiến của Thơ mới theo đúng quỹ đạo thơ của thế giới. “Đối với thơ sau cổ điển là lãng mạn, sau lãng mạn là tượng trưng, sau tượng trưng là siêu thực ... đó là bước đi tự nhiên của con người không ngừng tìm kiếm mình, phát hiện mình và tìm kiếm bản chất đời sống” (Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam - Nguyễn Bá Thành). Nếu như Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương... là cầu nối giữa lãng mạn và tượng trưng thì Bích Khê, Đinh Hùng là lớp nhà thơ đã chuyển hẳn sang tượng trưng. Trong đó, Bích Khê là điển hình phong cách thơ tượng trưng.
Từ lãng mạn đến tượng trưng thơ đã có một sự thay đổi lớn, nhất là quan niệm thơ. Chủ nghĩa lãng mạn nhìn thế giới chủ yếu ở mặt hữu hình, coi trọng cảm xúc. Chủ nghĩa tượng trưng thì ngược lại, đặt thơ vào cái vô hình và xuất phát từ cảm giác. Thơ tượng trưng vì thế không còn là truyền cảm nữa mà là gợi cảm. Với thơ truyền cảm, cảm xúc do thơ tạo ra khiến cho bất cứ độc giả nào cũng có thể hiểu được ý tưởng của nhà thơ. Trong khi đó, thơ gợi cảm khiến cho sự nắm bắt không dễ dàng. Độc giả phải tự khai mở những hướng đi của thơ vào tâm hồn mình để tiếp nhận được những gì tế vi nhất. Với loại thơ này, ngôn ngữ chính là phương tiện giúp con người nhận thức. Tinh huyết và Tinh hoa của Bích Khê là sự hiện thực hoá những tiềm năng sinh ra ý tưởng của ngôn ngữ.
Cảm thức tự do đã giúp cho thi nhân có một cái nhìn, cải tạo ngôn từ theo cái nhìn thế giới nghệ thuật của riêng mình. Bích Khê bao giờ cũng vật chất hoá, biến tất cả những gì thuộc thể lỏng, thể hơi thành vật rắn. Nước mắt được ví như ngọc, dòng châu, pha lê ...
Hỡi đôi mắt! Nơi người là ngọc thạch
(Đôi mắt)
Vật thể hoá những thể lỏng thành thể rắn, vật thể sáng, ánh nhiều màu sắc vì tất cả những cái ấy tượng trưng cho nội tâm Bích Khê. Mặt khác, với những vật vốn bản chất ban đầu là vật thể rắn thì Bích Khê lại lỏng hoá, hơi hoá... Hai quá trình cảm nhận thế giới ngược chiều nhau. Thực hiện hai quá trình ngược chiều đó: vật hoá, lỏng hoá chính là quá trình tượng trưng. Muốn thực hiện quá trình đó phải sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt sử dụng hình ảnh ẩn dụ.
Nghệ thuật ẩn dụ ở Bích Khê thật độc đáo. Nhà thơ nào cũng sử dụng ẩn dụ, nhưng ẩn dụ ở Bích Khê không lẫn được với ai khác trong làng Thơ mới. Điều này góp phần tạo nên phong cách thơ ông. Đi sâu vào thế giới nghệ thuật của Bích Khê, ta thấy nghệ thuật ẩn dụ thần kỳ hoá ngọn bút. Những hình ảnh thơ:
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
(Tranh loã thể)
Hay: Hỡi đôi mắt, châu báu của muôn đời
(Đôi mắt)
Hình ảnh ẩn dụ “Hàng đũa” đã thay thế cho từ “ngọc” làm cho ý nghĩa thêm sâu sắc. Sự vật như có hồn, đầy sinh khí qua câu thơ:
Những vú nõn: đồi cong thon, nho nhỏ
Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh
(Sắc đẹp)
Từng câu chữ hiện lên dưới cái nhìn rất riêng của Bích Khê. Với ẩn dụ thông thường, người ta thường nói đến đôi môi tươi, đỏ hay là những nụ cười hồng. Còn riêng Bích Khê thì lại là nụ cười trắng, nụ cười đầy ám ảnh để lại trong lòng độc giả sự xót xa lan toả từ từng câu chữ: “Nụ cười ai trắng như hoa lê” (Nghê thường). Ở đây không lặp lại những ẩn dụ cũ mà đi sâu vào thức nhận ngôn từ:
Muôn thớ đàn run trên da thịt tuyết
Đàn và thơ kết thành giây tinh huyết
(Ăn mày)
Ẩn dụ còn làm cho một hình ảnh thơ từ tĩnh chuyển sang động, giàu sức gợi cảm xúc: “Sữa trắng như tuyết pha/ Nhi nhỉ nơi một vú”... (Ngũ Hành Sơn). Những hình ảnh ẩn dụ đã tạo nên trường hô ứng, tạo nên sự nhất quán trong thơ. Người đọc cảm nhận sau những ngôn từ ấy là một vẻ đẹp tâm hồn:
Lờ mờ đường lên mây
Chén trăng vừa tầm với
Chàng ơi, vàng ròng đây
Kề môi say ân ái
(Ngũ Hành Sơn)
Tiến sĩ Đỗ Lai Thuý bình thật độc đáo “Ẩn dụ chén trăng đã làm nổ một dây chuyền ngữ nghĩa. Trăng màu vàng, nên chén trăng cũng là chén vàng (màu vàng), nhưng khi thi nhân hạ bút vàng ròng thì chén trăng lại thêm một lần chuyển nghĩa nữa, chén bằng vàng, biểu tượng của sự quí giá. Chén làm liên tưởng đến thứ đựng trong chén, rượu nên có thể kề môi và say, nhưng say ân ái thì chén trăng lại là chén tình yêu. Vầng trăng bỗng thoắt biến thành người yêu, hoặc người yêu biến thành vầng trăng lúc nào không ai hay” (Mắt thơ - Đỗ Lai Thúy).
Với Bích Khê, ẩn dụ là một sáng tạo, biến nghệ thuật ngôn từ thành chất liệu, vật liệu trong thơ ông. Chính nghệ thuật ẩn dụ độc đáo góp phần tạo nên phong cách thơ ông. Bích Khê thực hiện một cuộc cách mạng ngôn từ gợi dậy cái vô thanh, vô hình ẩn sâu trong con người hữu hình. Hệ thống biểu tượng, ẩn dụ luôn thay đổi hình thức thơ, chứa đựng thế giới thơ mênh mông giàu nghĩa và gợi cảm. Điều này mang lại vẻ đẹp thăng hoa sáng tạo mới lạ từ bản năng của thi sĩ.
Bích Khê là nhà thơ đã khai phá những vùng đất mới trong thơ, đem lại cho người đọc những cảm giác mới mẻ về thơ, đi đến sự khoái lạc trong tâm hồn. Thơ của Bích Khê như một đoá hoa thần dị, dội vào lòng người một nỗi đau khổ tuyệt vọng. Qua lớp ngôn từ độc đáo phủ bởi màu sắc truỵ lạc, ta như thấy được những cơn ham mê, khoái lạc cuồng loạn trong tâm hồn nhà thơ:
Nàng ở mô! Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm tấm thân kiều diễm
( Tranh lõa thể )
Những đau đớn, tuyệt vọng, điên cuồng nung nấu trong máu huyết nhà thơ như ứa ra trên những dòng thơ khao khát. Thi nhân không những đưa cảm giác vào tâm linh mà còn ca ngợi cái đẹp, lăn xả vào cái đẹp để hưởng thụ một cách say sưa, cuồng nhiệt qua sự điên dại của thân xác:
Người hiện ra để hình dung ánh sáng
Chụp hồn hoa háo hức giữa đêm thu ?
( Đôi mắt )
Thi nhân đã thành thực nói lên sự khao khát của tâm hồn đến cao độ, điên cuồng như muốn chụp, vồ, ôm, riết chặt, rồi xé nát để hưởng thụ. Ở trong thơ Bích Khê, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp trong thể chất đưa cảm giác của thi nhân đến cuồng loạn:
Đâu đôi mắt mùa xuân tợ ngọc ?
Vú non non ? Da dịu dịu, êm êm ?...
( Mộng Cầm ca )
Và đâu đó trong thơ Bích Khê màu sắc truỵ lạc đậm đà hơn:
Tôi vồ người như một miếng mồi ngon
Miệng ngậm hờn riết chặt lấy môi son
(Xác thịt)
Đi vào địa hạt dâm cuồng này, thi nhân đem cảm giác đi tìm cái đẹp bước dần đến hưởng lạc rồi bị nhục dục mê cuồng đến tận cùng sa đoạ. Thế nhưng trong tận sâu thẳm tâm hồn, thi nhân đã thành thực nhận ra được những cảm giác cuồng nhiệt qua thể chất là chốn bệnh hoạn nên đã trở về với cái đẹp của tâm hồn. Cái đẹp đó trường tồn mãi trong tâm hồn nhà thơ.
Tiếng thơ Bích Khê còn thể hiện khao khát đắm đuối của tâm hồn thoát tục để đi vào lĩnh vực thơ tượng trưng:
Vườn thơm khua sắc mát
Rồng uốn vóc tùng cong
Áo bạch mai khoát khoát
Môi đào chờ khoái lạc
Hồn tôi như đỉnh hương
( Xuân tượng trưng )
Thơ tượng trưng không chỉ mang tính khơi gợi, tính lỏng mà còn đề cao tính nhạc. Baudelaire - người mở đầu cho thơ tượng trưng gọi vũ trụ là “Rừng biểu tượng”, là những tương ứng theo trục dọc và trục ngang: “Hương thơm, màu sắc, thanh âm tương ứng nhau”. Hơn ai hết, Bích Khê là người đặc biệt quan tâm đến âm nhạc và thử nghiệm âm nhạc cho thơ tượng trưng Việt Nam. Ông là người khám phá thể hiện tính nhạc ở thể thơ tám chữ. Thể thơ tám chữ bao giờ cũng bị cắt đôi ra thành 4/4 và tạo nhịp đôi trong một câu thơ
Nhẹ nhàng, nhịp nhàng/ thở đều trong thơ
Màu trắng không gian/ như gờn gợn sóng
(Nhạc)
Và đồng thời vần bằng bao giờ cũng tạo ra âm nhạc đều đặn, nhẹ nhàng, êm dịu:
Ô! hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! thu mênh mông
(Tỳ Bà)
Chính âm nhạc đó như lời hùng biện, mang tính ám gợi ở tâm hồn người đọc. Đấy chính là đặc trưng âm nhạc của thơ tượng trưng Bích Khê. Không có âm thanh ồn ào, giòn giã nhưng về nhịp điệu dữ dội, mạnh có nhiều nghịch âm, bằng bằng, đều đều tạo ra sức ám gợi đi vào tâm linh, thế giới vô hình:
Lá vàng rơi/ (Tôi khóc, anh ơi!)...
Sao vàng rơi/ (Thôi hết, anh ơi)...
(Thi vị)
Tư duy hiện đại đã giúp ngôn ngữ thơ Bích Khê tạo ra trong Nhạc một thế giới biến ảo. Tư duy tượng trưng này chi phối toàn bộ thơ Bích Khê. Nhạc là hình tượng trung tâm, là sự biến hoá của vũ trụ, là sự thăng hoa của tâm hồn. Không chỉ cảm nhận bằng thính giác mà còn cảm nhận trong thị giác
Ô! Nắng vàng thơm ... rung rinh điệu ngọc
(Nhạc)
Nhạc mang màu nắng và đầy hương thơm. Giai điệu nhạc ở đây đẹp như ngọc, được kết bằng ngọc. Nó chính là nhịp rung của khúc nhạc lòng.
Bích Khê là người sử dụng nhiều kỹ thuật về ngôn từ. Đấy là một điều mới, sự thành công của ông. Thơ Bích Khê muốn cho người đọc thấy được sự cách tân kỹ thuật ngôn từ trở thành nghệ thuật mang lại cái mới mẻ. Cái mới mẻ của Bích Khê là tạo ra ấn tượng thị giác rất là mạnh. Trong xã hội lúc bấy giờ chưa có truyền hình, chưa có các phương tiện nghe nhìn nhưng Bích Khê đã đưa thơ mình đến một trình độ thơ thị giác, vượt trước thời đại của ông.
Tự do và thành thực là điều kiện giúp Bích Khê tìm con đường riêng cho mình. Trong nghệ thuật, trong thơ, hình thức chính là sự hiện diện nghệ thuật riêng biệt của từng nghệ sĩ. Không có cái hình thức đó thì chẳng có bao giờ có nghệ thuật. Nếu nhà thơ là “con chim ngứa cổ hót chơi” như Xuân Diệu định nghĩa thì Bích Khê là con chim hót có ý thức, muốn tìm cho mình mộy giọng riêng, một giọng khác. Chiêm nghiệm cả cuộc đời thơ của Bích Khê đó là cuộc hành trình của ngôn từ. Mỗi bài thơ được toả sáng bởi những thao tác ngoạn mục của ngôn từ. Vì vậy mà TS. Đỗ Lai Thuý trong Mắt thơ đã xem Bích Khê là “Sự thức nhận ngôn từ”. Điều đó quả không sai. Và hơn hết, Bích Khê còn xứng đáng với danh hiệu : “Nhà thơ đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ”.
Nguồn:
- Tham luận tại Hội thảo “Bích Khê và thơ Bích Khê” nhân 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 20-22/2/2006
- In trong cuốn “Bích Khê, Tinh hoa, tinh huyết”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008
ĐI TÌM BÍCH KHÊ,
MỘT CỘT MỐC VĂN CHƯƠNG KỲ VĨ
Nguyễn Quốc Luân
Cái ý nghĩ Bích Khê - một cột mốc văn chương kỳ vĩ không rõ đã đến với tôi từ bao giờ.
Có lẽ là từ những ngày cách đây gần 50 năm... Hồi đó thành phố Vinh còn gọi là thị xã Vinh đang vào thời kì phục hồi sau cuộc kháng chiến chống Pháp gian lao mà anh dũng. Thị xã nhà lá nhà tre nhiều hơn nhà xây – mà đó là những căn nhà xây lở lói tường vôi sau thời kỳ tiêu thổ kháng chiến. Thị xã nắng và gió Lào cồn cột mà cây xanh thì ít quá, quá ít... Bọn trẻ con chúng tôi một buổi đi học, một buổi đứa thì đi bán kem, bán kẹo lạc bánh đa, đứa thì thi moi gạch vỡ từ các căn nhà xây rồi đập nhỏ bích thành từng đống, mỗi đống là 1m3 để bán cho người ta làm móng xây nhà. Còn tôi, trong một bữa đi đào gạch vỡ đã moi ra được một cái tủ gỗ, trong đó rất nhiều sách báo và cả những cái hợp nhỏ xinh. Tôi gọi cả bọn bạn tới, mặt mũi lấm lem, tay chân sứt sẹo, rớm máu, chúng tôi chả ai bảo ai, hối hả lôi rồi ôm ra từng ôm sách tả tơi. Nào là truyện tranh, Tam Quốc Chí, Thủy hử, Tây sương kí, nào là tiểu thuyết... và cả thơ, tôi đoán là thơ, vì mỗi trang lại chỉ có mươi dòng lên xuống đều đặn.
Rồi tôi cũng quên cái đống sách ấy.
Một hôm, có mấy chú đến nhà tôi chơi, hỏi chuyện, tôi tìm nhặt, đưa các sách ấy ra, một chú kêu lên:
- Nè, Tinh huyết nè, nè, Điêu tàn nè,
Một chú khóc:
- Cả Tự lực văn đoàn đây này...
Tôi biết đó là tên các tập sách, còn Tự lực văn đoàn thì tôi đã nghe ba tôi và cậu tôi nói rằng đó là một nhóm nhà văn ngoài Bắc, hôm hai người ngồi uống trà, sai tôi đi mua thuốc lá. Hôm ấy tôi đã hỏi:
- Rứa ở Nghệ An, ở miền Trung có nhiều người làm văn không?
Có lẽ là từ một ngày vào mùa hè sau hôm 5.8.1964 rực lửa. Những năm giữa 1960 ấy Nghệ An là tỉnh kết nghĩa với Quảng Ngãi, rất nhiều cán bộ, công chức và bộ đội quê ở Sơn Tịnh, Đức Phổ rồi Ba Tơ, Trà Bồng... đã đến nhà tôi ăn nghỉ và đọc sách trong những ngày chủ nhật. Có một chú bảo tôi:
- Chú sắp về Nam, về quê...
- Chú đi B à?
- Ừ đi B. Cháu học cho giỏi rồi lớn lên về quê Quảng Ngãi với chú.
Chú ấy tên là Phổ. Chú đưa cho tôi một gói sách, trong đó có cuốn Tinh huyết đã được chú đóng lại bìa.
Chú đi rồi, o tôi đến chơi, lấy sách ra xem, o tôi kêu lên
- Thấy hay hay mà tau chả hiểu hết Quý ạ.
Rồi o hạ giọng thì thầm:
- Nhưng mà cháu phải cất kỹ cuốn Tinh huyết này đi nha người ta đang cấm đọc đó.
Năm 1967, đáng lẽ tôi được kết nạp thẳng vào Đoàn TNLDVN ngay vì tôi là Liên đội trưởng Liên đội TNXP của trường như các Liên đội trưởng trước, nhưng việc ấy phải chậm lại 3 tháng, vì có người báo cáo với thầy chủ nhiệm là tôi hay đọc thơ Nguyễn Bính, những “Bữa ấy mùa xuân phơi phới bay”..., rồi thơ Hàn Mặc Tử với Sao anh không về chơi thôn Vỹ/ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên..., may mà mấy ông bạn đi báo cáo này không biết là tôi còn chép cả những dòng Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm/ Nàng là hương hay nhan sắc lên hương... của Bích Khê vào cuốn Sổ tay văn học.
Mấy năm học cấp III (bây giờ gọi là phổ thông trung học) tại một xóm núi nơi trường sơ tán, chúng tôi được thầy Nguyễn Tá Hoành kể nhiều chuyện về các nhà văn và đọc tác phẩm của họ cho nghe. Tôi hỏi :
- Sao những chuyện này những bài này không có trong sách giáo khoa?
- Em hỏi thế là thế nào? Thầy Hoành lại hỏi với cái nhìn vừa ánh lên một tia reo vui lại vừa thoáng chút nghi ngờ.
Tôi bảo:
- Em thấy hay.
Thầy Hoành dặn:
- Em đừng nói chuyện này với ai, không hay cho em và cả cho thầy.
Tôi càng tò mò tìm hiểu, ít lâu sau thì biết. Thầy Nguyễn Tá Hoành là một sinh viên giỏi của khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, do “dính líu” gì đó với mấy ông nhà văn Nhân văn-Giai phẩm” nên phải chuyển về quê đi dạy cấp III chứ không được ở lại dạy đại học Hà Nội.
Chia tay thầy Hoành vào đại học, tôi viết bức thư nhờ bạn chuyển đến thầy, có đoạn đại ý: Bọn em đứa thì đi bộ đội, đứa đi học nước ngoài, đi học trong nước, đứa ở nhà làm dân quân cùng bộ đội cao xạ chiến đấu bảo vệ thành phố Vinh, trong túi đứa nào cũng chép thơ Tố hữu, thơ Ca Lê Hiến, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, và cả thơ Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Nguyễn Bính... Chúng em rất cảm ơn những giờ dạy và những buổi nói chuyện văn thơ của thầy... Buột mồm, thuận tay, tôi còn viết: Riêng Bích Khê và Hàn Mặc Tử là vĩ đại, vì bị cấm đoán mà chúng em vẫn đọc, vẫn chép mà có đứa nào ủy mị kém cỏi đi đâu...
Hồi ấy tôi nghĩ thế thì viết ào ra thế, vừa khoái với ý nghĩ ấy của mình, vừa sờ sợ nữa.
Đâu như năm 1980, gặp anh Nguyễn Đức Quyền mới từ Hải Phòng về dạy học ở Quảng Ngãi ít lâu, được biết anh Quyền là bạn của thầy Hoành, tôi mạnh dạn tìm đến. Chào hỏi được một chút, anh Quyền hỏi:
- Có phải cậu là tay cả gan gọi Bích Khê là vĩ đại hồi trước không ?
Tôi chẳng kịp trả lời, anh Quyền ôm vai tôi thoải mái, bao khoảng cách của tuổi tác và thế hệ như được xóa liền.
Bây giờ thì các tác giả tài hoa và kì vĩ ấy đã được nhìn nhận thỏa đáng hơn, có lí lẽ và có chứng cớ hơn.
Chính họ là một mảnh của tâm hồn dân tộc, cái tâm hồn thuần hậu thuần khiết và sáng trong nên đâu có ngại bộc lộ mình ra giữa hàng hàng con chữ. Họ kì vĩ bởi họ là nhà cách tân dũng mãnh và nhiệt thành - sống vì thơ, sống cho thơ với tất cả bầu Tinh huyết với tất cả khối Tinh hoa của cả một đời trai trẻ.
Cuộc tìm kiếm vẻ đẹp thi nhân thơ ca ở họ mà mỗi chúng ta đang làm thật vui và có ý nghĩa sâu xa. Trong cuộc tìm kiếm này có lúc tôi nghĩ: Nếu kho tàng thơ ca- văn hóa dân tộc mà thiếu vắng những vị này thì sao nhỉ? Trước kia là thế, là thế... Còn bây giờ là thời buổi của giao lưu và hội nhập rồi.
Nguồn:
- Tham luận tại Hội thảo “Bích Khê và thơ Bích Khê” nhân 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 20-22/2/2006
- In trong cuốn “Bích Khê, Tinh hoa, tinh huyết”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008
ĐI VÀO CÕI THƠ BÍCH KHÊ
PGs. Bích Thu
Lời truyền sóng đánh điện khắp muôn trời
Chữ bí mật chứa ngầm hơi thuốc nổ
Những câu thơ đó như là chìa khóa mở vào cõi thơ Bích Khê. Một cõi thơ gắn số phận với những bước thăng trầm của Thơ mới. Và hôm nay, thật ngẫu nhiên, sự trùng hợp 90 năm ngày sinh và 60 năm ngày mất với trường hợp của Bích Khê, thi nhân của sông Trà, núi Ấn nói riêng và của non sông Việt nói chung.
Thời gian trôi qua, cuộc đời và sự nghiệp thơ ca Bích Khê dù đã từng gây ít nhiều “phân vân” vẫn thu hút sự mến mộ, chú ý của công chúng và bạn đọc. Ở cõi vĩnh hằng, chắc ông không ngờ Những tờ thơ nát đầy hơi hám; Tay khách đa tình sẽ chuyển giao lại luôn mời gọi người đương thời tiếp nhận, đồng cảm, thưởng thức và phát hiện những giá trị nghệ thuật và nhân bản trong đó. Bằng “Tinh huyết”, “Tinh hoa” của đam mê và sáng tạo, Bích Khê đã kiến trúc nên một cõi thơ riêng - một cõi thơ trường kỳ với thời gian, với đời sống thi ca đương đại và với bạn đọc hôm nay.
Cùng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê là thành viên của Trường thơ loạn, từng gây tiếng vang và tạo ấn tượng không chỉ ở địa phương mình mà còn cả phong trào Thơ mới. Những cách tân, duy tân và quan niệm riêng, hết sức độc đáo của họ về sáng tạo, về nghệ thuật, về thơ ca đã góp phần đưa thơ hòa nhập vào tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và đưa tên tuổi của mỗi người vào vị trí xứng đáng của nền văn học Việt Nam hiện đại. Điều đáng nói ở đây, là cùng ở trong Trường thơ loạn, cùng chịu ảnh hưởng lẫn nhau nhưng cũng như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê vẫn tạo tác cho mình “một cõi trời” - một cõi thơ “mê ly không bờ bến”, in đậm dấu ấn cá nhân, đậm đặc chất liệu cái tôi, cái cốt cách của Bích Khê: tinh tế mà phức tạp.
Trong cõi sâu thẳm thơ Bích Khê gợi lên sự tương ứng giữa hương thơm, màu sắc, âm thanh. Trong phần thơ có tựa đề Nhạc và Lệ với các bài thơ Mộng cầm ca, Tỳ bà, Nhạc, Thi vị, Hiện hình,... khó có thể tách bạch đâu là hương thơm, màu sắc, âm thanh bởi tất cả đã tạo nên một sự hòa hợp, tương ứng dệt nên những hình ảnh, điệp ngữ, liên tưởng trùng phức đầy ám gợi và mê hoặc:
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của gương hồ im lặng tợ bài thơ
Chân nhịp nhàng, lòng nghe hương nặng nặng
Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của hồn thu đi lạc ở trong mơ.
(Mộng cầm ca)
Hay nói như tác giả Thi nhân Việt Nam, trong thơ Bích Khê có “những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”:
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi; vàng rơi: thu mênh mông
(Tỳ bà)
Dễ nhận thấy thơ Bích Khê thường ở trạng thái động, luôn có sự truyền dẫn, sự đẩy tới, tạo hiệu ứng thẩm mỹ:
Thơ bay; thơ bay vô bàn tay ngà,
Thơ ngà ngà say! thơ ngà ngà say!
Nàng ơi đừng động... có nhạc trong giây
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây,
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,
Ô nàng tiên nương! Hớp nhạc đầy hương
(Nhạc)
Cũng như các nhà Thơ mới, trong thơ Bích Khê, người ta nhận ra dấu vết của Baudelaire và của các nhà thơ tượng trưng khác như Verlaine, Rimbaud, Mallarme,... Sự hòa hợp, tương hợp giữa các loại cảm giác: hương thơm, sắc màu, âm thanh, in dấu ấn đậm nét trong những bài thơ: Nguyệt cầm (Xuân Diệu), Đi giữa đường thơm (Huy Cận), Chơi giữa mùa trăng (Hàn Mặc Tử), Màu thời gian (Đoàn Phú Tứ) và đặc biệt với những câu thơ gợi cảm của Bích Khê: Nàng hé môi ra. Bay điệu nhạc; Mát như xuân mà ngọt tựa hương (Hiện hình); Tình tang tôi nghe như tình lang (Tỳ bà); Nhạc gầy hương, hương gầy nhạc lan man (Đồ mi hoa); Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc; Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương (Nàng bước tới); Có gì uyển chuyển trong da thịt; Nức một đường thơm một điệu êm (Châu).
Trong cõi thơ Bích Khê còn nổi bật những đường nét, tạo hình, phô diễn vẻ đẹp con người với cái nhìn nhục thể. Có lẽ Bích Khê là nhà thơ đầu tiên đặt tựa đề Đẹp và Dâm trong cấu trúc nghệ thuật của thơ mình, đặt cái Dâm ngang hàng với cái Đẹp. Nếu như ở lĩnh vực văn xuôi, cái dâm trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng đã được nhìn nhận trong sự hòa quyện giữa nghệ thuật và nhân bản thì trong thơ Bích Khê cái trần tục, thể xác đã được “thanh khiết hóa, trở thành một tác phẩm nghệ thuật”:
Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ
Ôi tiên nương! nàng ngự lại nơi này?
Nàng ở mô? xiêm áo bỏ đâu đây
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
Đêm u huyền mơ ngủ trên mái tóc.
Vài chút trăng say đọng ở làn môi
Hai vú nàng! Hai vú nàng! Chao ôi.
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng.
Ôi lồ lộ một tòa hoa nghiêm động!
Tôi run run hãm lại cánh hồn si.
thậm chí được tôn vinh:
Tiên nương hỡi! Nàng sống trên thế hệ;
Bóng thời gian phải quỵ dưới chân nàng
(Tranh lõa thể)
Ôi đi! đoàn tiên lột khỏa thân.
Hoan hô xác thịt chiếm ngôi thần
(Mộng lạ)
Trong Xuân tượng trưng, hơn lúc nào hết, Bích Khê bộc lộ tư duy nghệ thuật độc đáo và uyển chuyển của mình:
Hỡi lời ca man dại.
Điệu nhạc thở hơi rừng
Đêm nay xuân đã lại
Thuần túy và tượng trưng
Nâng lên núm vú đồi
Sữa trăng nhi nhỉ giọt
Bay qua cụm liễu phơi
Những cườm tay điểm hột
Sương phất phơ lau lách
Khe uốn mình giai nhân
Đường non khéo điêu khắc
Những dáng hình khỏa thân.
Với ý thức cách tân, Bích Khê không thôi tìm tòi và sáng tạo với mong muốn:
Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới
Của lời thơ lóng đẹp. Hạt châu trong
Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng
Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng
Ông đã điều binh khiển tướng những con chữ, đưa ngôn ngữ thơ xáp gần đến những bộ môn nghệ thuật khác. Ngoài kiến trúc là điêu khắc: Chữ điêu khắc, tỉa nghệ thuật sâu câm - Đầy thẩm mỹ như một pho thần tượng, là vũ đạo: Múa song song khiêu vũ dưới đêm hồng, âm nhạc: Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mái, nhiếp ảnh: Đường nhiếp ảnh sắc khua màu..., mỹ thuật: Hỡi hội họa đến muôn đời nức nở. Và như thế, giữa cái nhìn thấy và cái không nhìn thấy như Bóng ý lặng lờ lên; những dáng hình thanh khí. Giữa mông mênh đã làm nên: Một hỗn hợp đẹp xô bồ say dậy trong cái tương quan huyền bí được tạo nên bởi sự “nhất thể hóa các giác quan”. Hơn ai hết, Bích Khê đã phát hiện ra cái đẹp trong cái hỗn độn:
Mộng?
Thiên tài?
Trên hỗn độn khỏa thân.
Đẹp tỷ mỷ, hỡi rung động truyền thần.
(Duy tân)
Trong cõi thơ Bích Khê, dường như mỗi bài thơ của thi nhân là một “giai điệu chủ quan”, gắn với những rung cảm mãnh liệt. Cái tôi cá nhân của nhà thơ luôn được đẩy tới theo nguyên tắc mỹ học của trường phái tượng trưng: đề cao trực giác. Nguyên tắc này được đồng nhất với sự bừng ngộ thần bí, sự khải thị trong trạng thái kích động cao. Trong thơ của Hàn Mặc Tử cũng như của Bích Khê luôn chập chờn giữa mộng và thực, giữa tiềm thức và ý thức, chỉ trong sự chập chờn đó, cảm hứng của nhà thơ mới dâng lên đến tận cùng đam mê và khoái cảm: Cho tình ta xô dồn sang cực điểm; Và hào quang khiêu vũ với hào quang (Nàng bước tới) hoặc:
Ôi! say khướt mới dào tuôn ý tứ
Ôi! điên rồ mới ngợp ánh trăng sao
Ôi! dâm cuồng mới biết giá trăng sao
Yêu bằng mộng là mơ tim sáng láng
(Trái tim)
Nói như Hàn Mặc Tử, thơ Bích Khê đã “bắt cái vô hình trở nên hữu hình, khiến cái chết trở nên sống, khiến cho vật câm không còn là câm nữa” (Lời giới thiệu của Hàn Mặc Tử in trong Tinh huyết. Nxb HNV, 1995).
Mộng rớt đêm này như chất ngọc
Người ta say nghiến những men tình
Tôi hoan hô phút giây thần diệu
Chết giả nhưng cười trắng thủy tinh
Dưới ngòi bút tài tình của Bích Khê từ một loài hoa (Đồ mi hoa), một loại trái cây (Quả măng cụt) đến một địa danh thắng cảnh (Ngũ hành sơn) đều được sử dụng như một biểu tượng. Tất cả đã được người làm thơ nhân hóa với cái nhìn nhục cảm. Trong tư duy sáng tạo của thi nhân, đồ mi hoa là biểu tượng của người đẹp và của thơ:
Đài nộn nhụy hóa nguồn trinh tinh khiết
Ướp một làn hương rượu quyện lâng lâng
Tràng cánh trắng biến ra da thịt tuyết
Một tiên nương mừa tựa một giai nhân
Ngửng đôi mắt chứa mùa xuân phẩm tiết
Giữa bài thơ... đưa vẳng tiếng ngân
(Đồ mi hoa)
Quả măng cụt cũng là biểu tưởng của vẻ đẹp thân thể:
Múi trăng sao như ngọc
Múi mát tợ thịt thơm
Môi hoa ai mời mọc
Ngọt lịm đến linh hồn
(Quả măng cụt)
Còn với Ngũ hành sơn (Tiền và hậu) lại là một biểu tượng trùng phức, đa tầng ngữ nghĩa. Dưới ngòi bút như nhập đồng của Bích Khê, Ngũ Hành đã chất chứa tiềm ẩn trong đó tương quan bí ẩn giữa con người và vũ trụ. Lúc hiện ra vẻ đẹp gợi cảm của thân thể đàn bà, lúc lại là sự huyền diệu của thơ và thi nhân, lúc là cuộc du ngoạn của lứa đôi, lúc lại là cõi tín ngưỡng, huyền bí, linh thiêng:
Lên chơi hòn Non nước
Gót trổ ngọc song song
Chàng ơi đêm đã ướt
Mắt sao trên sườn cong
…Lờ mờ đường lên mây
Chén trăng vừa tầm với
Chàng ơi, vàng ròng đây
Kề môi say ân ái...
…Đứng trên đài vọng hải
Ngỡ tới Hoàng Hạc Lâu
Tuyệt thay hòn Non nước
Hồn Thôi Hiệu ở đâu?
Kim, mộc, hỏa, thổ lạy
Trên dưới đất trời chầu
… Phật Như Lai thoạt hiện
Trên bảy sắc cầu vồng
Quái thay hồn Non nước
Nghe giảng đủ mười tông.
Trong thơ Bích Khê thường hiện hữu cái tôi “kép”, cái tôi trong thực tại và cái tôi trong mộng tưởng - là hồn của người thơ:
Tôi miên man uống lại mộng quỳnh dao
Cho đê mê, chới với, hồn lên cao
(Tranh lõa thể)
Đi qua thời trai trẻ của Bích Khê có một vài bóng dáng giai nhân nhưng những mối tình ấy đều không đi được tới cùng. Bất hạnh với tình yêu nơi trần thế, thi nhân đã “ăn mày trái tim”, đã mơ tiên, đã ôm mộng đến với những cõi mơ mong hồn được phiêu diêu, đắm đuối “trong miền chiêm bao”:
Hồn bay! Hồn bay! Hồn bay
Ngửa nghiêng tắm mát vàng lay, nhạc hường
Đêm nay no ớn nguồn hương.
Một trời thanh khí mười phương đa tình
(Mơ tiên)
Và gợi cảm, giàu sắc thái biểu đạt hơn:
Nàng! Hở nàng! Hãy cắn vào hồn ta.
Hồn nguyệt bạch ran lên chiều háo hức
Tôi uống trọn cặp môi hường thơm phức
Ô cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm!
Một bàn chân ve vuốt một bàn chân.
Mát làm sao! Mát rợn cả châu thân
Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực
Ôi! thớ thịt có đàn lên cung bực
Hồn tôi ôm gót ngọc lắng âm thanh
(Bàn chân)
Trong cõi thơ Bích Khê, người ta nhận ra thi nhân là người có ý thức cách tân triệt để về kỹ thuật ngôn từ, câu chữ, đã từng tôn vinh Baudelaire là ông vua thi sĩ. Tuy nhiên dù cổ vũ cho duy tân, cho một thứ thơ theo điệu mới, trong cơ cấu nghệ thuật của mình, Bích Khê vẫn đi theo định hướng:
Và mới mẻ, trên viện cổ Đông phương
Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật
(Duy tân)
Chính nhờ những tiềm lực của Đông phương, nhà thơ đã thức nhận được những bí mật đó ở chính trong ngôn ngữ dân tộc, trong thi ca truyền thống. Bên cạnh sự cách tân Bích Khê cũng âm thầm tự điều chỉnh trở về với Á đông. So sánh hai thi phẩm của Bích Khê, Quách Tấn đã nhận định: “Tinh huyết mang nhiều sắc thái của Tây phương, còn Tinh hoa chứa nhiều khí vị của Đông phương” (Tinh hoa. Nxb Hnv, 1997, tr102). Bích Khê đã tìm ra Đông phương, trở về với cội nguồn. Ông đã viết những câu thơ mang âm điệu Á đông thầm thì mà quyến rũ:
Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng.
Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan.
Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn
Nước non rả rích giọng đàn mưa rơi
(Tiếng đàn mưa)
Người đọc như thấm thía hơn với những câu thơ nhuộm sắc thái, phong vị truyền thống, rất thôi xao, gần gũi với giọng điệu của thơ Bà Huyện Thanh Quan:
Hoa cỏ bốn mùa thay đổi tiết
Ngàn năm còn mãi cụm cây xanh
Cheo leo lắt lẻo đèo treo quán
Róc rách đìu hiu nước xuống ghềnh
Gió thổi rừng mai bông dã dượi
Mưa thêu làn nắng chỉ mong manh
Mục tử năm ba điều thổi điệu
Nắng vàng cao thấp, núi rung rinh
(Đăng lâm)
Với Tinh hoa và Tinh huyết, Bích Khê đã chinh phục người đọc bởi sự kết hợp giữa truyền thống và cách tân, dân tộc và hiện đại và ở phương diện nào, thơ của thi nhân cũng mê hoặc, ám ảnh, giăng mắc, buộc người đọc phải hơn một lần trở lại với thơ ông.
So với những nhà thơ đương thời, thi phẩm của Bích Khê không nhiều. Nhưng chỉ với Tinh huyết và Tinh hoa, ông đã làm nên một cõi thơ riêng: thuần tuý và tượng trưng, vừa mời chào lại vừa kén người đọc. Song điều cần ghi nhận ở đây là với cách nhìn khách quan và công bằng của hôm nay, thơ Bích Khê đã được khẳng định là một cõi thơ được xây dựng bằng những chất liệu thi ca trụ vững với thời gian, có sức kích thích công chúng mọi thời chiêm ngưỡng, thưởng thức và đồng sáng tạo.
Nguồn:
- Tham luận tại Hội thảo “Bích Khê và thơ Bích Khê” nhân 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 20-22/2/2006
- In trong cuốn “Bích Khê, Tinh hoa, tinh huyết”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008
EDGAR POE, CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG PHÁP
VÀ BÍCH KHÊ
Nguyễn Hồng Dũng
Bích Khê là một đỉnh cao của phong trào Thơ Mới, là nhà cách tân triệt để nhất về phương diện ngôn từ thơ ca. Bích Khê, cũng như hai người bạn của ông trong “Trường thơ Loạn” là Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên, và những thi nhân cùng thời đại với ông, những người đã tạo nên “một thời đại trong thi ca” Việt Nam, đã tìm thấy nguồn đột phá mãnh liệt từ văn hóa phương Tây, mà chủ yếu là văn hóa Pháp. Gần một thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu nước ta đã bàn quá kỹ về vấn đề này, và thiết nghĩ khó mà có gì để bàn thêm nữa. Nhưng, khi có chủ yếu thì tất có thứ yếu, cái phần chủ yếu đã biết, còn cái phần “thứ yếu” đó nằm ở đâu, mức độ và tính chất của nó trong quá trình tiếp nhận và tiếp biến của thơ ca nước nhà đối với nó là như thế nào? Đây là vấn đề gần như còn bỏ ngỏ. Trong bài viết này, chúng tôi muốn góp phần soi rõ thêm một nguồn mạch còn chưa được biết nhiều nhưng có ảnh hưởng thực sự đến đời thơ Bích Khê, đó là nhà thơ Mỹ - Edgar Poe.
1. Edgar Poe (1809 - 1849) rất được đề cao ở Pháp trong những thập kỷ cuối thế kỷ XIX. Ở Pháp, sự nghiệp văn học của E.Poe được dịch và giới thiệu rất đầy đủ, và ông được xem là một trong những nhà khai sáng ra thơ hiện đại, mà trực tiếp là trường phái tượng trưng Pháp. Về văn xuôi, E. Phe là người đã đặt nền móng cho truyện trinh thám - hình sự, truyện kinh dị và là “một trong số thủy tổ của văn học viễn tưởng'”. Ngoài ảnh hưởng đối với văn học Pháp hiện đại, E.Poe còn có ảnh hưởng đến nhiều nhà văn, nhà triết học lớn ở châu Âu như F.Nietzsche, F. Dostoevski, B. Shaw...
Ở Việt Nam, từ đầu thế kỷ XX, E. Poe đã được nhiều học giả nước ta biết đến. Phạm Quỳnh đã nhắc đến “văn hào nước Mỹ Edgar Poe” trong tiểu luận Thơ Baudelaire (1924) (1). Edgar Poe cũng là nhà văn Mỹ đầu tiên có tác phẩm được dịch sang tiếng Việt. Năm 1936, bài thơ Con quạ (The Raven) của ông được Nguyễn Giang dịch qua bản tiếng Pháp, in trong cuốn Danh văn Âu Mỹ và là một bản dịch ra văn xuôi. Đến năm 1941, cũng chính Nguyễn Giang cũng dịch và xuất bản một tập truyện kinh dị của Edgar Poe. Năm 1944, Vũ Ngọc Phan dịch và xuất bản tập “Truyện kỳ lạ” của Edgar Poe... Trong bộ phận sách dịch từ phương Tây giai đoạn này, chúng ta biết rằng chủ yếu là sách Pháp, việc Edgar Poe được chú ý dịch như vậy có thể xem là một hiện tượng. Nước Mỹ, đối với đại bộ phận dân chúng Việt Nam bấy giờ, là một xứ xa xôi tận bán cầu Tây. Tuy vậy, đối với tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh, sinh viên, công chức thì nước Mỹ không đến nỗi quá xa lạ. Những nhóm độc giả này thuộc loại có học vấn cao ở nước ta giai đoạn này. Họ là những người giỏi Pháp văn, và họ đọc các tác phẩm văn học Mỹ qua các bản dịch tiếng Pháp. Điều này các tầng lớp xã hội khác không làm được. Như vậy, chủ yếu qua trung gian là Pháp ngữ mà độc giả Việt Nam bấy giờ biết đến Edgar Poe và biết đến vị thế của ông trong văn học phương Tây. Đó là một tiền đề cho sự tiếp nhận Edgar Poe ở Việt Nam. Trong một số công trình nghiên cứu và các bài viết được in trước năm 1945 ở Việt Nam đã đề cập đến Edgar Poe, đó là Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh-Hoài Chân, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, Đọc tiểu thuyết Việt Nam cận đại của Đinh Gia Trinh, Lời tựa của Khái Hưng cho tác phẩm Vàng và máu (Thế Lữ)... Vào những năm 80, nhà thơ Chế Lan Viên trong các bài thơ giới thiệu thơ Hàn Mặc Tử, Bích Khê cũng nhắc đến Edgar Poe. Ở những mức độ khác nhau và tuy còn rời rạc, thoáng qua, các tác giả trên đã nêu ra những ảnh hưởng của Edgar Poe đối với Bích Khê và một số người khác. Đó chính là những gợi ý quan trọng cho chúng tôi trong bài viết này.
2. Thơ là phần tâm huyết nhất của con người nghệ sĩ trong Edgar Poe. Thơ là “tiếng lòng” là “cung đàn muôn điệ” của hồn ông, là của thế giới riêng ông. Edgar Poe làm thơ khi còn đi học và in tập thơ đầu tiên năm ông 18 tuổi - Temerlan và những bài thơ khác (Temerlane and other Poems, 1827). Những bài thơ nổi tiếng của Edgar Poe: Gửi Helen (To Helen), Gửi mẹ (To My Mother), Cơ đơn (Alone), Những cái chuông (The Bells), Con quạ (The Raven), Annabel Lee, Thành phố trong biển cả (The city of in the sea)... Thơ của Edgar Poe bi thảm và tượng trưng, nổi bật bởi âm thanh và nhịp điệu. Với trí tưởng tượng phong phú và có phần kinh dị, ông đã soi rọi vào những khía cạnh sâu kín của tâm hồn, những cái “bất định, ốm yếu và độc ác trong con người”. Edgar Poe chỉ quan tâm tới một nghệ thuật thi ca toàn mỹ, và bắt đầu của thơ là sự tạo thành nhịp điệu đẹp” (2) chứ không phải là tư tưởng”. Vì thế mà thơ ông không hề đề cập đến những vấn đề xã hội, giáo dục với những triết lý giáo huấn, điều mà người đọc vẫn gặp trong các tác phẩm của các nhà văn Mỹ ở thời kỳ này.
Các nhà thơ hiện đại Pháp như Baudelaire, Valéry, Mal1armé... đã ngợi ca Edgar Poe là một thiên tài. Valéry quả quyết rằng Edgar Poe là một người sáng suốt nhất trong các nhà lý luận đương thời khi bàn về nghệ thuật thơ ca. Baudelaire lại đánh giá Edgar Poe là “nhà văn ưu tú nhất” và có “phong cách độc đáo một cách kỳ lạ”. Khi nhận xét về mối quan hệ giữa Edgar Poe và thơ ca hiện đại Pháp, sách “Lược sử các nền văn chương'' viết: “Không có gì ngạc nhiên khi thấy Edgar Poe đã ảnh hưởng đến Baudelaire và Mal1armé, những người đã dịch tác phẩm của ông... Ông xứng đáng là nhà văn Mỹ đầu tiên có tầm cỡ thế giới”(3). Họ, những nhà tượng trưng Pháp đã nhìn thấy ở trong thơ (và cả truyện ngắn) của Edgar Poe cái mỹ cảm sâu thẳm và cái ảo giác bị che khuất bởi cái thế giới hiện tồn.
Tác động của Edgar Poe đối với Baudelaire và các tượng trưng Pháp trước hết là ý thức về một nền văn học mới gắn với khái niệm “tính hiện đại”. Đây là ý thức thẩm mỹ về thế giới hiện đại, về thì hiện tại của tồn tại. Việc xuất hiện, hình thành những phẩm chất của tư duy thơ hiện đại là “sự phá bỏ mọi hình thức chết cứng ngăn cản sự tiến hóa của nghệ thuật, của những tình cảm, của những tư tưởng, của những phong tục”(4). Gắn bó với Edgar Poe, Baudelaire đã “cắt đứt với truyền thống những lời cầu kỳ hoa mỹ dài dòng của chủ nghĩa lãng mạn”(5). Đó chính là kết quả của sự gặp gỡ, sự tương giao mà K.Van Spenckeren đã nhận xét: “Sự hòa quyện giữa cái suy đồi và cái lãng mạn tinh chất của Edgar Poe có sức lôi cuốn mãnh liệt tới châu Âu, đặc biệt tới các nhà thơ Pháp....”(6). Công trình “suy luận về kết cấu” của Edgar Poe đã đưa đến cho họ một nhận thức mới về tính thơ để định hướng cho sự sáng tạo. Đặc trưng đích thực của thơ là tượng trưng, cho nên không phải nhà thơ sáng tạo ra một thế giới giả mà khám phá ra một “siêu hiện thực” trong thế giới, đem lại cho tinh thần một sức mạnh đặc biệt khả dĩ nhìn thế giới không phải ở chỗ nó hiện ra, mà ở chỗ nó khải thị, tỏ lộ ra bằng những loại suy bất ngờ giữa những cảm giác và trong sự tương hợp sâu hơn nữa giữa cái cảm tính và cái tinh thần”(7). Nếu thơ lãng mạn biểu hiện chủ yếu bằng hình tượng, hình ảnh tương phản thì thơ tượng trưng biểu hiện mối quan hệ bên trong giữa con người, sự vật với cái vô tận trong sự tương hợp. Chẳng hạn, tương hợp về ý niệm: hư - thực, về cảm giác: giá lạnh - tuyệt vọng, về tâm trạng: cô đơn - sự lãng quên, về màu sắc: xanh xao - trắng xanh, về không gian: ngang dọc - vô tận, về màu vị: xanh ngọt - vàng thơm, về cảm thức: ánh sáng - bóng tối, về liên tưởng: cái đẹp - người chết, về tu từ: âm thanh - nhịp điệu. Đó là mỹ học của chủ nghĩa tượng trưng Pháp, đã thấm sâu trong thơ hiện đại trên khắp thế giới. Và, đến Việt Nam, đến Bích Khê sự tương hợp đã chuyển vào quan hệ loại hình - giữa thơ với các hình thức nghệ thuật khác: thơ - nhạc, thơ - họa, thơ - điêu khắc, thơ vũ đạo, thơ - nhiếp ảnh.
3. Ảnh hưởng là một quy luật phổ biến trong giao lưu văn hóa. Trong văn học việc tiếp nhận và tiếp biến những yếu tố bên ngoài là điều không thể thiếu để phát triển. Tuy vậy, quá trình tiếp nhận này là hết sức phức tạp. Một nhà văn lớn bao giờ cũng có những ảnh hưởng đến các nhà văn khác, nhưng mức độ cũng khác nhau. Có người chịu ảnh hưởng trực tiếp, có người chịu ảnh hưởng gián tiếp. Ngay ảnh hưởng gián tiếp có khi cũng trải qua mấy lần khúc xạ. Trong bài “Văn học so sánh và - vấn đề tiếp nhận văn học”, Viện sĩ Hoàng Trinh đã nêu ra hai trường hợp tiếp nhận trong sáng tác văn học: “Một quan hệ song phương không cân đối” và “Một quan hệ song phương tương đối cân đối”(8). Ở trường hợp thứ nhất sự tiếp nhận chỉ thuần túy là một ý tưởng nào đó được gợi đến. Ở trường hợp thứ hai, đối tượng được tiếp nhận là một nhà văn có ảnh hưởng sâu rộng và chủ thể tiếp nhận qua sự khai thác các giá trị đã tạo ra những giá trị mới, “cả hai phía phát ra và tiếp nhận trong các hoàn cảnh khác nhau đều có vai trò sáng tạo và sản sinh rất quan trọng của mình”. Theo chúng tôi, những tác động của Edgar Poe đối với Bích Khê thuộc trường hợp thứ hai.
Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh - Hoài Chân viết: Trái hẳn với lối thơ tả chân có lối thơ Hàn Mặc Tử - Chế Lan Viên. Cả hai đều chịu rất nặng ảnh hưởng của Baudelaire, và qua Baudelaire, ảnh hưởng nhà văn Mỹ Edgar Poe, tác giả tập Chuyện lạ. Có khác chăng là Chế Lan Viên đã đi từ Baudelaire, Edgar Poe đến thơ Đường, mà Hàn Mặc Tử đã đi ngược lại từ thơ Đường đến Baudelaire, Edgar Poe và đi thêm một đoạn nữa cho gặp Thánh Kinh của đạo Thiên Chúa. Cả hai đều cai trị Trường thơ Loạn và đã chiêu tập một số đồ đệ là Hoàng Diệp, Quỳnh Dao, Xuân Khai (tức Yến Lan nhưng không phải Yến Lan vì tiêu biểu cho một lối thơ khác). Tôi vừa nói đến Chế Lan Viên đi về thơ Đường. Nếu nói đi tới thơ tượng trưng Pháp có lẽ đúng hơn, tuy hai lối thơ có chỗ giống nhau. Điều ấy, thấy rõ ở tác phẩm một người rất gần Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử: Bích Khê”(9). Qua cách diễn đạt của Hoài Thanh - Hoài Chân về ảnh hường của Edgar Poe đối với Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên cùng những người trong “trường thơ loạn”, mà điểm đọng cuối cùng của nhận định là Bích Khê, ta có thể diễn giải mối quan hệ giữa Edgar Poe với Bích Khê như sau: Theo dụng ý của đoạn trích, ảnh hưởng của Edgar Poe đến Hàn Mặc Tử là ảnh hưởng gián tiếp, thông qua Baudelaire; ảnh hưởng của Edgar Poe đến với Chế Lan Viên là ảnh hưởng trực tiếp; còn đối với Bích Khê vừa trực tiếp vừa gián tiếp - thông qua các nhà thơ tượng trưng Pháp. Để hiểu rõ hơn về ý này, chúng ta có thể tham khảo thêm nhận xét của Chế Lan Viên: “... để làm các duy tân trên, Khê đã húc đầu vào nhiều cánh cửa, vái đủ tứ phương, áp dụng các thuyết của Valéry, Rimbaud, Mallarmé, Poe, Baudelaire và của vị “thiền sư công giáo” là Henry Brémond nữa”(10).
4. Sự gặp gỡ với Edgar Poe, với chủ nghĩa tượng trưng Pháp là con đường giao hòa để thăng hoa trong đời thơ Bích Khê. Chế Lan Viên quan niệm: “...Quả măng cụt của Khê, ta biết đấy là quả lựu của Valéry, Valéry hóa thân, con quạ trên mồ Khê là con quạ của Edgar Poe, của thơ Mallarmé bay đến, da thịt, rồi xác thịt, rồi xác chết trong anh, nguyên là của Baudelaire... Những nhà thơ ít rạch ròi trong các vụ việc này, họ vay mượn nhau, giật tạm nhau là thường, vốn cùng gia đình, cùng bộ tộc. Vấn đề là vay mượn thế rồi có ăn nên làm ra không, có gây được vốn liếng gì của mình cho mình không, có thêm lãi thêm lời hay lại làm ăn cụt vốn! Phải nói ngay Khê không phải là kẻ ăn theo, anh đã từ đường băng của thầy, của bạn mà cất cánh bay lên, bay sự nghiệp đường bay đẹp. Anh nhờ các thầy Tây phương đánh thức bản năng, trí tuệ mà anh vốn có, nhờ các thầy cho những phương thức tìm hiểu sự vật, và tương quan giữa các sự vật đã có sẵn đấy rồi...”. Nhưng đây mới chỉ là cái “nền”, còn cái “gốc”, và Chế Lan Viên đã chỉ ra cái gốc ấy trong thơ Bích Khê: “Và chính nhờ các sức mạnh tiềm tàng của Đông phương chưa ai hiểu hết, kế cả các thầy Tây, nhờ Khê quá nửa đời người, quá nửa tâm hồn thân thể đắm mình trong Đông phương, trong dân tộc ấy, mà Khê đã tìm ra cái mới”(11).
Bích Khê cũng như Hàn Mặc Tử, trước khi đến với Thơ Mới đã làm thơ cũ. Với thơ Đường, Hàn Mặc Tử có Lệ Thanh thi tập, còn Bích Khê thì có Mấy dòng thơ cũ. Ở thơ cũ, dẫu cả hai người đều có vài bài hay, vài câu hay, nhưng cũng chẳng để đời được và sớm muộn cũng chìm trong biển thơ Đường bao nhiêu người qua bao đời đã đổ tràn. Đến với Thơ Mới, Bích Khê có Tinh Huyết, Tinh Hoa - những kiệt tác trong nền thơ hiện đại. Cùng với Đau thương của Hàn Mặc Tử, Điêu tàn của Chế Lan Viên, thơ mới của Bích Khê đã tạo ra một dòng mới trong thơ Việt Nam.
Bích Khê đến với thơ mới sau Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử tiếp cận với chủ nghĩa tượng trưng vào những năm 36-37, thời gian ông sinh hoạt với nhóm thơ Bình Định. Hàn Mặc Tử đã nghiên cứu rất kỹ về các nhà thơ tượng trưng Pháp, đặc biệt là Baudelaire, và ông đã tìm thấy ở họ một kiểu mẫu cho mình: “thơ văn không thể dung hòa với khoa học và lý luận (hoặc tôn giáo cũng thế) và thơ văn không thể lấy chân lý làm chủ đích được, thơ chỉ là thơ” (Quan niệm thơ). Quan niệm nghệ thuật của Hàn Mặc Tử đã được Bích Khê hưởng ứng, và hơn thế, nó thấm sâu vào tư duy nghệ thuật Bích Khê. Quách Tấn đã nhận xét: “Bích Khê đã chịu ảnh hưởng bởi những nhà thơ nào? ở ngoài thì Khê chịu ảnh hưởng của Baudelaire và Valéry là hai thi hào của Pháp, như Hàn Mặc Tử đã nói rõ trong bài tựa. Còn ở trong nước thì Khê chịu ảnh hưởng Hàn Mặc Tử (phần lớn) và Chế Lan Viên (phần nhỏ)”(l2). Như vậy, xét theo trục lịch đại của tiến trình thơ ca hiện đại, chúng ta thấy Baudelaire và các nhà thơ Pháp nhờ biết tìm thấy từ Edgar Poe - người đi trước - những ý tưởng, những gợi ý, mà trở nên lớn lao hơn. Đến lượt Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê... lại tìm thấy cho mình những kinh nghiệm nghệ thuật từ Baudelaire và các nhà thơ Pháp. Đó là sự tiếp nhận những tinh hoa nghệ thuật theo quan niệm kế thừa của nhân loại, và sự kế thừa này lại được hấp thu vào trong thế giới nghệ thuật của mỗi nhà thơ cũng rất khác nhau, tạo nên sự không lặp lại sự độc đáo và riêng biệt của mỗi người.
Cũng như Edgar Poe, Baudelaire và cả Hàn Mặc Tử, Bích Khê đã mở ra một cách nhìn và cảm nhận riêng ở những con người có hoàn cảnh không bình thường. Ở họ, cái đau khổ thể xác và cái đau tâm hồn cài vào nhau, giằng xé cuộc đời, để từ đó trào ra những luồng thơ. Bích Khê viết: ,
Là hiện thân của bệnh
Quằn quại đau xót xa
Máu mủ nhìn không ra
Gió phương phi, phương phi!
Là hình thơ tinh vi
Là hình thơ quy y
Mướt trong màu tuyết vẽ...
(Hàn Mặc Tử )
Thơ Edgar Poe, Baudelaire, Hàn Mặc Tử và Bích Khê đều bị ám ảnh bởi một thế giới siêu thoát, kinh dị, đầy chết chóc, lạnh lẽo với máu mủ, xương thịt, nước mắt, giá băng... Đó là thế giới của những nỗi đau khắc khoải khôn nguôi, nơi con người đánh mất đi niềm vui sống mà bệnh tật và cô đơn đã gặm nhấm xác thịt và tâm hồn từ thuở còn thanh xuân. Đó là thế giới đã bị vỡ ra thành muôn mảnh mà không bao giờ còn ghép lại được. Tâm trạng này cũng là hệ quả của sự đổ vỡ đi đến hoài nghi và phủ nhận đối với lý trí trong văn học phương Tây. Từ giữa thế kỷ XIX thơ đã xác lập vị thế của mình trong hệ thống tư duy bất thuận lý, chống lại những quan niệm về kiến thức phổ quát và tìm đến một thế giới bí ẩn siêu hình chỉ có thể lĩnh hội bằng mặc khải và thần cảm. Đây là những ví dụ về sự gần gũi trong tư duy thơ của họ:
Edgar Poe: Và quạ không hề bay đi, vẫn đứng đó, vẫn đứng đó
Trên bức tượng thần Pallas trắng mờ, ngay trên cửa phòng
Và mắt nó chứa dáng điệu mắt quỷ đang mơ
Ánh sáng đèn trên cao tỏa xuống bóng quạ trên nền
Và hồn tôi thoát từ bóng nó nằm trôi nổi
Không thể cất lên – “Không bao giờ nữa”
Baudelaire: Đã trùm lên tim óc của ta
Một tấm vải liệm, bốc hơi và nấm mồ mờ ảo.
Trên cánh đồng gió lạnh mênh mông
Mà những đêm dài cái chong chóng quay rên rỉ
Hồn ta tốt hơn lúc chuyển mùa ấm áp
Sẽ mở rộng đôi cánh của con quạ.
(Mù và mưa - Vũ Đình Liên dịch)
Bích Khê: Gió tiêu sẽ quạt buồn thanh tịnh
Về chốn thôn gia viếng mả tôi
Đầy cỏ xanh xao mây lớp phủ
Trên mồ con quạ đứng im hơi.
(Nấm mộ)
Con quạ là hình ảnh tượng trưng, hạt nhân cấu tứ của ba khổ thơ trên. Con quạ là thông điệp chuyển nghĩa và tâm trạng của chủ thể trữ tình - nhà thơ, đồng thời cũng được “tâm trạng hóa” theo đúng cảm xúc của chủ thể trữ tình - nhà thơ. Hình ảnh con quạ tương ứng với định mệnh về thân kiếp con người tuyệt vọng và bất lực trước cái chết. Tư tưởng này thực chất không có gì mới, nó đã được nói ra từ thời cổ đại, trong bi kịch Hy Lạp, trong các triết thuyết Trung Hoa trước Công nguyên, trong sử thi Ấn Độ... Nhưng điều quan trọng và có tính quyết định ở đây - trong thơ Edgar Poe, Baudelaire và Bích Khê - là cách viết ra, cách diễn đạt bằng ngôn từ, nó không chỉ phù hợp với tâm thức, tâm tính con người hiện đại, mà còn tác động đến sự nhận biết của họ - qua ngôn từ nghệ thuật. Martin Heidegger, nhà triết học lớn của châu Âu, người sáng lập ra chủ nghĩa hiện sinh, đã luận giải rất chính xác sự nhập thể từ tư tưởng triết học vào ngôn từ thơ ca qua phạm trù chính của triết học và thơ ca là tính thời gian: “Theo ông, cái tồn tại chủ quan của con người được hình thành từ các hình thức tiên thiên của cá nhân con người. Để thoát được âu lo và tìm được ý nghĩa của tồn tại, con người cần phải thường xuyên ý thức về cái hữu hạn, về cái chết”(l3). Từ đó, Martin Heidegger đã đề cao ngôn ngữ thơ, với khả năng diễn đạt sự nhận biết về cái vô cùng vô tận: “Theo ông, đặc trưng cơ bản của tác phẩm nghệ thuật là ở chân lý tồn tại có trong nó. Chân lý này, không có nghĩa là sự phản ánh thỏa đáng hiện thực khách quan, mà là sự đối lập giữa Thế giới và Trái đất, giữa sự mở ra và sự che giấu. ông cho rằng ngôn ngữ là sự kiện có đẳng cấp cao nhất của sự tồn tại của con người, vì vậy nghệ thuật có đẳng cấp cao nhất đối với ông là Thơ. Tác phẩm thơ không phải là cái gì khác ngoài sự tạo ra một ngôn ngữ mới”(14).
Đọc thơ Bích Khê không thể cảm nhận, phân tích, bình phẩm, đánh giá theo những quy chuẩn thông thường. Chẳng hạn, ở các câu thơ: “Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng”, “Vàng sao nằm im trên hoa gầy” , “Vàng rơi! Vàng rơi! thu mênh mông”, “Ô, nắng vàng thơm lung linh điệu ngọc”, “Vàng phai nằm im ôm non gầy”/ “Ngọc trắng xây vàng trên muôn cành”, “Vỗ sóng vàng mơ động mái lầu”, “Đôi cụm sao vàng lớt đớt bông”, “Lúc trong ngâm, giữa kho vàng mộng tưởng”, “Nhạc vàng đâu bay lại”, “Vàng sao ngời mắt rạng”, “Muốn thổi tiêu vàng giữa khói sương”..., ta thấy từ vẫn là những từ ta đã biết- vàng- ta đã phát âm bao lần, nhưng trong thơ Bích Khê lại thấy lạ vô cùng, biến hóa vô cùng!
Thơ Bích Khê là tiếng nói “siêu nghĩa”, các từ được dùng trong cấu trúc thơ và bài thơ bao giờ cũng tương ứng với tâm trạng, có sức biểu hiện cao độ, từ nghĩa một từ có thể gợi nên nghĩa của những từ khác. Đó là một thế giới ngôn từ nghệ thuật huyền diệu, “nhìn vào sự thực thì thấy chiêm bao, nhìn vào chiêm bao thì lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu” (Hàn Mặc Tử - tựa Tinh huyết). Chính Hoài Thanh lúc bấy giờ cũng đã hết sức thận trọng khi bình thơ Bích Khê: “... Nhưng tôi chưa thể nói nhiều về Bích Khê. Tôi đã đọc không biết mấy chục lần bài Duy Tân. Tôi thấy trong đó những câu thật đẹp. Nhưng tôi không dám chắc bài thơ đã nói hết cùng tôi những nỗi niềm riêng của nó. Hình như vẫn còn gì nữa... Còn các bài khác hoặc chưa xem, hoặc mới đọc có đôi ba lần. Mà thơ Bích Khê, đọc đôi ba lần thì cũng như chưa đọc”(15).
Văn học là một quá trình, một quá trình xếp lớp, gối lên nhau, được kiến tạo không phải bởi những giá trị lịch sử, những giá trị đạo đức..., mà bởi những giá trị nghệ thuật được sáng tạo nhờ những tài năng. Bích Khê là một trong những tài năng hàng đầu của nền thơ ca Việt Nam hiện đại, bên cạnh Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận... Rời bỏ bến bờ cũ, Bích Khê và những người cùng thế hệ với ông đi tìm những dòng chảy mới. Chính nhờ sự gặp gỡ với Edgar Poe, Baudelaire và những nhà thơ hiện đại Pháp đã giúp Bích Khê định hình một kiểu tư duy thơ, để trên cơ sở đó đã làm được một cuộc cách mạng ngôn từ trong thơ tiếng Việt, và làm phong phú thêm cho thơ ca thế giới. Bởi, thơ là tiếng của các dân tộc hòa tụ lại!
Nguồn:
- Tham luận tại Hội thảo “Bích Khê và thơ Bích Khê” nhân 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 20-22/2/2006
- In trong cuốn “Bích Khê, Tinh hoa, tinh huyết”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008
Chú thích
(1) Phạm Quỳnh. Luận giải văn học và triết học. Nxb Văn hóa thông tin, H.2003, tr.381.
(2) Ann Carol. The Beginnings of American Literature, The Macmillan Company, New York, 1961, p.111
(3) Pierre Gioan (chủ biên). Lược sử các nền văn chương, tập V. Libraire Aristite, Paris, 1961, tr. 108.
(4) Trần Thị Mai Nhi. Văn học hiện đại – Văn học Việt Nam, giao lưu, gặp gỡ. Nxb Văn học, H, 1994, tr. 21.
(5) Đặng Thị hạnh. Văn học Pháp thế kỷ XIX. Nxb ngoại văn H, 1990, tr. 299
(6) K. Van Spenckeren. Outline of American Literature. Published by the United States Information Agency, 1994, p. 42.
(7) Trần Thị Mai Nhi. Sđđ, tr. 6
(8) Hoàng Trinh. Văn học so sánh và vấn đề nhận văn học. tạp chí Văn học, số 4, 1980.
(9) Hoài Thanh – Hoài Chân. Thi nhân Việt Nam 9tais bản). Nxb Văn học, H, 1988, tr. 36,37.
(10) Chế Lan Viên, Thơ Bích Khê (trong tập Thơ Bích Khê). Sở VH & TT Nghĩa Bình, 1988, tr. 17.
(11) Chế Lan Viên. Sđđ, tr. 12, 13.
(12) Quách tấn, Đời thơ Bích Khê (trong tập Thơ Bích Khê), tr. 124
(13), (14) Trương Đăng Dung. Lời giới thiệu “Trên đường đến với ngôn ngữ” của M. Heidegger (trong sách Tác phẩm văn học như là quá trình). Nxb KHXH, H, 2004, tr. 299, 230.
(15) Hoài Thanh - Hoài Chân. Sđd, tr. 232.
MẤY CẢM XÚC VỀ BÍCH KHÊ VÀ THƠ BÍCH KHÊ
Trần Hoài Hà
Xin được nói ngay rằng, tôi chỉ là một bạn đọc, đã từng nghe, từng đọc thơ Bích Khê trước khi có cuộc hội thơ này. Bằng chứng mới đây nhất là năm 1999, khi được biệt phái đi cùng Đoàn làm phim của Hội Nhà văn Việt Nam thực hiện bộ phim về cuộc đời và sự nghiệp của một nhà thơ lão thành Quảng Ngãi: Cụ Nguyễn Viết Lãm nhân dịp cụ thượng thọ 80 tuổi. Một trong những địa chỉ mà chúng tôi tìm đến trong đề tài ấy là quê hương Thu Xà và mộ của Bích Khê. Tôi đã đứng như “thiền” trước ngôi mộ đầy vẻ siêu thoát ấy và mạo muội “múa rìu qua mắt thơ” cảm tác mấy dòng thơ. Sau đó tôi đã đọc cho cụ Lãm và nhà thơ Trần Nhương nghe. Cụ Lãm bảo: Nghe thơ cậu, nghĩ đến Bích Khê, mình thấy rờn rợn tận xương sống. Riêng tôi, tôi rất tâm đắc về bài thơ “xuất thần” ấy. Bài thơ có tên: Thơ đề nhân viếng mộ Bích Khê:
Như có hồn ai trên ngọn tre
Rả rích khúc buồn trong tiếng ve.
Tình sử trăm năm đầy hơi hám
Thế sự một ngày cũng máu me
Một nắm xương Rồng mù gió cát
Mâý vần tuyệt mệnh lạnh cõi Mê
Màu bỗng chuyển sang màu huyết dụ
Hồn chợt hóa thành hồn Bích Khê
Điều khiến người ta chú ý nhất và cũng là cái cớ để họ dựa vào đó mà bàn luận, mà suy diễn về Bích Khê và thơ Bích Khê có lẽ bắt nguồn từ hai chữ “tinh” trong hai tập thơ “Tinh huyết” và “Tinh hoa” với gần 50 bài thơ dài ngắn khác nhau. Chữ “Tinh” theo cách hiểu thông thường thì đó là “sự nguyên chất”, là sự thuần khiết, là cái tinh túy, hay nói theo lối dân gian là “vàng ròng”. Tôi chưa tìm thấy ở đâu Bích Khê đã tự nhận thơ mình đã là “tinh” mà điều Bích Khê khiến ta cảm nhận rõ hơn là ông đang trên đường đi tìm với một khát vọng cháy bỏng là muốn vươn tới cái “tinh” ấy. Trong cuộc hành trình tìm kiếm để vươn tới đó, Bích Khê đã huy động cả tiềm thức cá nhân, lục lọi cả trong triết học Phương Đông, Phương Tây, cả trong Phật giáo và đặc biệt là trong nền văn học Pháp đã ập vào các trường mà ông đang học ở Huế, ở Hà Nội với những chủ nghĩa, những trường phái rất mới, rất lạ với thi đàn đương thời của Việt Nam.
Tham vọng của Bích Khê là cho những thứ ấy vào luyện trong cái “Lò bát quái” trong sức nóng ngàn độ của tư tưởng “duy tân” của ông để tìm ra một sản phẩm gì đó mà trong thi đàn Việt Nam không có hoặc chưa có. Sản phẩm ấy Bích Khê định đặt tên là “tinh”. Đó là mong muốn, là khát vọng. Còn việc Bích Khê có tìm ra, có vươn tới được cái “tinh” ấy hay không hoặc chỉ tìm thấy một thứ “Đầu Ngô, mình... Lu-“ thì lại là một việc khác. Điều người ta đọc có thể tìm được tiếng nói chung khi đọc thơ Bích Khê là đây đó trong thơ ông đã điểm xuyết một lối biểu đạt mới và hơn thế là “lạ”. Tuy nhiên, cái “mới”, cái “lạ” không đồng nhất với cái “tốt”, cái “đúng”, cái “hay”.
Cuối thế kỷ 19, một số nhà thơ Pháp vốn trước từng say mê với các trường phái Lãng mạn, Thi Sơn thì bây giờ quay ra chê bai, phỉ báng thậm chí nguyền rủa, công kích nó và đề xướng, tô vẽ và tôn thờ một phương pháp mà họ cho là “mới”, là “lạ”. Đó chính là chủ nghĩa tượng trưng. Đó là những Bôđơle (Baudelaire), Véclen (Verlaine), Malácmê (Mallarme), Rimbô (Rimbaud)... Mục tiêu của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ ca là hướng vào khai thác thế giới nội tâm. Bôđơle tự đặt yêu cầu cho thơ ông là phải “nghe” được hương thơm, “ngửi” được màu sắc và “thấy” được âm thanh. Thơ tượng trưng triệt để sử dụng phương pháp “gợi mở”. Họ chủ trương: Không cho độc giả đọc đến đâu hiểu ngay đến đó, mà phải vừa đọc, vừa đoán. Họ quan niệm: Thơ là một cái gì đó vừa huyền diệu, vừa cao cả, vừa tinh túy nên thơ phải vượt ra ngoài cái thông thường, cái tầm thường. Malácmê nói: Điều kiêng kị nhất của thơ là diễn tả đúng thực tại. Thơ không cần sự rõ ràng, sự tách bạch. Thơ là mờ ảo, là tinh khiết, là lan tỏa. Điếu thuốc là thực tại - khói thuốc là thơ. Thơ tượng trưng còn coi yếu tố nhạc, yếu tố họa là phương tiện chuyển tải hiệu quả nhất cho các ý tưởng siêu hình.
Trong thơ văn Việt Nam, thật ra phương pháp tượng trưng không phải mới. Nó đã từng xuất hiện từ khá sớm trong ca dao, trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, ví như:
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn Hồng đã có ai vào hay chưa
(Ca dao)
Hoặc :
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
(Kiều)
Tuy nhiên, sau hơn 80 năm đô hộ, cùng với đội quân xâm lược, các trường phái thơ Pháp cũng tràn vào Việt Nam, ít nhiều gây những tác động đến một số trí thức trẻ trong đó có Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đinh Hùng... Tuy nhiên, lâu nay, vì nhiều lý do khác nhau, và trong những bối cảnh khác nhau, giới phê bình văn học hoặc đã quá dễ dãi, hoặc là quá khắt khe với một số tác giả, một số tác phẩm. Cả hai thái cực đó đều dẫn đến những nhìn nhận sai lệch về giá trị thực ở một số tác giả, tác phẩm. Chúng ta rất trân trọng khát vọng tìm kiếm và khám phá của Bích Khê và quả thật trong cuộc tìm kiếm và khám phá ấy, Bích Khê đã có được một số thành quả. Hãy chiêm ngưỡng màu sắc, hãy lắng tai nghe nhạc điệu, hãy tĩnh tâm mà rung động cùng Bích Khê trước một mùa thu tuyệt vời:
Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.
Quả là Bích Khê cố để “nghe” được tiếng của sự câm lặng, “thấy” được, “vẽ” được đường nét của cái vô hình, “cảm” được cái động trong cái tĩnh:
Nắng lên vú núm đồi
Sữa trăng nhi nhỉ giọt
(Xuân tượng trưng)
“mới” và “lạ” cả trong hình ảnh, âm thanh, cả trong lối cắt câu, ngắt nhịp :
Thoảng tiếng gáy của cu
Cườm. Hiu hắt vàng đượm...
… Chỉ một ngày nữa thôi. Em sẽ
Trở về. Nắng sáng cũng mong cây.
Tuy nhiên, cái “mới” và cái “lạ” cũng chỉ mới là những nét điểm xuyến trong toàn bộ bức tranh thơ của Bích Khê. Ngoài nó, ta vẫn thấy ở đây đầy ắp những bài thơ, những câu thơ im đậm dấu vết của phương pháp lãng mạn và phương pháp tả thực, những thứ mà chủ nghĩa tượng trưng không tiếc lời chê bai:
Ngoài li Lý Bạch trời như mộng
Sau khói phù dung mộng cố hương
(Mộng Hồ Xuân Hương)
Người em rày mệt quá
Mà nay gặp cố tri
Hai tay đây ra rả
Dìu lấy cùng nhau đi
(Hàn Mặc Tử)
Tiếng xe rủng rảng sau bờ trúc
Bóng vợ bồng con lẫn bóng cây...
Thế nên, một số người đã vội đưa Bích Khê vào danh sách những nhà thơ tượng trưng hàng đầu như một Bôđơle, một Véclen... của Việt Nam là chưa thỏa đáng. Trên thực tế, trường phái thơ tượng trưng của Pháp bằng số lượng tác phẩm đồ sộ, bằng hệ thống lý luận chặt chẽ đã tạo nên những chấn động lớn trên thi đàn nước Pháp, góp phần làm sản sinh chủ nghĩa siêu thực sau này. Xét như vậy, yếu tố tượng trưng trong thi đàn Việt Nam, trong thơ Bích Khê tác dụng vẫn còn khiêm tốn lắm, thậm chí có những ý tưởng còn xa lạ với bạn đọc Việt Nam. Có thể coi Bích Khê là một trong những nhà thơ Việt Nam đầu tiên đã bước đầu phát hiện và đưa yếu tố tượng trưng với tư cách là một phương pháp sáng tác vào thi đàn Việt Nam. Cái được và cái chưa được của Bích Khê đều nằm trên chặng đường ngắn ngủi của cuộc hành trình đầy nhiệt huyết và nhiều trắc trở ấy.
Có điều lạ là cũng như các nhà thơ tượng trưng bậc thầy, Bích Khê luôn kết tội những “Dặm mòn”, luôn cổ xúy cho “Duy tân” nhưng gần như ta không tìm thấy nơi đâu trong thơ Bích Khê những “cảm” về một “cơn trở dạ” hệ trọng của cả một đất nước, một dân tộc trong suốt một thời kỳ sôi sục cách mạng 1930 - 1945 mà Quảng Ngãi là một trong những nơi nóng nhất. Nếu hiện thực ấy là điếu thuốc thì khói thuốc trong thơ Bích Khê là đâu? Suy cho cùng, cách mạng cũng là sự đổi mới, là sự duy tân, rất hợp gu để thơ tượng trưng thể hiện cơ mà! Thơ Bích Khê chỉ mới nằm gọn trong quỹ đạo của một con tim cụ thể trước tình yêu và những vẻ đẹp gần như bất biến của trời đất. Chính vì vậy, so với những nhà thơ cùng thời, thơ Bích Khê khó đến với đông đảo công chúng mà nhiều hơn là trở thành một món thưởng thức cao cấp của một số trí thức cùng tâm trạng hoặc cùng cảnh ngộ. Thời ấy, ở nước ta, người biết làm thơ, nhất là người biết làm thơ mới theo chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ rất ít. 95% dân ta mù chữ - chữ còn không biết thì nói gì đến đọc thơ, làm thơ. Thế nên, có một người biết làm thơ thời ấy, biết tìm tòi thơ thời ấy như Bích Khê là đáng quí lắm rồi song cũng không vì thế mà ta vội cho đó là khuôn mẫu, là tuyệt đỉnh. Ngày nay, đất nước ta đã xóa xong nạn mù chữ, đang phổ cập cấp 2, tiến đến phổ cập cấp 3, chắc chắn người đọc thơ sẽ nhiều hơn và nhất định sẽ có những đánh giá chuẩn xác hơn về những gì mà thơ Bích Khê đã đem lại cho thơ Việt Nam, cho tâm hồn Việt Nam. Nhà thơ Chế Lan Viên có nói: Trong Hồ lô của Bích Khê đã có những “tinh giống” mới. Chúng ta rất khát khao điều ấy, song cũng mong muốn trong đó không có những loại giống đại loại như ốc bươn vàng, như loài cá ăn thịt hung hãn ở rùng Amazôn. Một số bạn làm thơ trẻ bây giờ cũng có những người hoặc muốn chơi trội, hoặc muốn “có danh gì với... thơ ca” đã “đẻ” ra những bài thơ “Đầu Ngô, mình... Lu-I” không ai hiểu nổi.
Về “Nghi án Bích Khê”
Khi hỏi những người thuộc thế hệ trước chúng tôi, một số người biết Bích Khê và cho Bích Khê là một phần tử “Tờ-rốt-kít”. (Tờ-rốt-kít là một tổ chức những người đội lốt cộng sản, mang nặng chủ nghĩa dân tộc, chống lại Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích Nga sau CM tháng 10-1917). Khi hỏi bằng chứng thì mọi người đều bảo, ông Bùi Định đã viết trong “Tìm hiểu phong trào yêu nước chống Pháp ở Quảng Ngãi” rằng: “Từ năm 1935, ở Quảng Ngãi có nhóm Tờ-rốt-kít ở vùng Thu Xà do Lê Quang Lương (Bích Khê) cầm đầu”. Vì có chút duyên nợ với thơ, tôi đã tìm đọc thơ Bích Khê, tìm hiểu về cuộc đời của nhà thơ tiền bối nầy nhất là khi đọc bài “Người em: Bích Khê” của bà Ngọc Sương (chị ruột của tác giả) thì thấy Bích Khê ngoài niềm đam mê thơ, gần như có một cuộc sống hoàn toàn thoát tục, không quan tâm gì đến những hiện thực trần trụi trong cuộc sống. Việc ông Bùi Định cho Bích Khê hoạt động trong tổ chức phản động Tờ-rốt-kít hình như rất xa lạ với phong cách sống vừa nhút nhát, vừa phớt đời của Bích Khê. Chi tiết thứ hai khiến tôi cũng rất ngạc nhiên là chi tiết bà Ngọc Sương kể lại - Trong những ngày Bích Khê đã linh cảm thấy cái chết thì cách mạng tháng Tám thành công. Bích Khê đòi khiêng giường ra cửa để nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng. Phải chăng, vì muốn minh oan cho em, bà Ngọc Sương đã đưa chi tiết ấy để chứng tỏ Bích Khê không những không phải là phản động mà còn là người yêu cách mạng nữa là đằng khác.
Qua tìm hiểu cuộc đời Bích Khê, qua đọc và tìm hiểu thơ Bích Khê tôi cho rằng, Bích Khê không phải là một phần tử phản động, không phải là một nhà cách mạng vô sản. Đơn giản, Bích Khê chỉ là một nhà thơ - sống cho thơ và chết cũng vì thơ.
Chiếc “vòng kim cô” của ông Bùi Định trong thực tế đã giam hãm Bích Khê và thơ Bích Khê hơn nửa thế kỷ qua. Nếu không tìm ra những căn cứ mới, có sức thuyết phục thì quả đó là một oan khuất và oan khuất nào cũng gây ra bi kịch. Kết thúc bài viết này, bằng cả tấm lòng của một người có duyên nợ với thơ, một bạn đọc của thơ Bích Khê, tôi thiết tha mong muốn: Đã đến lúc hãy trả cho Bích Khê những gì là của Bích Khê.
Nguồn:
- Tham luận tại Hội thảo “Bích Khê và thơ Bích Khê” nhân 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 20-22/2/2006
- In trong cuốn “Bích Khê, Tinh hoa, tinh huyết”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008
VÌ SAO SỚM TẮT
Trịnh Hoàng Mai
Những tờ thơ nát đầy hơi hám...
Tay khách đa tình sẽ chuyền trao
(Bích Khê)
Cũng như Hàn Mặc Tử (1912 - 1940), Bích Khê mắc phải chứng bệnh nan y. Tử bị phong, Khê bị lao. (1)
Cũng như Hàn Mặc Tử, Bích Khê mất đi giữa lúc tuổi đời còn rất trẻ, ở vào cái tuổi 28-30, lứa tuổi chín muồi để sáng tạo nghệ thuật.
Cũng như Hàn Mặc Tử, Bích Khê ngoài việc đau đớn khổ lụy vì bệnh tật, còn lao đao lận đận vì tình duyên. Với Tử là Hoàng Cúc, Mộng Cầm, Mai Đình, Ngọc Sương và Thương Thương; với Khê đó là Bích Thủy, Song Châu, Ngọc Kiều.
Có điều tương đồng trong cuộc đời giữa hai thi sĩ vốn xuất phát từ trường phái thơ loạn. Mà không chỉ về phương diện đời. Trong thơ, Hàn Mặc Tử hay lấy cảm hứng nghệ thuật từ trăng và mộng, Bích Khê lại hay đề cập đến mộng và trăng như những chủ đề chính. Nhưng có sự khác nhau trong biện pháp thể hiện, trong kỹ xảo về nghệ thuật bị làm thơ và thơ làm. Chính điều đó tạo nên hai phong cách thơ rất gần nhau nhưng không thể lẫn lộn.
Giá như Hàn Mặc Tử và Bích Khê không mất quá sớm thì thi tài còn phát triển đến cực độ, bởi vì không thể phủ nhận, chính bệnh tật, khổ đau là một trong những nguyên nhân để tài năng họ phát tiết. Nhưng chỉ ngần ấy tập thơ thôi, ngần ấy con đường khai phá thôi, cũng đủ xứng đáng để hậu thế cắm hai cột mốc sừng sững trong lịch sử thơ ca dân tộc. Về mặt lượng giá, phải công nhận ý kiến của Chế Lan Viên cho rằng: “Tử là một đỉnh cao, lòa chói trong văn học thế kỷ, thậm chí qua các thế kỷ” và Bích Khê: “Có nhiều câu, nhiều bài mà các bậc thầy có khi không có, Hàn Mặc Tử không có, thơ Việt Nam trước đây không có”. Khê: “... Vừa làm thơ vừa đẩy lịch sử thơ ca, duy tân thêm một bước” là xác đáng.
Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương, còn bút hiệu khác: Lê Mộng Thu, sinh ngày 21 tháng 2 năm Bính Thìn, tức ngày 24 tháng 3 năm 1916 tại Thu Xà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Cha Lê Quang Dục, hiệu là Mai Khê, mẹ Phạm Thị Đoan, ông nội Bích Khê là Lê Trọng Khanh, làm quan dưới triều Tự Đức, phải tự tử chết vì không muốn tuân lệnh Nguyễn Thân đi đàn áp các cuộc khởi nghĩa ở miền Trung. Để con cháu sau này có thể học hành được mà không bị bọn thực dân gây khó dễ, ông dặn phải đổi họ từ Lê Trọng sang Lê Quang: Bích Khê có cả thảy tám anh em, Khê là em út. Gia đình vốn có truyền thống ngâm vịnh, nên từ ông cố, ông nội, cha, cho đến anh em Khê ít nhiều đều có làm thơ văn. Trong đó, với tư cách là một người chị, một người bạn văn chương, một người gần gũi với Bích Khê trong những lúc hạnh phúc nhất cũng như đau khổ nhất, người chị kế Ngọc Sương đã góp phần không nhỏ trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho Khê yên tâm sáng tác.
Bích Khê lúc nhỏ học ở Thu Xà, sau theo gia đình của một người thương gia ra Quảng Bình học tại trường Pháp Việt Đồng Hới. Đỗ đầu kì thi tiểu học (1929), tại đây tiếp tục học trung học tại trường Pellerin, Huế. Sau, theo học ban tú tài tại một trường tư ở Hà Nội. Năm 1934 bỏ học, về lại Thu Xà cùng với chị (Ngọc Sương) và một số bạn đồng liêu khác vào Phan Thiết mở trường Hồng Đức dạy học. Hai năm sau, Ngọc Sương bị thực dân Pháp bắt và di lý về Quảng Ngãi, trường bị soán đoạt, Bích Khê ở nán lại đây một thời gian, rồi ra Huế điều dưỡng tại viện bài lao Pasquier, bệnh bớt về lại Thu Xà, khi thì lên núi Thiên Ấn tịnh dưỡng, khi thì thả thuyền ngao du trên sông Trà Khúc. Lại trở lại Phan Thiết mở trường Quảng Thuận dạy học (đến năm 1939 bị thực dân đóng cửa). Khoảng năm 1941, Bích Khê dạy quốc văn tại trường trung học Phú Xuân (Huế). Năm 1942 lại trở lại viện Pasquier chữa trị, bệnh có phần thuyên giảm, về lại quê nhà, sau đó ra Hoàng Hoa Trang, dinh thự của gia đình người chị ở Quảng Nam để an dưỡng. Năm 1943, bệnh trở nặng, được gia đình chạy chữa hết lực, nhưng bệnh tình quá trầm kha, thi sĩ mất tại Thu Xà, ngày 17 tháng 1 năm 1946. Biết không qua khỏi, Khê “dọn mình” rất kỹ, Khê nhẹ nhàng chìm dần vào giấc miên viễn. Trong di chúc để lại cho gia đình, ông nhắn gởi các điều sau: 1. Khi chết không được khóc; 2. Chết xong liệm liền chôn liền; 3. Liệm giản dị bằng một tấm vải trắng; 4. Một cái hòm thường và đám tang không có kèn trống; 5. Bà con thân hữu đến phúng điếu không nhận tiền bạc; 6. Bản thảo giao lại cho anh rể Lạc Nhân giữ.
Cũng giống như các bạn đồng môn đương thời, Bích Khê khá tiếng Pháp, ông đã từng địch Retour de I'URSS của André Gide. Điều đáng nói là từ năm 1937, Khê đã có trong tay cuốn Cách mạng vô sản ở pháp (bản Pháp văn) cho nên khi cách mạng tháng Tám thành công, mặc dầu bệnh nặng, Bích Khê đã đón chào Cách mạng với tất cả niềm phấn khởi của lòng mình, là điều tất nhiên. Tính tình Khê trầm lặng, ít nói, lúc nào cũng đăm chiêu như suy nghĩ điều gì. Thoạt nhìn, ai cũng tưởng là khó tính nhưng kỳ thực rất dễ gần, Khê hay giúp đỡ bạn bè khi hoạn nạn, Khê cũng là ân nhân của những người nghèo khó
Từ nhỏ Bích Khê đã nổi tiếng như một thần đồng về thơ. Mới 12 tuổi, Khê đã làm thơ Đường luật, đã là bạn bè đàm đạo thơ văn của các bậc tiền bối trong làng, trong đó có ông đồ Lê Tú (Bảy Vạn), một người thơ hay chữ tốt. Năm 15 tuổi (1931), Bích Khê đã có thơ đăng ở mục Văn Uyển bên cạnh các bậc túc nho nổi tiếng như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, trên báo Tiếng Dân và sau còn in ở Phụ nữ Tân Văn. Từ năm 1937 trở về trước, Bích Khê làm thơ theo lối niêm luật truyền thống tức thơ cũ. Ngoài thể loại chủ lực Đường luật, Khê còn múa bút qua các thể thức khác nhau như song thất lục bát, ca trù, xoay quanh các chủ đề quen thuộc: Vịnh sử, vịnh vật, tức, tả cảnh, tả tình. . . Tiếp xúc với thơ, thật khó hình dung, đấy lại do một thanh niên chưa tới 20 tuổi sáng tác. Phong thái chững chạc, u buồn, trầm mặc, sâu lắng như một cụ đồ, kỹ thuật già dặn, điêu luyện, sử dụng điệp đối thuần thục. Nghĩa là cái mã của thơ cũ đã trở thành máu thịt trong Khê, kể cả biện pháp đối lập - gần đây được coi như là linh hồn của thơ Đường. Tất nhiên, vẫn là những hình ảnh ước lệ, ngôn từ đài các quý phái như ác tà, cuốc kêu, kiếm cung, rêu phong thành cổ, hồn cổ, đổ bóng tà huy... Tính chất trẻ trung, nghịch ngợm có chăng chỉ ở hai bài Bán sầu và bán thơ (ca trù), chất liệu cuộc sống có ngồn ngộn chăng chỉ có ở bài Về Thu Xà cảm tác (Đường luật). Tất nhiên ở đây còn bị chi phối bởi niêm luật nghiệt ngã cổ điển. Tiếc rằng, với một ít tư liệu hiện có (gồm các bài thơ đã in ở tập Bích Khê (1988) và thêm một số bài do gia đình Bích Khê cung cấp; phần lớn thơ cũ đăng ở Tiếng Dân và Phụ nữ Tân Văn chưa thu thập được) thật khó lòng có được một đánh giá thỏa đáng. Nhưng phải thừa nhận, trong địa hạt thơ cũ, Bích Khê không phải tay vừa. Thơ thế nào thì mới được “cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng nhiều người hợp thức ở Quảng Ngãi khen là giai tác”. Về thơ vịnh sử, chính Bích Khê cũng thừa nhận mình được khen là “Từ trước đến nay chưa có bài vịnh sử nào hơn” (Dẫn theo Quách Tấn - Đời Bích Khê).
Vào giai đoạn này, Bích Khê rất ngưỡng mộ và bái vọng thơ cũ. Khê chê thơ mới là “cua bò”. Khê cũng nặng lời mỉa mai những bài thơ tỏ tình của Hàn Mặc Tử gửi cho Mộng Cầm (Mộng Cầm là con của chị hai Khê, gọi Khê bằng cậu, tuy vai vế là cậu cháu, nhưng suýt soát tuổi nhau, nên Cầm thường tâm sự với Khê, kể cả chuyện yêu đương của mình). Trong tập Gái quê (1936) của Tử, Khê chỉ công nhận được vỏn vẹn hai bài đáng coi là thơ. Nhưng sau khi đọc Đau thương (bản đánh máy cũng do Mộng Cầm đưa), từ cực này nhảy sang cực khác, Khê công nhận Tử là thiên tài, đi trước mình quá xa. Quá cảm kích, Khê gửi cho Tử ba bài thơ mới (Ảnh ấy, Thi tứ và Thời gian). Tử khen là có sức lay động người đọc đến “da diết tê mê”. Phấn khởi, sau đó một thời gian, Khê lại gởi cả một tập thơ cho Tử. Khác với lần trước, lần này bị Tử chê “quá kém”. Tự ái, chỉ ba tháng sau, Bích Khê hoàn thành một tập thơ khác lấy tên Tinh huyết - một tập thơ được viết bởi “tinh tủy, châu lệ và đắm đuối của một hồn thi sĩ”. Và chính Hàn Mặc Tử viết đề tựa, xuất bản năm 1939.
Tinh huyết là mùa thu hoạch đầu tiên trên mảnh đất mới. Tuy Hàn Mặc Tử khen hết lời, dành cho những đánh giá trân trọng nhất nhưng không phải tất cả đều như vậy Có thể dễ dàng chỉ ra những câu, những chữ, những bài còn non, còn lặp lại ở đâu đó. Trong cách xây dựng hình tượng, trong kỹ thuật phô diễn còn chịu ảnh hưởng nhiều bên trời Âu như Verlaine, Baudelaire, nhất là P.Valéry. Đây cũng là đặc điểm chung của cả một trào lưu không riêng gì Bích Khê. Trước đó độc giả hẳn đã đọc Mấy vần thơ (1935), Ngày xưa (1935), Gái quê (1936)/ Điêu tàn (1937), Tiếng thu (1938), Thơ thơ (1938). Nhưng Tinh huyết vẫn là một tiếng nói lạ cả về phương diện nội dung lẫn hình thức, nhất là hình thức nghệ thuật. Nếu như ở địa hạt thơ cũ, Khê là một ông cụ Đông phương, trầm mặc, suy ngẫm về đời thì ở lĩnh vực thơ mới, Khê là một chàng trai đầy sức sống, tự vấn về ý nghĩa nhân sinh với tất cả vẻ đẹp tân kì hào phóng. Độc giả đã say mê, đã đồng cảm với những khám phá mới lạ từ những tập thơ của các thi sĩ đương thời trước đó, khi bước vào Tinh huyết cũng phải sửng sốt, ngạc nhiên, bởi vẻ mới mẻ táo bạo, kỳ ảo của nó. Ở đây, âm thanh và màu sắc, động và tĩnh, ngày và đêm, bóng tối và ánh sáng, thực và mộng. . . trăng và hoa, thơ và hoa... như đan quyện vào nhau. Khê đã duy tân nghệ thuật, đã đổi mới thi ca. Ở đây, hầu như mọi giác quan đã được khai thác đến cực điểm, mọi cảm xúc đều bật rung tận đường tơ kẽ tóc. Ở đây, sức tưởng tượng được phát huy tối đa. Những hình tượng độc đáo, những câu, những chữ mới lạ kiểu như: đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc/ và chút trăng say đọng ở làn môi... Nàng là tuyết, hay da nàng tuyết điểm,/ Nàng là hương hay nhan sắc lên hương (Tranh lõa thể). Ô, hay buồn vương cây ngô đồng,/ Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông (Tỳ bà). . . không phải là hiện tượng cá biệt. Chỉ một bài Mộng cầm ca đã có biết bao nhiêu điều lạ không gian tơ, vùng mộng tuyết, đêm tơ, xẻ ngạch trời, phăng mạch đêm, cắt mạch nguyệt vàng xanh... Khê đã thành công trong việc sáng tác những bài thơ nhạc điệu trầm bình thuần túy như Tỳ bà, Hoàng hoa hoặc có pha lẫn ít tiếng trắc như Nghê thường, cách ngắt nhịp 4/4 trong câu thơ tám chữ mà Quách Tấn gọi là “song phân” cũng là lối thơ độc đáo của Khê, “làm cho câu thơ nửa như riêng tây, nửa như thuận hòa” (H.M.T). Hoài Thanh đã tâm sự: “Tôi đã gặp trong Tinh huyết những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”.
Vẫn trên mảnh đất mà Tinh huyết đã canh tác, Tinh hoa(1) lại một mùa bội thu. Đây là một tập thơ thể hiện sự chín muồi của tài năng. Nó như một ánh sao đêm, dồn tất cả tinh lực để cháy lên rồi sau đó tắt lịm. Những côi (Ô, côi lầu mây ánh gì kim cương - Nhạc), những ôi (quê nhà còn mấy khóm hoa, em về chăm chút kẻo mà hoa ôi - Băng tuyết)... không còn nữa. Hình tượng đẹp đẽ hơn, hoành tráng hơn, các biện pháp nghệ thuật vừa mới mẻ, vừa siêu thoát hơn, nên âm vang của câu thơ có tác dụng lớn như biện pháp liên câu:
Những cườm tay điểm hột
Sương phất như lau lách
(Xuân tượng trưng)
Hay:
Ô con tinh đứng nằm
Đưa võng hát ru con
(Ngũ Hành Sơn bài tiền)
Những cách đảo tự, đảo ngữ: “canh khuya quán lạnh nguyệt tà song” (Hồ Xuân Hương) hoặc: “Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống” (Tiếng đàn mưa) và một số thủ pháp khác cũng khá thú vị như lặp, đối… đều rất nhuần nhuyễn. Giờ đây thi sĩ một mặt xô đẩy xa và nâng cao bước đi của thơ theo hướng hiện đại, một mặt quay về đứng vững trên nền móng Đông phương “Bằng cảm tình, bằng hình ảnh yêu thương, và mới mẻ trên viện cổ Đông Phương” (Duy Tân). Nên không lạ bên cạnh các từ ngữ khá hiện đại như điêu khắc, điện, khỏa thân, khiêu vũ… trong Tinh hoa còn bất ngờ xuất hiện cả ô thước sông Ngân, Hoàng Hạc lâu, cả phượng hoàng, rồng, hạc, cả đào hoa, tiên nữ. Tất cả hình ảnh cũ này được nhào nặn dưới dạng những biểu tượng, tượng trưng. Điều này không chỉ thể hiện ở mặt ngôn từ mà còn ở các biện pháp nghệ thuật (thậm chí tiêu biểu ở biện pháp nghệ thuật) như trong Ngũ Hành Sơn tiền và hậu, Nam hành ở một góc độ khác, mộng với tư cách là một biện pháp nghệ thuật vốn đã xuất hiện bàng bạc trong Tinh huyết, nay được thi sĩ khai thác nhuần nhị và phóng khoáng hơn. Mộng Lý Bạch, mộng cố hương, mộng Hồ Xuân Hương: Tỉnh ra thi thấy mình trong mộng, Nửa mảnh trăng treo một mặt buồn (Mộng Hồ Xuân Hương). Coi Xuân Hương là người vợ nghệ thuật, đêm đêm về cùng thưởng thức thơ (Hồ Xuân Hương), cũng qua mộng để cùng Tử chia sẻ niềm đau thân phận: Anh ơi sao hai ta, huyền hồ trong phôi pha Hai ta đều quạnh quẽ, đứt ruột nhớ thương nhau (Hàn Mặc Tử). Cũng ở tập thơ sau, nếu căn cứ vào tiêu chuẩn nghệ thuật và yếu tố phù hợp với lứa tuổi, thì hai bài Tiếng đàn mưa và Làng em xứng đáng được tuyển vào sách giáo khoa. Tóm lại, về nhiều phương điện, “Tinh hoa rất có giá trị, giá trị cao hơn Tinh huyết một bậc”.
Trong bài Lời tuyệt mệnh tức Đề tấm bia dựng trước mộ (đầu đề đầu tiên do Khê đặt - Di cảo), tác giả viết:
Bút thần: Sông lạnh bóng sao rơi
Câu thơ khái quát được cả đời thơ tài hoa, nhưng cô đơn ngắn ngủi của Khê. Thi sĩ như một vì sao sớm rực sáng trong bầu trời đêm đen nhưng ngôi sao ấy không thọ. Nó tắt cũng quá sớm. Có điều cuộc sống của thơ Khê chắc chắn sẽ dài, dài hơn rất nhiều so với đời Khê.
Nguồn:
- Tham luận tại Hội thảo “Bích Khê và thơ Bích Khê” nhân 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 20-22/2/2006
- In trong cuốn “Bích Khê, Tinh hoa, tinh huyết”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008
Chú thích
(1) Ngữ liệu khảo sát trong bài viết này dựa vào Thơ Bích Khê, Sở VH-TT Nghĩa Bình xuất bản, 1988.
(2) Ở đây bao gồm những bài thơ sáng tác sau Tinh huyết.
VỀ NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ TRONG THƠ BÍCH KHÊ
PGs.Trịnh Sâm
Về bản chất, thơ ca là một hệ thống kí hiệu mở. Nó dành cho người tiếp nhận một biên độ liên tưởng khá rộng. Nó mở ra tính chất đồng hành và cùng phóng chiếu với tác giả của người thưởng thức. Ngay đối với tác giả, anh ta cũng khó lòng thấy hết tất cả sự cộng hưởng ẩn chứa đằng sau ngôn từ do chính anh sáng tạo nên. Điều đó càng có ý nghĩa khi chủ thể sáng tạo đã xây dựng được cho mình một số biểu thức biểu đạt có tính lặp lại, tức có nghĩa là đã hình thành nên những nét riêng.
Với trường hợp Bích Khê, tuy không có tuyên ngôn rõ ràng, nhưng khảo sát toàn bộ thơ ca của ông, có thể thấy ông rất có ý thức cách tân thơ, ít nhất là về mặt hình thức. So với các tác giả trong phong trào Thơ mới, cùng với một số nhà thơ khác, ông đã tạo ra một bước rẽ về mặt biểu đạt trong tiến trình thơ ca hiện đại, vấn đề là ở chỗ không phải nói cái gì, mà cốt lõi là nó được nói như thế nào. Chính biểu đạt như thế nào là một tiêu chí để phân biệt nhà thơ này với nhà thơ khác.
Bài viết này xuất phát từ hình thức ngôn ngữ, cố gắn nêu lên một số đặc điểm trong nghệ thuật ngôn từ của thơ Bích Khê. Tất nhiên, không chỉ là hình thức mà hình thức và nội dung sẽ thống nhất ngay trong mặt hình thức được đánh dấu.
1. Tuy không phải tất cả các bài, các câu thơ của Bích Khê đều có cùng một đặc điểm, nhưng nhìn toàn cục, xét trên trục lựa chọn và trục kết hợp, có thể nói về mặt từ vựng, cũng như ngữ pháp, Bích Khê đã xây dựng được một hệ định danh và thông báo có tính chất trừu tượng và siêu thực, trong đó đáng chú ý là lớp từ vựng ca ngợi cái đẹp thông qua mộng tưởng. Thông qua cách cảm nhận hiện thực bằng nhãn quan cách tân, nhà thơ đã hình thành nên cách tri nhận trừu tượng. Chính đặc điểm này làm cho thơ Bích Khê khó đọc, mỗi bài thơ là một bức tranh siêu thực mà các con chữ bí mật chứa ngầm hơi chất nổ (Thơ BK).
Một trong những đặc điểm quan yếu làm nên bản thể của ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ vừa là phương tiện vừa là mục đích tự thân, nói như Roman Jakobson, làm nên đặc điểm này chính do tính chất cùng một lúc ngôn ngữ phóng chiếu lên cả trục lựa chọn lẫn trục kết hợp. Nhưng với thơ Bích Khê, tình hình có khác. Nói rõ hơn, tác giả vẫn khai thác cái nguyên lý đó nhưng cán cân lệch hẳn về phía trục kết hợp. Chẳng hạn, do yêu cầu khai thác những vấn đề về tâm linh, Bích Khê hay đề cập đến hồn như một thực thể vừa trừu tượng vừa cụ thể. Chỉ khảo sát trong tập thơ Tinh huyết, chúng ta đếm được tác giả sử dụng 46 lần. Hãy xem: hồn thu (Mộng cầm ca), hồn về, muôn hồn (Tì bà), hồn ngọc thạch (Nhạc), hồn chiêm bao (Tân hôn) v.v… Có thể nói, cách lựa chọn này không có gì đặc biệt. Tương tự, một trong những đặc điểm dễ thấy khác, xuất phát từ cách cảm nhận hiện thực có tính chất siêu tưởng và trực giác nhằm ca ngợi vẻ đẹp thân xác của người phụ nữ, tác giả hay nhắc đến đôi hồng đào, ngoài cách dùng tên gọi trực tiếp như một vú (Ngũ Hành Sơn) hoặc có thêm định ngữ vú non non (Mộng cầm ca), ta còn bắt gặp núm vú đồi (Xuân tượng trưng), cặp tuyết lê (Châu), cặp thu ba (Trái tim), đôi tuyết lê (Cô gái ngây thơ), vú nõn (Sắc đẹp)… Rõ ràng tính chất ẩn dụ từ vựng là khá mờ nhạt, bởi vì các cách định danh này đã quen thuộc, không mang dấu ấn cá nhân.
Thế nhưng, xét trên trục kết hợp, sự thể hoàn toàn khác. Để tiện nhận xét, ta tạm thời lưỡng phân thành: kết hợp trong ngữ đoạn và kết hợp trong câu thơ.
a) Kết hợp ngữ đoạn
a1) gió lá (Tân hôn), nhung mây (Nghê thường), đêm nhung (Người say rượu), đêm huyền (Đồ mi hoa), đêm u huyền (Tranh loã thể), không gian lạnh (ảnh ấy), miếng phong cầm (Ăn mày), vùng tang (Cặp mắt)…
a2) miền tóc bạc (Trái tim), niềm lệ; chất vô hình (Châu), trí thơm tho (Một cõi trời), cánh đau thương (Mộng), nhạc vô minh (Tranh loã thể)…
b) kết hợp câu thơ
Muôn sầu hận xây mồ ngay giữa phổi… Nàng dội thiêng liêng lên tóc, Nàng lùa thanh sắc vô tay (Châu), Hồn tôi như đỉnh hương, Bốc lên thành thánh giá (Xuân tượng trưng), Hồn say sưa đang cố lột cho trần (Một cõi trời), Lấy ai siêu độ từ bi; Hồn siêu hồn đến quy y bên nàng (Thơ bay), Khoái lạc ửng hồng như quả gấc (Mộng lạ), Cho chân lí ngời ra như lưỡi kiếm (Nàng bước tới…)
Ở (a1) tuy biên độ liên tưởng đã được mở rộng, nhưng nhìn chung các kết hợp vẫn trên cái nền ẩn dụ truyền thống. Quả nhiên đến (a2) hé mở nhiều dấu ấn của sự sáng tạo riêng, miền tóc bạc, cánh đau thương, trí thơm tho quả là những kết hợp độc đáo. Cần thấy, tách rời khỏi ngữ cảnh của văn bản thơ, các thế đối lập: động và tĩnh, tối và sáng, mộng và thực, hữu thức và vô thức… có phần chưa thấy rõ. Chỉ gắn chúng vào cả bài, hay ít nhất là câu thơ thì các thế đối lập trên mới lan toả. Bởi vì, tính chất tương tác nghĩa trong ngữ cảnh thường tạo ra độ hẫng bất ngờ rất khó đoán định. Hãy xem:
Nàng dội thiêng liêng lên tóc
Nàng lùa thanh sắc vô tay
(Châu)
Dội, lùa là những động tác cụ thể có thể quan sát được, thế nhưng cả câu thơ lại là một miêu tả vượt ra ngoài thông lệ, gây cho người đọc một ấn tượng hoà trộn giữa cái hữu hình và cái vô hình, giữa cái thực và cái ảo, và đặc biệt rất động. Hay đôi khi chữ nghĩa vẫn bình thường nhưng do kết hợp bất ngờ, có khi lại tạo ra một khám phá thú vị. Hồn xiêu hồn đến quy y bên nàng là một câu thơ như vậy.
2. Tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất khá cao. Nhưng do nhiều lí do, trước 1945, tính chất ốc đảo của phương ngữ là một thực tế không thể phủ nhận. Cho nên việc Bích Khê dùng từ ngữ Trung Bộ, thậm chí khẩu ngữ Quảng Ngãi là điều dễ hiểu. Vấn đề ở chỗ mức độ sử dụng, hiệu quả sử dụng và cũng cần xem xét thấu đáo thời điểm sáng tác, cũng như tâm lí tiếp nhận hiện nay.
2.1. Cũng như Hàn Mặc Tử, Bích Khê có dùng một số từ ngữ với tần suất rất thấp của Huế và Quảng Nam như mô (đâu), phương mô (phương nào), xưa tê (xưa kia), bây chừ (bây giờ), mi (mày)… Ngoài mi là một đại từ, các từ còn lại đều là những từ ngữ chỉ xuất không gian và thời gian, nghĩa là những yếu tố mà chức năng trỏ là chính, do vậy hầu như không có khó khăn nào khi thưởng ngoạn thơ. Đó là chưa kể do tương tác ngữ cảnh, nghĩa của các từ ngữ trên được mở rộng, chẳng hạn như mô, ở đây không hoàn toàn đồng nhất với đâu như chú giải của các từ điển phương ngữ:
Thần tôi đời mô mới hết
Thơ tôi đời mô hết đau
(Châu)
2.2 Cũng như những nhà thơ khác, trong thơ Bích Khê cũng xuất hiện các từ ngữ biến thể ngữ âm địa phương: lòn (luồn), nút (hút, mút), ngớp (ngợp), thiệt (thật), dong nhan (dung nhan), bịnh (bệnh), yếng sáng (ánh sáng), phối hiệp (phối hợp), nường (nàng)… Cần nói ngay, một số từ ngữ đã quá quen thuộc, nghĩa là đã nhập vào hệ thống ngôn ngữ toàn dân. Xin chỉ khảo sát một số từ ngữ.
Ngớp được Bích Khê sử dụng 4 lần trong những ngữ cảnh sau:
(i) Nầy! muôn ngọc nữ ngớp y thường (Nghê thường)
(ii) Ồ, đừng có ngớp! mời anh hãy bước (Một cõi trời)
(iv) Hớp nhiều trăng cho niềm tin rất ngớp (Cặp mắt)
Ngớp: gớm, khiếp (Việt Nam Từ điển, Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo, 1947, VNTĐ), ngợp, choáng (Từ điển Phương ngữ Nam Bộ, Nguyễn Văn Ái, TP. Hồ Chí Minh, 1994, TĐPNNB). Trong các nét nghĩa được liệt kê, cách giải thích trước có phần phù hợp với ngữ cảnh biểu đạt của Bích Khê hơn. Tất nhiên không loại trừ các nét nghĩa ở sau, vì chúng nằm trong cùng một trường nghĩa. Điều đáng lưu ý, ngoại trừ ví dụ ở (iv), mở đầu các câu thơ có chứa từ đang khảo sát còn lại, tác giả đều sử dụng các từ hô gọi hoặc cảm thán. Thế có nghĩa, hãy chú ý đến hiện thực dù là hiện thực được miêu tả có vượt qua cảm quan bình thường. Cùng với ví dụ (ii), ngay trong bài đã dẫn, ta bắt gặp một từ đồng nghĩa hoàn toàn: Anh đừng khiếp! - Lòng tôi mang địa ngục (Một cõi trời). Cách dùng từ ở đây có thể nằm trong chủ đích của tác giả, nhưng trước hết là do chi phối bởi âm điệu của câu thơ. Bằng chứng là Bích Khê cũng đã sử dụng một từ tương ứng trong ngữ cảnh cho phép:… Đây du dương vừa ngợp cả trăng sao (Cô gái ngây thơ) Rõ ràng âm điệu và ngữ nghĩa có phần khác với các trường hợp đã xem xét ở trên. Phải chăng điều này đã chi phối cách lựa chọn của tác giả. Vả lại, sắc thái nghĩa ngớp thanh 5 (thanh sắc) có sức gợi tả hơn so với ngợp thanh 6 (thanh nặng). Điều này là ưu thế đối với các từ ngữ biến âm địa phương ở Trung Bộ như chắn/chặn, mức/mực, xóp/xọp, mép/mẹp v.v…
Bích Khê cũng hay sử dụng một từ biến âm khác dưới dạng độc lập hoặc có kết hợp với định ngữ, đó là từ nút. Nút tương đương về nghĩa với hút hoặc mút, chúng đều có nét nghĩa tác động của chủ thể và đều có liên hội ngữ nghĩa đến cách thức cấu âm. Thế nhưng về trường biểu đạt chúng không hoàn toàn đồng nhất.
Đại Nam Quốc Âm tự vị, Huình Tịnh Paulus Của, 1896 (ĐNQÂTV) có nhắc đến nút mật, nút sữa; VNTĐ (đã dẫn) giải thích, nút: hút ở ngoài môi, đĩa nút dọt (sic). Còn TĐPNNB (đã dẫn) lại chú giải nút: mút, nút hết bình sữa. Như vậy, nghĩa của mút, hút, nút là rất gần nhau. Có điều, về mức độ biểu đạt, từ nút, một mặt vẫn giữ nguyên nét nghĩa chủ động, mặt khác mức độ tăng tiến nghĩa cao hơn so với từ còn lại. Điều này rất tương hợp với trường miêu tả cùng kiệt, thể hiện cái tôi trữ tình khao khát, đôi khi cuồng tưởng - một đặc điểm làm nên văn phong Bích Khê, cũng như các nhà thơ tượng trưng phương Tây.
2.3 Như đã nói, tuy không thật thuần nhất nhưng trên cái nền của một thứ nhạc điệu xô đẩy, đôi khi trầm bình, chậm chạp, đôi khi gãy khúc, bấn loạn, mỗi bài thơ là một sự thể nghiệm tiết tấu, cộng với câu chữ vượt ra ngoài cách diễn đạt thông thường; tất cả tạo ra một thứ thơ ca mờ đục, đôi khi phải quy chiếu cả trong và ngoài văn bản mới cảm nhận được. Trong bối cảnh đó, ngoài lớp từ ngữ đã nhắc ở (2.1) và (2.2), muốn nhận diện lớp từ thuần phương ngữ, phải đọc thật kỹ. Sở dĩ có tình trạng này là vì, xét về hiệu quả tương tác ngữ vực, tất cả câu chữ trong thơ Bích Khê đều chập chờn mờ ảo. Nếu nhận xét này là chính xác, thì trở ngại do từ ngữ phương ngữ sinh ra là không đáng kể. Hơn nữa, các từ phương ngữ ở đây theo quan sát bước đầu của chúng tôi đều là từ đơn như rúng, long, sú, quynh, sững, trộ, ngó, bưa. Chưa có công trình nào thống kê chi tiết về quá trình song tiết hoá của tiếng Việt từ Cách mạng tháng Tám đến nay, nhưng hiển nhiên thời Bích Khê các từ đơn tiết này được sử dụng khá phổ biến. Chẳng hạn Hàn Mặc Tử cũng đã dùng bưa trong câu thơ sau: Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa (Những giọt lệ). Sở dĩ ngày nay đọc các từ trên ta có cảm giác là cổ vì xu hướng song tiết hoặc thay thế đã lấn át: rúng (rụng động), long (long lay), sú (sú mớm), quynh (quây kín), sững (đờ, trơ; chết sững, nhìn sững), ngó (nhìn), bưa (vừa, chán), trộ (cơn, đợt). Đối với công chúng, đọc thơ mà phải mở từ điển cổ, quả nhiên là có phần hạn chế. Nhưng rất may là các từ ngữ đang xem xét xuất hiện không nhiều. Hơn nữa, ngữ cảnh là chiếc chìa khoá để hiểu đúng hầu hết các trường hợp mở rộng nghĩa theo cách dùng của Bích Khê. Chẳng hạn như sú: hoà với nước, sú bột, sú cơm (ĐNQÂTV); đổ nước vào bột mà nhào: sút bột, sú cơm mớm cho con (VNTĐ); khuấy trộn với nước (thường nói về thức ăn của heo), sú cám heo, ăn cám sú - tiếng mắng (TĐPNNB); trộn bột hoặc thức ăn với nước rồi khuấy đều hoặc nhào kỹ, sú bột quấy hồ, sú cám heo (Từ điển Phương Ngữ tiếng Việt, Đăng Thanh Hoà, NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển Học, 2005). Xem ra sú như cách giải thích của các từ điển trên chủ yếu là chỉ phương thức chế tác. Dựa trên cơ sở này, khẩu ngữ Quảng Ngãi lại có thêm nét nghĩa mà mớm với sắc thái tình cảm trìu mến, yêu thương như mẹ sú cơm cho con, chim mẹ sú mồi cho chim con. Bích Khê đã kế thừa nét nghĩa này: Tôi còn sú ảnh trong môi miếng… Tôi sú cho nguồn Khoái Lạc… Tôi sú tình trong đôi mắt ướt… (Châu).
Đáng lưu ý là những trường hợp mà các kết hợp trong khẩu ngữ địa phương lại là phương tiện biểu đạt khá đắc lực, giúp cho Bích Khê đi cùng tận một cách rốt ráo trong trường biểu đạt theo ý niệm của mình. Hãy quan sát: Để anh nút ớn mùi hương phấn, Của một tình yêu giận hững hờ (Ảnh ấy), Trời ơi! Khóc đã đứt tươm hơi, Tiếng lệ thôi theo với nhịp đời (Cơn mê), Ôi coi! hồn đang say nghiền, Đã nư khoái lạc trong miền chiêm bao! (Mơ tiên), Người ngất ngư - Chết trong muôn thế kỷ! Chạy điên rồ… đứng sựng giữa sương ma (Sọ người), Lòng nao nức như hương trầm mới dậy: Gió tâm tư say chúi nửa lừng mơ… (Đồ mi hoa), Cho xin trụm bao nhiêu mùi thi vị, Phà hơi lên, truyền nhiễm thấu trần ai… (Ăn mày); Điềm anh hoa! Nức nở tiếng tơ vàng, Lùa hết trọi vào trong khung cửa ngọc; (Một cõi trời).
3. Trên đây có nhắc đến các cách kết hợp độc đáo ở hai bình diện ngữ đoạn và câu thơ. Nếu tiếp tục xem xét phép so sánh bao gồm so sánh lôgic và so sánh tu từ, cũng là một kiểu kết hợp khác, chắc chắn sẽ góp phần khẳng định thêm cho những nhận định bên trên.
Trong toàn bộ ngữ liệu mà chúng tôi khảo sát, xét về câu chữ, ta thấy Bích Khê sử dụng ba từ so sánh: đọ, tợ và như, theo các mô thức A tợ B, tợ B, A như B, và như B. Ngoại trừ đọ: Ngọc Kiều! Ngọc Kiều! Đến cặp song đôi, Cho tôi đọ vẻ hương trời sắc nước (Tranh loã thể), Xanh liễu ngoài song vừa đổi biếc, Màu thi sắc lá đọ dung nghi (Hồ Xuân Hương), tuy có đem hai hay nhiều sự vật, hiện tượng đặt ở thế trực tiếp để đối lập nhau nhưng kết quả so sánh thì thường là ngầm ẩn, còn các mô thức còn lại đều ít nhiều mang lại hiệu quả so sánh. Có nét khác lạ ở đây là, cả hai vế, so sánh và được so sánh đôi lúc hầu như không xây dựng trên nét tương đồng nào. Ví dụ: Hồn người mê như sắc đẹp trên giường… (Sắc đẹp), Cười thơm như ngọc dội hương vang… Miệng cứng hào quang chảy tợ vàng… (Sầu lãng tử), Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc; Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương (Nàng bước tới…). Chính cách so sánh vượt ra khuôn phép ngữ văn truyền thống góp phần làm cho câu thơ Bích Khê nghiêng hẳn về cách tư duy của câu văn xuôi nghệ thuật, trong đó các ẩn dụ được xây dựng trên cấu trúc mệnh đề mà giữa cơ chế nguồn và cơ chế đích được thiết lập trên phép ánh xạ nhiều chiều, chứ không phải là đơn lẻ như ẩn dụ từ vựng.
4. Ở (1), (2) và (3) tuy có gắn với chỉnh thể nhưng nhìn chung vẫn là những phân tích dựa vào bộ phận. Tại tiểu mục này xem xét mỗi bài thơ là một hệ thống khép kín, thử xem xét một số phương diện khác. Nhắc lại luận điểm này mà vẫn không sợ lặp lại, đó là Bích Khê rất có ý thức cách tân thơ ca trên nhiều góc độ, từ thể loại, tổ chức văn bản, nhạc điệu cho đến phối hợp từ ngữ.
Về nhạc điệu trầm bình trong bài Tì bà và Hoàng hoa đã có nhiều tác giả đề cập đến. Ở đây chỉ nhấn mạnh đến tính chất sâu lắng do tiết tấu cả bài thơ mang lại và nếu xem xét chúng trong tổng thể của phong trào Thơ mới thì đây là hai bài khá thành công về mặt đổi mới hình thức thi luật mặc dù Bích Khê không phải là người khai phá.
Vẫn cái nhìn xuất phát từ chỉnh thể nghệ thuật, nói như ngôn ngữ của ngữ dụng học, tiếp cận từ trên xuống (top-down approach) có thể khảo sát hàng loạt vấn đề về kỹ thuật như thủ pháp bố trí liên câu, thủ pháp đối lập giữa các câu thơ toàn vần bằng với các câu thơ vần trắc, thủ pháp điệp trên cơ sở mở rộng cấu trúc về phía phải, thủ pháp liệt kê v.v… Tất nhiên, cũng có thể tiếp cận từ dưới lên (down-up approach) nhưng rõ ràng được xem xét trong hệ thống văn bản thì các thủ pháp này mới dễ quan sát hơn.
Về kỹ thuật tổ chức văn bản, thủ pháp lặp cấu trúc đoạn và dựa vào cơ sở này để biểu đạt mức độ tăng tiến nhằm biểu trưng cho những cung bậc tình cảm tuy có tính chất hình thức, nhưng hình thức là để chuyên chở nội dung. Hãy chú ý:
… Đàn rung tiếng:
Người yêu đang ngồi
… Đàn nghẹn tiếng:
Người yêu đây rồi
… Đàn câm tiếng:
Người yêu xa rồi…
… Đàn bẻ phím
Người yêu chết rồi
(Thi vị)
Hay bài Thơ bay phải đọc theo cách phi tuyến tính mới thấy hết kỹ thuật làm thơ của nhà cách tân Bích Khê:
- Thơ bay lên trên đỉnh núi Nga Mi
Gạ / (chơi mây nước phương phi)…
- Thơ bay lên tới động Dương Quý Phi
Gạn / (xin nước mắt lưu li)…
- Thơ bay lên cho đến gã Vương Dung
Ghẹ / (xem bức tranh Quý phi)…
- Thơ bay lên cho đến chàng Phụng Kì
Gặng / (nghe thần nhạc lâm li)…
Không còn nghi ngờ gì nữa, cách bố trí các câu thơ gián đoạn mà vẫn hiệp vần với nhau, và các câu kế tiếp đều bắt đầu bằng một âm tiết mở hoặc nửa mở với phụ âm đầu gờ, đó cũng chính là các từ đơn tiết, là có dụng ý nghệ thuật về hình thức của thơ? Rằng thơ phải bay bổng siêu thoát nhưng bay bổng siêu thoát trên cơ sở chọn lọc: Gạ, Gạn, Ghẹ, Gặng?
6. Bên trên là một vài phân tích dựa vào hình thức ngôn từ để khám phá nội dung của thơ. Hiển nhiên, không phải bài thơ nào, câu thơ nào của Bích Khê cũng đều thành công, nhưng với cách đặt vấn đề như vậy, nếu được khảo sát triệt để hơn, toàn diện hơn, chắc chắn sẽ là tiếng nói thuyết phục, biện giải cho sự đóng góp của tác giả trong quá trình đổi mới hình thức thơ ca Việt Nam. Điều này hẳn sẽ có ý nghĩa khi các tác phẩm của ông xuất hiện cách nay đã trên 60 năm. (1)
Nguồn:
- Tham luận tại Hội thảo “Bích Khê và thơ Bích Khê” nhân 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 20-22/2/2006
- In trong cuốn “Bích Khê, Tinh hoa, tinh huyết”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008
Chú thích
(1) Ngữ liệu khảo sát của bài viết này dựa vào Tuyển tập thơ Bích Khê, do Thanh Thảo và Lại Nguyên Ân tuyển chọn, Hội VH-NT Quảng Ngãi xuất bản năm 2005.
NGÔN NGỮ THÂN THỂ,
MỘT PHƯƠNG DIỆN VĂN HÓA
(TRƯỜNG HỢP BÍCH KHÊ)
Gs. Trần Đình Sử
Đọc thơ Bích Khê không ít người đã có nhận xét về yếu tố thân thể con người, đặc biệt là thân thể giai nhân và thân thể chủ thể trữ tình làm thành một nét đậm, nét chủ âm trong thơ ông. Đó là hiện tượng độc đáo hợp quy luật phát triển của tư duy thơ hiện đại.
Nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của trực giác, mà trực giác luôn luôn gắn liền với thân thể. Không có trực giác bên ngoài thân thể. Thân thể là phạm trù quan trọng của triết học về con người, đặc biệt là triết học hiện tượng học. Nhà hiện tượng học người Pháp Maurice Merleau Ponty, trong sách Hiện tượng học tri giác, đã nói: “Thân thể là phương tiện chung để chúng ta chiếm hữu thế giới”. Bản chất của thân thể là một “không gian biểu đạt”. Tính không gian của thân thể là điều kiện để hình thành thế giới ý nghĩa của con người. Thân thể cũng là một phạm trù của xã hội học về con người. John Oneill, trong sách Năm hình thái thân thể, đã nói đến thân thể vũ trụ, thân thể chính trị, thân thể giao tiếp, thân thể tiêu dùng, thân thể y học… Thân thể tự nó là một ngôn ngữ giao tiếp. Khi thân thể không đủ để giao tiếp thì con người sáng tạo ra một thế giới văn hóa xung quanh. Đó là các thứ trang phục, vật dụng, trang sức, thời trang… nhằm mở rộng khả năng biểu đạt của thân thể. Trong đời sống, thân thể (đầu, tóc, mình, tay, cổ, mắt, mũi, miệng, răng, lòng, ruột, trái tim, gan, mật, cơ quan sinh dục…) cùng mọi hành động, động tác, cảm giác thân thể (đi, chạy, ăn, cắn, hôn, nuốt, ngậm, đau, rát, đắng…) đều có thể là ngôn ngữ giao tiếp của con người. Ngoài thân thể trực tiếp, toàn thể vũ trụ, thiên nhiên, đồ vật cũng trở thành thân thể gián tiếp của con người và cũng trở thành ngôn ngữ giao tiếp thông qua các ẩn dụ, nhân hóa… Đối với văn học thân thể là thân thể sống, nó không giản đơn là thân xác, xác thịt. Xem thân thể chỉ là xác thịt có nghĩa là thu hẹp nó, tầm thường hóa nó. Trong con người sống, thân thể thấm nhuần tâm hồn. Chỉ xác thịt không phải là thân thể người, tính dục cũng không phải thân thể người. Chỉ có cảm xúc tâm hồn mới biến thân thể thành ngôn ngữ.
Trong thơ ca thời trung đại, sự nhị phân thân thể với tinh thần dẫn đến đề cao ngôn ngữ tinh thần, đạo đức, thân thể con người bị hi sinh, bị chà đạp, kiêng kị, nhất là thân thể phụ nữ. Có nhiều khi thân thể đẹp hẳn hoi vẫn bị coi là cái phần thô, xấu, dung tục, cần phải che đậy, dù là che đậy bằng những vật cao quý: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà, Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên” (Nguyễn Du). Nhiều trường hợp khác ngụy trang bằng các ẩn dụ kín đáo: “Cửa son đỏ loét tùm hum nóc, Hòn đá xanh rì lún phún rêu”; “Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm, Một lạch đào nguyên suối chửa thông” (Hồ Xuân Hương)…
Thơ hiện đại với sự xác lập không gian cá nhân, ý thức cá tính đã đổi mới ngôn ngữ thân thể trong thơ với quan niệm thành thực những điều bí mật riêng tư cũng có thể đem ra biểu hiện. Thân thể không còn là phạm trù của phàm tục, tội lỗi, phải che giấu mà được biểu hiện tự nhiên, kiêu hãnh. Có lúc thân thể trở thành ngôn ngữ của đọa đày, trừng phạt, có lúc nó trở thành ngôn ngữ phản kháng, cự tuyệt và hi sinh, nhưng phần nhiều trở thành ngôn ngữ của sự thân mật, thức tỉnh, giải phóng và của vẻ đẹp trần gian. Khi Xuân Diệu viết: “Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực! /Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài! /Những cánh tay, hãy quấn riết đôi vai! /Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt! /Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt”…; hoặc khi Chế Lan Viên viết: “Ta sẽ nhịp khớp xương lên đỉnh sọ, /Ta sẽ ca những giọng của hồn Điên, /Để máu cạn, hồn tàn, tim tan vỡ, /Để trôi đi ngày tháng nặng ưu phiền!”...; hay khi Huy Cận viết: “Người đã cho những bàn tay hoa nở,/ Những cây chân, chồi mạnh búp tơ măng, /Người thu góp gió mây trong miệng thở, /Nơi mắt ngời, Người gửi ánh sao trăng;/ Mắt sâu sáng đèn thắp soi vũ trụ, /Và tai rền thu cất nhạc không gian, /Và tơ tóc ướp vạn mùa hương ủ, /Và ngực vang ngân điệu nhịp hoàn toàn”… thì có thể nói một ngôn ngữ thân thể mới đã xuất hiện trong thơ Việt Nam hiện đại với nhiều khuynh hướng mới lạ chưa từng có.
Trong thơ mới có lẽ Bích Khê là nhà thơ có ngôn ngữ thân thể táo bạo nhất, mới mẻ nhất. Ngôn ngữ thân thể trong thơ nói chung có thể tạm chia làm bốn phạm vi. Những phần ngoại lộ như da, môi, mặt, mắt, tóc, mi, tay, chân, nước mắt…; Những phần thường che kín như ngực, bụng, bộ phận kín đáo…; Những phần cảm giác thầm kín như buồn, đau, tê mê, hay động tác nội cảm của tâm hồn -- cái thân thể nội tại chỉ tự mình cảm thấy, nhìn, nghe, xin, uống, cắn, hôn…; Những phần bí ẩn trong thân thể, chỉ thấy khi nghĩ đến sự sống hay sự thương tổn, cái chết như tim, máu, xương, óc, sọ, tủy… Tất cả các phần thân thể trong thơ Bích Khê đều trở thành ngôn ngữ của đam mê, khoái lạc, của mơ mộng, ước ao, của cái đẹp trong trắng và vĩnh viễn. Đó không phải là ngôn ngữ duy nhất vì còn có ngôn ngữ vũ trụ, ngôn ngữ thiên nhiên, song đó là phần ngôn ngữ đặc sắc nhất.
Thơ Bích Khê là thơ về cái đẹp, người đẹp. Ta bắt gặp trong thơ ông những tiên nương, tiên nga, ngọc nữ, thuyền quyên, Hằng Nga, Ngu Cơ, Quý Phi, Xuân Hương, Ngọc Kiều, nhìn thấy những đào nguyên, ngọc tuyền, dao động, đào động, cung Quảng... Hoa trái trong thơ ông cũng mang nữ tính: Quả măng cụt, Đồ mi hoa (một thứ cây leo có hoa trắng như tuyết và có mùi thơm). Nhạc trong thơ Bích Khê thường là Nghê thường, Lạc mai hoa, Phụng cầu hoàng, những khúc nhạc tình đắm đuối. Không phải ngẫu nhiên mà Bích Khê viết: “Ngừng hơi thở… ta nép trong bóng lá, /Để vần thơ theo nhịp điệu thuyền quyên” (Đồ mi hoa). Đó là những vần thơ theo nhịp điệu người đẹp với thiên tính nữ. Thơ ông là thơ về cõi mộng, cõi tiên đầy âm nhạc, thi ca, màu sắc, hương thơm và giao tiếp thân thể.
Đẹp và mộng là những nét rất tiêu biểu cho thơ lãng mạn. Đó là những giấc mộng siêu thoát rất thanh, rất xanh, đầy thi vị. Có một thời chúng ta xem mọi mộng mơ, siêu thoát chỉ là thoát li thực tế mà không thấy đó là không gian tinh thần để giải phóng tâm hồn. Những giấc mộng cho phép nhà thơ phác họa nhiều chân dung người đẹp mang tính chất tượng trưng. Thơ Bích Khê có xu hướng lột trần mọi che đậy làm cho thân thể trong thơ xuất hiện với tính chất tự nhiên, phải chăng cũng có nghĩa là lột bỏ những ngôn từ lá nho che đậy? Loã thể trong nghệ thuật thường tượng trưng cho sự thuần khiết, tự do, sự thiêng liêng, chân lí và cả sự yếu đuối với ít nhiều nhục dục. Loã thể đánh dấu sự rời xa của thơ ca từ vũ trụ bao la, xã hội rộng lớn để trở về với sự chiêm nghiệm thân thể người.
Bích Khê đã đem lại một bữa tiệc của thân thể sống động, non tơ, kiều diễm:
Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc?
Vú non non? Da dịu dịu, êm êm?
Đâu hang báu cho ta phải khóc?
Trên môi son ta liếc lưỡi gươm mềm!
(Mộng cầm ca)
Ô cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm!…
Một bàn chân ve vuốt một bàn chân!
Mát làm sao! Mát rợn cả châu thân.
Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực.
Ôi! thớ thịt có đàn lên cung bực
Hồn tôi ôm gót ngọc lắng âm thanh…
(Bàn chân)
Bàn chân người, tuy là phần ngoại lộ, theo phân tâm học vừa tượng trưng cho sức mạnh nam tính, vừa tượng trưng cho dục tính nam và nữ, nhưng ở đây nó là bộ phận của một thân thể -- nhạc cụ lắng lọc những âm thanh và cảm xúc thẩm mĩ:
Những mặt tươi, nhan sắc đẹp như trăng
Và sắc lẻm như thanh gươm vấy máu;
Những đôi mắt kho tàng muôn châu báu
Có những hàng đũa ngọc gắp hương yêu;
Những môi son phản ánh một trời chiều
Một trời chiều mà muôn hoa nín thở;
Những vú nõn: đồi cong thon, nho nhỏ,
Với đôi dòng suối sữa trắng như tinh
(Sắc đẹp)
Thân thể hiện ra trong tất cả vẻ đẹp tự nhiên đầy cám dỗ. Nhưng thân thể cũng chứa sức mạnh. Biểu tượng thanh gươm sắc lẻm vừa tượng trưng cho sức sống, sức mạnh gạt bỏ mọi trở ngại, vừa là tượng trưng sức phá hoại. Tính tượng trưng đưa ngôn ngữ thân thể rời xa nhục thể để đi vào thế giới ý nghĩa cao siêu.
Lõa thể có khi xuất hiện với “vẻ đẹp của khiêu dâm” thì nhà thơ cực độ cuồng si cũng biết tự hãm mình lại với xúc động tinh thần, nhưng kẻ hãm lại là chủ thể lí trí, còn thân thể vẫn không giấu được cánh hồn si:
Ôi lồ lộ một toà hoa nghiêm động!
Tôi run run hãm lại cánh hồn si…
Ồ hai tay rơi chen ngọc lưu li,
Ồ hai chân nở màu sen ẻo lả,
Cho tôi nàng! Cho tôi nàng! Tất cả…
(Tranh lõa thể)
Trong thơ trữ tình luôn có sự khác biệt giữa cảm xúc thân thể và sự phán đoán, biểu đạt của chủ thể lí trí, nhưng phần độc đáo vẫn thuộc về thân thể. Tranh loã thể thể hiện sự chiêm ngưỡng, đắm say trước vẻ đẹp sống động, khêu gợi vĩnh viễn của con người. Và nhà thơ lấy đó để đối lập với vẻ đẹp giá lạnh, lơ đãng, quý phái mà thiếu hấp lực như làm bằng đá, bằng sắt, xa lạ với con người. Ông đem vẻ đẹp trong trắng mà hóa giải quan niệm khiêu dâm truyền thống. Cái gọi là “dâm” trong diễn ngôn (thơ văn, lời nói hàng ngày), theo M.Foucault, chỉ là quy phạm diễn đạt, là sản phẩm của những tập tục, kiêng kị mà thời gian cũng làm cho đổi thay. Bích Khê có thể là nhà thơ muốn bước qua cấm kị...
Quan niệm truyền thống đã lấy cái dâm mà che mất cái đẹp, nhà thơ muốn qua cái dâm nhìn ra cái đẹp trần gian. Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Xuân Hương, nhà thơ nữ truyền thống nổi tiếng với định luận “dâm và tục” một thời lại là nàng tiên được nói đến nhiều lần trong thơ Bích Khê:
Mộng trắng phau phau vót cung nga:
Xuân Hương người ngọc máu say ngà!
Nhấn dây tơ loạn buồn lơi lả
Đờn phất hương trăng nẩy điệu ra…
(Mộng)
Nhưng Xuân Hương của Bích Khê đồng thời cũng ở địa ngục:
Ừ, tội chi ta không vào địa ngục
Đặng xin nốt ngọc oan (= uyên?) ương thề thốt,
Giam chung thân mà sáng quá thiên đường;
Đặng ngủ nhờ một đêm với Xuân Hương…
(Ăn mày)
Có thể nói Bích Khê là nhà thơ hiện đại đầu tiên biện hộ cho Xuân Hương như một nhân cách đẹp. Sự đồng nhất địa ngục với thiên đường ở đây thật đặc biệt. Ngôn ngữ thân thể trong thơ Bích Khê là vũ điệu của các chủ đề đẹp, dâm, thơ, mộng, say mê, điên cuồng, âm nhạc, tình ái, khoái lạc, những trạng thái hợp thành quan niệm thơ phi lí tính của nhà thơ. Đối diện với mĩ nhân loã thể không phải là một nam tính hiếu dâm, mà là một tâm hồn nghệ sĩ rộng mở. Trong thơ Bích Khê thân thể chưa bao giờ là phương tiện của làm tình, lên giường,… G. García Marquez trong bài “Tình dục và văn minh” có nói: “Cả thân thể đều là đối tượng chăm chú của libiđô, là cái để hưởng thụ, là công cụ của khoái lạc”. Thân thể trong thơ Bích Khê không hoàn toàn là như thế, bởi nó thấm đượm hồn, cảm xúc thân thể đầy mĩ cảm, và chưa quan tâm “nửa thân dưới” của con người như một số nhà hậu hiện đại.
Con người là nút buộc vĩnh viễn không thể cởi ra được giữa văn hóa và sinh vật. S. Freud từng nói “con người là một thứ địa ngục”. Địa ngục là biểu tượng của trừng phạt, đày ải, của khủng khiếp và ghê sợ. Con người không giản đơn là thiện, cũng không giản đơn là ác, nó luôn luôn vật lộn với xác thịt để đi tới sự phong phú của tâm hồn. Trong thơ Bích Khê thân thể là cội nguồn cám dỗ và khoái lạc mà tột cùng hưởng thụ thẩm mĩ đầy nhạc và hương là “bưa”, “đã nư”, “no ứ”, “đê mê”, “miên man”, “ngất ngư”… Cái chết là cực điểm của khoái lạc, là trạng thái cơ thể được tan ra trong vũ trụ, nhân gian và trở thành vĩnh viễn:
Anh đừng khiếp. Lòng tôi mang địa ngục.
Mình nóng hổi và hơi ran giữa ngực
Tôi mê man ghì lấy một giai nhân
Hồn say sưa đương cố lột cho trần
Cả sắc đẹp ngời ra như lưỡi kiếm…
Trong phút lạ! Mơ hồ xương sọ vỡ.
(Một cõi trời)
Thơ bay về tắm mát âm ty
Xác tôi chết lạnh trôi đi
Lấy ai siêu độ từ bi,
Hồn xiêu hồn đến quy y bên nàng!
(Thơ bay)
Người nghệ sĩ lòng buồn hơn cổ độ
Khóc ngây thơ, mà tóc bạc không hay…
Lòng chết đi nhưng máu vẫn cuồng say
(Ngây thơ)
Đối với Bích Khê địa ngục, cái chết là giới hạn cuối cùng để lại thăng hoa, trở về với sự sống tâm hồn mà vẫn không hết cuồng say.
Bài thơ “Sọ người” thể hiện quan niệm nhà thơ về cái chết. Sọ người thông thường là tượng trưng cho cái chết. Chế Lan Viên cũng có bài thơ “Cái sọ người” trong đó nhà thơ muốn tìm lại và tiếp tục sự sống đã chấm dứt của nó. Nhưng ở bài thơ của Bích Khê cái sọ người lại là biểu tượng của sự sống lộng lẫy, tươi đẹp:
Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng!
Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương!
Ôi bình vàng! Ôi chen ngọc đầy hương!
Ôi hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng!
Ôi thần tình người chứa một trời thương.
Có thơ, có đào, có ngọc, có trăng, có tình thương là có sự sống. Cái thực sự chết là trái tim thiếu tình người, biến thành sắt thành đá. Trong thơ Bích Khê thường có sự đối lập sự sống với vùng tang, xương ma, nấm mộ… Nhà thơ đã so Ngọc Kiều với Sọ người như sau:
Ôi! Sọ người! Sọ người! Gương phép tắc!
Ngọc Kiều ơi ghé lại ngắm dung nhan.
Ngọc Kiều ơi ta chợp thấy tim nàng,
Tim nàng bằng đá, tim nàng bằng sắt,
Ngọc Kiều ơi, hơi độc sắp tràn lan!
Người ngất ngư. Chết trong muôn thế kỷ,
Chạy điên rồ… đứng sựng giữa xương ma,
Người là ai? Người có phải là ta?
(Sọ người)
Cái chết là sự sống đã lên đến cực độ và ở đó không có cái chết. Không phải vô cớ mà trong bài thơ tuyệt mệnh để ghi trên bia mộ nhà thơ viết:
Thân bệnh, ngô vàng mưa lá rụng
Bút thần, sông lạnh ánh sao rơi
Sau nghìn thu nữa trên trần thế,
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi.
Ngôn ngữ thân thể trong thơ Bích Khê mang tính chất lưỡng tính, vừa là thân thể, vừa tâm hồn, là sự thể nghiệm tâm hồn thân thể hóa, là sự cảm nhận sâu sắc của tồn tại con người. Bích Khê đã vượt qua sự giải bày, thổ lộ nỗi niềm mang tính chất lãng mạn để dấn sâu vào những thể nghiệm vừa khoái lạc, vừa đau đớn của kiếp người mà say, điên, dâm, mộng… chỉ là trạng thái tâm lí cần thiết để nhà thơ mở ra thế giới nghệ thuật của mình và siêu thăng trên cõi tục:
Ôi! say khướt mới dào muôn ý tứ;
Ôi! điên rồ mới ngớp ánh chiêm bao;
Ôi! dâm cuồng mới biết giá trăng sao.
Yêu bằng mộng là mơ tìm sáng láng...
Ngôn ngữ thân thể trong thơ là một vấn đề không nhỏ mà trên đây chỉ là một vài suy nghĩ sơ lược bước đầu.
Nguồn:
- Tham luận tại Hội thảo “Bích Khê và thơ Bích Khê” nhân 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 20-22/2/2006
- In trong cuốn “Bích Khê, Tinh hoa, tinh huyết”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008
NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI THƠ MỚI
BÀN VỀ THƠ BÍCH KHÊ
PGs. Nguyễn Hữu Sơn
Thi sĩ Bích Khê từng sáng tác thơ ca theo các thể hát nói và thơ Đường luật ở giai đoạn đầu rồi sau mới chuyển sang lối Thơ mới, in trên các báo Tiếng dân, Tiểu thuyết thứ Năm, Người mới... Đương thời ông mới chỉ kịp in tập Tinh huyết do Trọng Miên xuất bản tại Hà Nội (1939). Tập thơ gồm bốn phần với tổng số 34 mục bài. Có thể vì thế mà đương thời Thơ mới - tính cho đến năm 1945 - những người giới thiệu, bình luận về thơ ông chưa nhiều.
Tính đến nay bước đầu chúng tôi mới biết đến bài viết của các tác giả như Lê Tràng Kiều, Hàn Mặc Tử, Trọng Miên, Trần Thanh Mại, Hoài Thanh - Hoài Chân, Kiều Thanh Quế… Chúng tôi chủ ý chỉ tìm hiểu ý kiến của những người sống đồng thời với thời Thơ mới bàn về thơ Bích Khê bởi thấy rằng đó là nhận xét của người trong cuộc, không khí một thời, khi mà những đánh giá của họ còn trực diện, trực giác, tươi mới, chưa bị pha phách bởi những quan niệm thiên kiến ngoài văn chương hoặc do sự gián cách bởi thời gian như không ít trang bình luận, đánh giá ở giai đoạn sau này.
Chừng dư nửa năm trước khi tập Tinh huyết ra đời, nhà phê bình Lê Tràng Kiều đã giới thiệu về Bích Khê trên Tiểu thuyết thứ Năm: "Mới đây, các bạn đã được say sưa, càng đọc say sưa hơn, khi nghe được tiếng TỲ BÀ thần ảo ấy. Hãy im! Tác giả Tỳ bà, ông Bích Khê Lê Mộng Thu sắp cho ta nghe hai khúc đàn nữa, nó cũng như khúc Tỳ bà rất êm, rất nhẹ, có lẽ êm quá, nhẹ quá.
Khúc Hoàng hoa và khúc Nghê thường. Nghê thường (đăng số sau) sẽ mời các bạn, trong một đêm trăng sáng ngời những châu báu ngọc ngà, cùng Nàng Thơ nhịp nhàng lên chơi trên cung Hằng, xem nàng Xuân Hương ngực để trần và xem khúc Nghê thường của muôn Ngọc Nữ. Nhưng hãy để những nàng Ngọc Nữ trên tiên cung đấy! Kỳ này, các bạn hãy theo khúc Hoàng hoa, đưa tâm hồn đến với những người chinh phụ đang trông chồng nơi "ngàn khơi" kia! Chiều đã xuống. Ta hãy lắng nghe..." (Lê Tràng Kiều: Hoàng hoa. Tiểu thuyết thứ Năm, số 30, ra ngày 11-5-1939)…
Báo Tiểu thuyết thứ Năm (1937-1942) cũng là nơi Bích Khê đã cho in một số bài thơ. Trong số đó có những bài không đưa vào Tinh huyết nhưng riêng ba bài trên thì đều được tuyển chọn vào tập Tinh huyết và được đánh giá cao.
Không kể những lối thơ cổ của Bích Khê từng được hoan nghênh trên báo Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng, thơ mới Bích Khê chính thức trình làng bằng tập Tinh huyết cùng với bài tựa "Bích Khê thi sĩ thần linh" hết sức trang trọng và sâu sắc của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Trong lời giới thiệu này Hàn Mặc Tử kể lại mối duyên thơ với Bích Khê trong tâm tình của một người đã thành danh về một người đang trên đường khẳng định mình. Với giọng điệu chủ ý ra vẻ kẻ cả, thẳng thắn của người hơn nhau bốn tuổi, Hàn Mặc Tử đã góp phần kích thích nảy nở một tài năng thi ca: "Cái hy vọng của tôi sốt sắng quá, nóng nảy quá, đã một lần đưa tôi vào sự thất vọng chán chê và tức bực. Cuối năm ấy, chàng gửi ra cho tôi nhiều thơ, mà tôi chẳng lựa dược bài nào cả. Tôi gửi trả lại chàng kèm với bức thư mà tôi đã dùng rất nhiều lời khiêu khích mỉa mai (cốt làm cho chàng tức). Quả nhiên chàng giận run người lên và vội trả lời, thề với tôi rằng: Trong sáu tháng sẽ trở nên một thi sĩ phi thường, bằng không sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến làm thi sĩ nữa. Ngờ đâu sự hằn học của chàng đã bật nẩy thiên tài của chàng ra. Không đợi đúng sáu tháng, chỉ trong vòng ba tháng thôi, chàng đã viết được một tập thơ, viết bằng máu huyết tinh túy và châu lệ, và tất cả say sưa, đắm đuối của một hồn thi sĩ" (Hàn Mặc Tử: Bích Khê thi sĩ thần linh, trong tập Tinh huyết -1939)…
Không chỉ kỳ vọng, trông mong, đón đợi Bích Khê làm thơ mà Hàn Mặc Tử còn thực sự rung động, đồng cảm, nhập thân và nhiệt thành đánh giá cao thơ Bích Khê. Trước hết Hàn Mặc Tử thấy rõ nguồn cảm xúc mới mẻ trong thơ Bích Khê - cũng như bản thân dòng chảy Thơ mới - có sự tiếp xúc, tiếp nhận ảnh hưởng của thi ca phương Tây, trực tiếp là nguồn thơ Pháp: "Lối tượng trưng và huyền diệu ngời sáng như màu sắc của Paul Valéry, cho ta nhận thấy thi sĩ đã chịu ảnh hưởng nhiều của tác giả tập thơ Charmes. Nhưng chịu ảnh hưởng với một tài trí thông minh, khiến người đọc chỉ biết phục thiện mà không dám chê... Bích Khê là người có tài, có sẵn cái tài đã lâu, chỉ gặp cơ hội phát triển, là bao nhiêu anh hoa đều tiết lộ ra cả". Sau khi phân tích những tương đồng ở nguồn cảm hứng và chiều sâu khát vọng thẩm mỹ giữa Thơ mới và thơ Pháp, Hàn Mặc Tử xác định: "Tới đây, ta nhận thấy văn thơ của Bích Khê nhuốm đầy máu huyết của Baudeleire, tác giả tập Les Fleurs du Mal. Thơ lúc ấy sẽ ham thích hết sức những cái gì thanh cao, như hương thơm nhơn đức của vì á thánh, hay say mê điên dại cái gì hết sức tội lỗi mà người thế gian chưa từng phạm tới". Trong việc đọc và thẩm thơ Bích Khê, Hàn Mặc Tử đã mã hoá được những đặc trưng hết sức cơ bản của tập Tinh huyết. Với vốn kiến văn sâu rộng và trực giác thi ca nhạy bén, trong khi Bích Khê xếp đặt thơ mình theo bốn chủ điểm (Nhạc và lệ - Đẹp và dâm - Cuồng và ánh sáng - Châu) thì Hàn Mặc Tử lại "phân chất", chia thơ Bích Khê theo ba tính cách (Thơ tượng trưng - Thơ huyền diệu - Thơ trụy lạc) và đi đến so sánh, đối sánh, khái quát: "Ở khu vực tượng trưng và huyền diệu, ta đã ngợp với màu sắc chang chói, no ớn với nhạc hương dịu dàng, bây giờ ta hãy sang chơi địa hạt Trụy Lạc. Ở đấy dây thần kinh và gân huyết ta rung động say mê bởi những làn khoái lạc của xác thịt nóng, thơm, ran ran lên cả người"... Hàn Mặc Tử nhập thân đồng điệu với hồn thơ Bích Khê và phát hiện ra chính cái phần trực giác hết sức sâu lắng của Bích Khê ở dòng thơ mà ông duy danh là địa hạt Tượng trưng: "Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế, thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao thì lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu... Với những cảnh trí, sự vật rất tầm thường, hơn nữa, tội lỗi, nhuốc nha, rùng rợn mà chàng, trái lại, thấy ở những chỗ ấy lại là cao siêu, là nhơn đức, là thơm tho, khoái lạc cả (...). Trực giác của thi sĩ mạnh quá đến nỗi thấy nhan sắc lên hương, thấy cả sóng nghê thường đương nao nao gợn, và so sánh hai hàng nước mắt trong trắng của Nàng là hai chiếc đũa ngọc. Và thấy mái tóc u huyền xinh như một mùa thu mươn mướt, thi nhân bảo đấy là đêm đang ngủ mơ"... Chuyển sang xem xét địa hạt Huyền diệu, Hàn Mặc Tử nhấn mạnh đến "âm thanh và màu sắc" với những lời phân tích, bình luận sang trọng, thể hiện một năng lực và tầm văn hoá cao: "Thi nhân kéo ta đi lướt thướt trong cõi u hoài đằm thắm từ những bản đàn xốn xang hồi hộp như Tỳ bà, Mộng cầm ca, Hoàng hoa, sang qua một thế giới hào quang; nảy cho ta nghe một điệu nhạc hiền hậu và ngọt ngào vô cùng đến tê cả lưỡi và hàm răng (...). Âm thanh là một nửa tinh thần, anh hoa của thế giới Huyền diệu. Còn một nửa khác phải là màu sắc phương phi của khí thiêng hun đúc, rạng rỡ cả một trời lưu ly, mã não, trân châu"... Bàn tới địa hạt Trụy lạc, Hàn Mặc Tử tiếp tục có những quan sát hữu lý về ảnh hưởng thơ Pháp trong thơ Bích Khê mặc dù biết Bích Khê quá thấm nhuần nguồn cội Đường thi truyền thống: "Ở địa hạt dâm cuồng nầy, ta thấy thi sĩ Bích Khê hoàn toàn là Baudeleire. Vì trong tác phẩm chàng, gợi dục tình thì ít, mà làm cho người ta ghê rợn đến gớm guốc cái cảnh trần truồng khả ố thì nhiều. Tới đây, ta tưởng là đi đến chỗ tận cùng của vườn hoa nghệ thuật, nhưng không, chàng còn mở rộng biên giới để cho ta thấy chàng là một thi sĩ Đông phương rất "tàu" mà lời thơ chàng nhuộm đầy màu sắc của các thi gia đời Đường". Rõ ràng phải có sự am hiểu và nghiệm sinh ngay trong bầu khí quyển của cả hai nền văn hoá Đông - Tây đương thời thì Hàn Mặc Tử mới có được những nhận xét sâu sắc đến vậy về thơ Bích Khê, biện luận và chỉ ra được lý tưởng thẩm mỹ "cái đẹp không thấy" và lý giải việc thi sĩ tìm đến với những "cái gì đời đời", "cái gì hằng sống" và "thơ chàng sắp bay sang thế giới huyền bí để đi đến chỗ tuyệt đỉnh là Tôn giáo".
Có thể khẳng định lời tựa tập thơ Tinh huyết của Hàn Mặc Tử cho đến nay vẫn là bài đứng đầu trong số các trang viết về thơ Bích Khê cũng như tính chất mẫu mực của lối văn bình luận thơ ca nói chung. Xét trên một phương diện khác, dường như sau tập thơ Gái quê (1936) chủ yếu "tả tình quê trong cảnh quê", có lẽ gần cận với khoảng thời gian viết tựa cho tập thơ của Bích Khê thì Hàn Mặc Tử mới có chuyển biến rõ nét về phía lối thơ Tượng trưng, Siêu thực, Thơ điên và trở thành "thi sĩ của đội quân thánh giá", "khơi mạch thơ ở Đức Chúa trời" vào những năm 1937-1938. Điều này cho thấy một mặt Hàn Mặc Tử có sẵn cơ duyên để có thể cảm nhận, hoà nhập, thấu suốt hồn thơ Bích Khê; mặt khác, rất có thể những trang thơ Tượng trưng - Huyền diệu - Trụy lạc (và Tôn giáo) của Bích Khê đã ảnh hưởng trở lại và được đẩy cao hơn trong chính thơ Hàn Mặc Tử ở chặng đường cuối cùng của cuộc đời, trong khoảng hai năm 1939-1940. Nói cách khác, Hàn Mặc Tử đã khơi mở một lối thơ riêng độc đáo cho Bích Khê thì chính Bích Khê đã củng cố, tác động trở lại tới phong cách thơ Hàn Mặc Tử.
Cùng với Hàn Mặc Tử, Trọng Miên trong bài bạt Tinh huyết không đi sâu vào phân tích thơ ca nhưng đã có những cảm nhận, khái quát ngắn gọn và đánh giá cao Bích Khê cả về nguồn cảm xúc và thi tứ đạt đến tột đỉnh mọi sắc độ: "Tôi yêu Baudelaire đắm đuối, say sưa Hồ Xuân Hương sôi nổi, thì Bích Khê tuôn ra những lời nóng hổi, mê man nhủ cùng tôi chung một tấm tình thơ ngây ngất (...). Tinh huyết vang dội một nỗi đau khổ tuyệt vọng phủ qua màu sắc trụy lạc ồ ạt như muốn chảy tràn vào đường gân, mạch máu của tôi (...). Nhưng đau đớn, tuyệt vọng, oán hận, điên cuồng nung nấu máu huyết chàng tràn ứ ra những lời thơ ham mê, khát khao bồng bột, chói rực lạ thường". Phát hiện ra vẻ đẹp trong thơ Bích Khê như là sự đối nghịch của những cảm xúc và hình ảnh, Trọng Miên còn nhấn mạnh những ảnh hưởng thuận chiều, đồng vọng từ Hàn Mặc Tử tới Bích Khê: "Những đứa con cưng của địa ngục trong khi đắm đuối hồn vẫn ngước mắt nhìn trời, ước ao cao cả, thiêng liêng. Và nguồn cảm hứng đã khơi mạch thơ ở những cái gì sáng láng thanh cao. Ở đây tôi thấy Bích Khê chịu ảnh hưởng của Hàn Mặc Tử, thi sĩ đau thương, huyền diệu. Nhạc và lệ, đẹp và dâm, cuồng và ánh sáng, Bích Khê hoà hợp thành một dòng tinh huyết tân kỳ"... Trong vai trò người viết lời bạt và đứng ra in sách, Trọng Miên đã bày tỏ tiếng nói tri âm tri kỷ và tiếp nhận thơ Bích Khê bằng tất cả sự trân trọng, am tường, ngưỡng vọng, tôn vinh.
Trong tập sách phê bình-truyện ký Hàn Mạc Tử (Huế, 1941), Trần Thanh Mại kể thêm một vài chi tiết về mối quan hệ giữa thi sĩ họ Hàn với Bích Khê:
“Sự thành công rực rỡ của Thế Lữ càng làm cho thanh niên say sưa lắm. Kế đến, Phạm Huy Thông, Đỗ Huy Nhiệm, Nguyễn Xuân Huy, Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình Liên, Nguyễn Vĩ, Thao Thao, Lan Sơn, Thái A, B. Blan, chen nhau mà nhảy lên thi đàn mới. Ở Trung Việt thì có Lưu Trọng Lư, Thái Can, Thanh Tịnh... Bích Khê cũng từ giã vườn thơ của Tiếng Dân, trở về thu mình như một con rắn thay vỏ tại Thu Xà (Quảng Ngãi) để chiêm nghiệm một lối thơ thuần túy… Ngày 24 Juillet 1938, chàng viết thư cho Bích Khê, lúc bấy giờ còn chưa viết xong quyển Tinh huyết nữa: “Bích Khê anh ơi! Anh có đau khổ lắm không? Bao giờ thì chết? Và còn lâu hay đã gần rồi? Tôi cũng đang chết đây, nhưng vẫn thản nhiên lắm. Tôi mong anh sống đã, sống để đọc tập thơ điên Đau thương của tôi trước khi chết”.
Thế mà rồi chàng giới thiệu Xác thu của Hoàng Diệp ra năm 1937, viết bài ca tụng Điêu tàn của Chế Lan Viên ra năm 1938, đề tựa cho Tinh huyết của Bích Khê ra năm 1939, và đề bạt cho Một tấm lòng của Quách Tấn ra cùng năm ấy, trong khi chính tác phẩm của chàng thì vẫn không ra được...
Hàn Mạc Tử bảo Bích Khê rằng: “Sáng tạo là điều kiện cần thiết, tối yếu của thơ, mà muốn tìm nguồn cảm xúc mới lạ, không chi bằng đọc sách về tôn giáo cho nhiều. Như thế thơ văn mới trở nên trọng vọng, cao quý, có một ý nghĩa thần bí”…
Tiếp đến Hoài Thanh-Hoài Chân ở lời dẫn Một thời đại trong thi ca trong sách Thi nhân Việt Nam (Nguyễn Đức Phiên xuất bản, 1942), có ý đặt Bích Khê về phía lực lượng cách tân, khác biệt với những người "giữ chừng mực": "Tôi vừa nói Chế Lan Viên đi về thơ Đường. Nếu nói đi tới thơ tượng trưng Pháp có lẽ đúng hơn, tuy hai lối thơ này có chỗ giống nhau. Điều ấy thấy rõ ở tác phẩm một người rất gần Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử: Bích Khê. Từ Xuân Diệu, Huy Cận, thơ Việt Nam đã có tính cách của thơ Pháp lối tượng trưng. Nhưng còn dè dặt. Bích Khê và ít người nữa như Xuân Sanh muốn đi đến chỗ người ta thường cho là cao nhất trong thơ tượng trưng: Mallarmé, Valéry (...). Các ông Bích Khê và Xuân Sanh noi theo gương Mallarmé, Valéry không thèm gìn giữ gì hết. Trong tác phẩm của họ vẫn chừng ấy tiếng ta rất quen nhưng thảng hoặc ta mới tìm được dấu tích những ý tứ, những tình cảm ta vẫn quen gửi vào đó. Họ chạm trổ rất tỉ mỉ, không phải những rồng những phượng như ngày trước, mà những gì chẳng ai biết tên. Những gì đó đôi khi cũng đẹp. Đôi khi hình như họ đã diễn tả được những điều sâu kín, nhưng lời thơ rắc rối quá, dầu sao phần đông chúng ta cũng đành... kính nhi viễn chi"(4). Đến khi trực tiếp luận bình thơ Bích Khê, hai ông dường như không nói được gì nhiều hơn so với Hàn Mặc Tử ba năm về trước. Khi Hàn Mặc Tử dẫn bài thơ Tỳ bà có hai câu kết tuyệt bút:
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông
đã hết lời ngợi ca: "Đây là cả một trời yêu thương da diết, một trời tương tư, một trời âm hưởng, buồn nảo buồn nê: Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông" thì đến hai ông xác định: "Tôi đã gặp trong Tinh huyết những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam: Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng...". Khi Hàn Mặc Tử dẫn mười câu thơ trong bài Tranh lõa thể thì hai ông cũng biểu đồng tình dẫn lại và tán thưởng: "Mấy câu ấy đã được Hàn Mặc Tử phẩm bình bằng những lời xứng đáng (...). Vừa bước vào đã thấy vàng ngọc sáng ngời như thế, ai không tin đây là biệt thự một nhà triệu phú. Huống chi chủ nhân còn nói: Không, quý gì những vật mọn ấy! Kho tàng của tôi chính ở trong mấy phòng kia"…
Thống nhất với ý kiến không mấy thiện cảm về những lối thơ lạ từ trong Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh-Hoài Chân tỏ ra ngập ngừng khi làm quen với thơ Bích Khê: "Nhưng tôi chưa thể nói nhiều về Bích Khê. Tôi đã đọc không biết mấy chục lần bài Duy tân. Tôi thấy trong đó những câu thật đẹp. Nhưng tôi không dám chắc bài thơ đã nói hết cùng tôi những nỗi niềm riêng của nó. Hình như vẫn còn gì nữa. Còn các bài khác hoặc chưa xem hoặc mới đọc có đôi ba lần. Mà thơ Bích Khê, đọc đôi ba lần thì cũng như chưa đọc". Song dù thế nào thì đây cũng là những lời đánh giá thật sự chân thành, tâm huyết, chuẩn mực và thành thực của hai ông về thơ Bích Khê. Qua hơn nửa thế kỷ, thơ Bích Khê đã có vị trí vững chắc trong phong trào Thơ mới và trong nền thơ hiện đại thế kỷ XX. Và quả thật, thơ Bích Khê ý tại ngôn ngoại, "vẫn còn gì nữa", còn vẫy gọi, gợi mở, thách thức, chập chờn ở phía trước, phía bến bờ hiện đại. Hơn nữa, thơ Bích Khê trước sau vẫn nghiêng hẳn về lối thơ cao siêu, trí tuệ, tân kỳ, kén chọn bạn đọc, không phải thuộc dòng thơ truyền thống, quen thuộc, đại chúng, phổ cập, bình dân, bình dị, dễ nhớ, dễ thuộc. Song không phải Bích Khê đã cắt đứt với thơ truyền thống, không làm được những bài thơ dung dị, mượt mà. Trái lại, Bích Khê vẫn có những khổ thơ man mác thần thái Đường thi, vẫn có những bài lục bát nhuần nhị như Cuối thu, Mơ tiên, Huế đa tình... Xét cho kỹ, Bích Khê thân thuộc như bao người ở lối thơ truyền thống nhưng khác người, hơn người và siêu việt ở những dòng thơ ma quái, hiện đại, tân kỳ.
Chung qui, những ý kiến của người đương thời nói trên chí ít đã đề cập đến ba vấn đề cơ bản: 1) Xác định đặc điểm nội dung, hình thức nghệ thuật thơ Bích Khê trong phong trào Thơ mới; 2) Xác định khả năng giao lưu, tiếp nhận và ảnh hưởng đồng đại của thơ Bích Khê với nền thơ Pháp; 3) Đặt thơ Bích Khê trong tương quan thơ Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử; thơ Bích Khê trong tương quan thơ Nguyễn Xuân Sanh và nhóm Xuân thu nhã tập... Có thể nói đây cũng là những vấn đề cơ bản mà các nhà nghiên cứu hôm nay đang tiếp tục đi sâu khai thác, tìm hiểu.
Sau khi lược khảo những ý kiến người đương thời bàn về thơ Bích Khê, tôi trở lại nhấn mạnh một vài quan sát về vấn đề văn bản trong tập Tinh huyết và Thi nhân Việt Nam. Trước hết, trong bài tựa "Bích Khê thi sĩ thần linh", Hàn Mặc Tử ghi nhận và trích dẫn ba bài Thi tứ, Ảnh ấy, Thời gian từng khiến ông "sửng sốt với cái khởi điểm của một thiên tài sắp sửa" song trong tập Tinh huyết của Bích Khê lại chỉ tuyển duy nhất một bài Ảnh ấy? Có bài được Hàn Mặc Tử nhắc tới (Khách sạn) và bình giá "đã đưa đến cho ta những sự nhận xét rõ rệt" nhưng cũng không thấy Bích Khê đưa vào thi tập?... Đến Thi nhân Việt Nam, hai ông Hoài Thanh, Hoài Chân đồng ý với Hàn Mặc Tử và trích dẫn những câu, những đoạn thơ hay ở hai bài Tỳ bà, Tranh lõa thể nhưng đều không tuyển cả hai bài này. Trong phần chú thích, hai ông ghi rõ: "Trong một bức thư gửi cho chúng tôi đề ngày 7-1-41, Bích Khê nói rằng ba bài người thích nhất là Duy tân, Nấm mộ Bích Khê, Giờ trút linh hồn. Trong một bức thư khác đề ngày 25-10-41, Bích Khê lại nói người thích bài Xuân tượng trưng hơn cả"... Rút cuộc, trước số lượng thơ khá phong phú của Bích Khê nhưng hai ông đã không chọn một bài nào trong chính văn tập Tinh huyết và cả hai bài được tuyển cũng không từng được Hàn Mặc Tử trước đây nhắc tới trong bài tựa. Nguồn xuất xứ hai bài thơ này đều theo báo Người mới. Theo bản in lại tập Tinh huyết (Nxb Hội Nhà văn, H, 1995), cả hai bài chọn in (Xuân tượng trưng, Duy tân) đều được xếp vào mục "Những bài thơ khác" và đều có ý kiến đề cử của chính Bích Khê. Điều thú vị là ở thư trước Bích Khê nói thích ba bài (không có Xuân tượng trưng) nhưng đến thư sau lại nói thích nhất một bài mới được ông nghĩ lại, nghĩ thêm, tuyển thêm đích thị là Xuân tượng trưng. Có thể vì thuận theo Bích Khê mà hai ông chấp nhận tuyển bài này và chú rõ: "Chúng tôi trích bài này vì chiều theo lời yêu cầu của ông Bích Khê". Điều này cho thấy có những sự thay đổi trong chính nhận thức của Bích Khê về thơ mình; những so le, chênh lệch nhất định giữa Hoài Thanh - Hoài Chân với Hàn Mặc Tử trong cách cảm nhận thơ Bích Khê; việc Hoài Thanh - Hoài Chân trong lời mở đầu "Một thời đại trong thi ca" đánh giá cao nét độc đáo nhưng lại ngại ngần trước lối thơ tượng trưng Bích Khê và đến lời "Nhỏ to" cuối sách đã không một lần nhắc đến Bích Khê và cũng không xếp chung bên cạnh Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên của xóm thơ Bình Định nữa. Rõ ràng với việc coi Bích Khê là người chịu ảnh hưởng lối thơ tượng trưng điển hình và sâu sắc nhất cũng như việc chỉ tuyển chọn có hai bài (bên cạnh người hàng xóm Hàn Mặc Tử bảy bài, Chế Lan Viên tám bài) đã cho thấy khá rõ quan điểm của Hoài Thanh - Hoài Chân với ý nghĩa là người đương thời Thơ mới bàn về thơ Bích Khê…
Vừa hai năm sau khi tập thơ Tinh huyết của Bích Khê ra đời, Kiều Thanh Quế với bút danh Mộc Khuê trong chuyên khảo tổng kết Ba mươi năm văn học (NXB Tân Việt, H., 1941) đã điểm danh và đặt trong tương quan chung “Làng thơ mới (mới lẫn cũ) của văn học quốc ngữ trong vòng mười năm nay” rồi trân trọng ghi nhận: “Bích Khê noi gương chim hải nga đem Tinh huyết (1939) dâng hiến cho đời”… Xét trong toàn cảnh hoạt động phê bình Thơ mới, sau khi bộ sách tổng thành luận giải Thơ mới của Hoài Thanh - Hoài Chân ra đời, nhà phê bình Kiều Thanh Quế đã có bài điểm sách công phu Nhân đọc “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh và Hoài Chân, trong đó ông lên tiếng phản bác mạnh mẽ hai nhà phê bình và đưa ra chủ kiến riêng trong cách tiếp nhận lối thơ Hàn Mặc Tử - Bích Khê:
“Trong số các nhà thơ có tên trong quyển Thi nhân Việt Nam, tuy cũng có người đáng lẽ không nên liệt vào - và đọc họ bao nhiêu lần tôi cũng không có được cảm giác nào rõ rệt cả - nhưng có hai thi sĩ làm tôi bực tức nhất là: Hàn Mặc Tử và Bích Khê (…). Đến Bích Khê mà Hàn Mặc Tử hết lời khen tặng trong bài tựa tập Tinh huyết, tôi rất lấy làm lạ sao tác giả Thi nhân Việt Nam, đã viết được những trang thật giá trị, lại cũng thiếu sáng suốt như Hàn Mặc Tử mà bảo rằng: “Tôi đã gặp trong Tinh huyết (của Bích Khê) những câu hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam. "Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng, /Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông". Hai câu ấy có hay vào bậc nhất không, khỏi nói tất ai cũng biết nó may ra chỉ đọc nghe được mà thôi. Đã hết đâu! Đối với bài Duy tân tác giả Thi nhân Việt Nam, còn dám bảo: “Tôi đã đọc không biết mấy chục lần bài Duy tân. Tôi thấy trong đó những câu thật đẹp”.
Xin tìm một vài câu thật đẹp ấy:
… Vì hình dung những sắc mát non tơ,
Như mặt trời lọc qua khóm liễu, một
Hoàng hôn…
Trong ba câu thơ ấy, tôi thấy Bích Khê làm một cái liên cước (enjambement) sai luật thơ Pháp.
Theo luật thơ Pháp, phàm muốn làm liên cước, người ta chỉ được phép nối liền câu thơ trên với câu dưới bằng một động từ (verbe) với một túc từ (conplément), hay bằng một chủ từ (sujet) với một động từ, như trong hai câu thơ này của Trần Huyền Trân:
Tôi nghe xa lắm làn mây trắng
Rời bóng kinh thành lững thững đi
(Giao thừa)
Cái liên cước của Bích Khê lại nối liền một quán từ (article) với một danh từ (nom): chữ một trong câu thứ hai là quán từ nối liền với hoàng hôn trong câu kế là danh từ. Rõ ràng Bích Khê không hiểu luật thơ!
Thơ của Bích Khê, Hàn Mặc Tử đầy tưởng tượng. Nhưng các hình tượng, do óc tưởng tượng của hai ông tạo ra, rời rạc, vấp váp và rơi như lá vàng buổi chiều thu!” (Tri tân, số 134, tháng 3-1944)...
***
Trong điều kiện đổi mới và hội nhập hôm nay, sau những bước lùi tương đối trong cách thức đánh giá, khai thác, tiếp thu những giá trị Thơ mới, chúng ta đã hội đủ điều kiện để khẳng định lại vị trí của Bích Khê trong nền thơ dân tộc. Việc xác định diện mạo thơ Bích Khê trong tầm nhìn người đương thời một mặt nhằm khẳng định những tiếng nói trung thực, giàu cá tính và tri thức - qua đó cho thấy không khí một thời đại phê bình và sáng tạo thơ ca dân chủ, đa phương; mặt khác đưa lại bài học cần hiểu biết và tôn trọng đặc trưng sáng tạo nghệ thuật, về nhu cầu tiếp xúc đồng đại với thế giới hiện đại, về việc cần sưu tập một cách hệ thống chính các nguồn tư liệu người đương thời bàn về thơ Bích Khê cũng như người đương thời Thơ mới bàn về phong trào Thơ mới. Điều này cũng tạo nên sự đối sánh cần thiết với hoạt động nghiên cứu, đánh giá Bích Khê và Thơ mới ở giai đoạn sau. Hậu thế sẽ nhìn vào từng trang chữ trong lịch trình nghiên cứu Thơ mới và thơ Bích Khê mà bảo rằng: "Mỗ này trắng! Mỗ này đen! Mỗ này nhờ nhờ!"...
Nguồn:
- Tham luận tại Hội thảo “Bích Khê và thơ Bích Khê” nhân 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 20-22/2/2006
- In trong cuốn “Bích Khê, Tinh hoa, tinh huyết”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008
NHÀ THƠ BÍCH KHÊ VÀ BÀN THÀNH TỨ HỮU
Quách Giao
(Nhà văn, con trai nhà thơ Quách Tấn)
Ngày rằm tháng chạp năm ất Dậu tức 17 tháng giêng năm 1946 nhà thơ Bích Khê từ trần.
Ngày 27 tháng 5 năm Đinh Mùi tức ngày 4 tháng 7 năm 1967 nhà thơ Quách Tấn đã hoàn tất tập bút ký Đời Bích Khê. Và tập hồi ký được xuất bản ngày 25 tháng 7 năm 1971. Đến năm 2004 tập hồi ký này được tái bản trong bộ hồi ký Bóng Ngày Qua về phần Thầy và Bạn.
Từ trong các tác phẩm này tôi đã rút ra Tình bạn của nhà thơ Bích Khê với Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Yến Lan. Đây là nhóm Bàn Thành Tứ Hữu của Bình Định,
Bạn với nhà thơ Bích Khê trước tiên là Hàn Mặc Tử
Bích Khê biết Hàn Mặc Tử từ khi còn học ở Hà Nội (1932 - 1933) nhưng chỉ biết nhau qua văn chương, Bích Khê thường đăng thơ trên các báo Tiếng Dân (Huế), thỉnh thoảng cũng có đăng trên tạp chí Phụ Nữ Tân Văn (Sài Gòn). Đồng thời Hàn Mặc Tử cũng đăng thơ trên các báo này. Đến năm 1937 hai thi nhân mới thư từ cho nhau và càng ngày càng nồng đượm.
Thời bấy giờ Thơ Mới đã thắng Thơ Cũ. Phong trào thơ cũ và thơ mới phát động từ năm 1932 và đến 1941 thì chấm dứt. Hai thi nhân này không trực tiếp tham dự vào các cuộc tranh luận mà chỉ chú tâm vào việc làm thơ. Chủ trương của hai nhà thơ là “thơ không có mới cũ, mà chỉ có thơ dở và thơ hay”. Trước kia cả hai đều nổi tiếng trong làng thơ cũ. Năm 1932 Hàn Mặc Tử xuất bản tập thơ Gái Quê. Đầu năm 1938, Bích Khê gởi cho Hàn Mặc Tử 3 bài thơ mới (Thi Tứ, Ảnh ấy, Thời Gian) được bạn tán thưởng và cuối năm góp thơ thành tập lại gởi ra cho bạn thì được bạn phê bình là “quá kém”. Bích Khê giận xé nát cả tập thơ và viết thư ra thề cùng bạn: Trong 6 tháng sẽ trở thành một thi sĩ phi thường bằng không sẽ không bao giờ làm thơ nữa. Chỉ trong vòng ba tháng sau, Hàn Mặc Tử ứa nước mắt khi nhận được tập thơ Tinh Huyết của bạn gởi ra. Suốt cả buổi chiều hôm đó Hàn Mặc Tử nằm ôm tập thơ và hôm sau đã viết bài tựa cho tập thơ Tinh Huyết. Theo Hàn Mặc Tử tập Tinh Huyết là “Một bông lạ nở hương, một thứ hương quí trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc” “một đóa hoa thần dị”. Cuối năm 1939 tập thơ Tinh Huyết ra đời. Các nhà thơ cũ bảo thủ cho là “một quái thai”. Các nhà thơ mới và nhất là các bạn thanh niên thì đón tiếp một cách nồng nhiệt.
Về tình bạn Bích Khê hết sức thương yêu và kính trọng Hàn Mặc Tử. Những bức thư và những bài thơ của Hàn Mặc Tử gởi cho Bích Khê đều được coi như những tờ vàng ngọc. Và những lúc đi thăm Hàn Mặc Tử, Bích Khê ngồi sát một bên, cầm tay ôm lưng như một tình nhân, không chút kiêng dè bệnh tật. Tình thân thương bè bạn này đã ảnh hưởng không ít trong thơ Bích Khê… Tuy nhiên hai thi nhân vẫn giữ được bản sắc riêng tư.
Ngày 11 tháng 11 năm 1940 Hàn Mặc Tử mất tại Qui Hòa. Trước đó trong một giấc chiêm bao Bích Khê nằm mộng thấy Hàn Mặc Tử và thi nhân đã viết nên những dòng thơ thắm thiết trong bài Hàn Mặc Tử:
Bóng nào nhợt như ma / Khắp châu thân hổn hển / Huyền hồ nhìn không ra? / Lưu luyến dường thiết tha / Chờm chờm trên giường bệnh? / Bóng nào nhợt như ma / Khắp châu thân thấp thểnh / Huyền hồ nhìn không ra? / Hay là tôi hóa hai / Đã chết đi một nửa? / Hay là trời ban mai / Bị mù sương vây bủa / Làm buồn ngập hoàng hôn / Ảnh hưởng tới linh hồn / Tiều tụy! / Hiện ra hình ủy mị? /
Bóng nào trắng dần ra / Trên đầu đơm vòng hoa / Khắp thân in màu tuyết / Trong trẻo mà diễm tuyệt / Tơ tơ gần như nguyệt / Biếc biếc gần như thu, / Đều qui trên nét mặt / Hoàng hôn mai mờ sắc / Buồn ban mai trắng ra / Ôi, ôi không là ma / Đứng nhìn trong ý tứ / Quạnh quẽ nhìn không ra: / Gần rồi không còn xa: / Hàn Mặc Tử ! /
Châu lệ thắm tình say / Gặp gỡ có hôm nay / Chiêm / bao ngày liền ngày / Ngoài mình ai mà hay! /“Anh ơi từ đâu đến? / Em buồn em đang bệnh! / Anh ơi sao ra hai / Huyền hồ trong phôi thai / Hóa thân trong phương phi! / Người em rày mệt qúa? / Mà nay gặp cố tri / Hai tay đây rã rã !.. / Dìu lấy cùng nhau đi”/
Lời nức ra hơi hương / Dịu dìu tỏa trong buồng: / “Anh ơi tôi mới đến / Là hiện thân của bệnh / Quằn quại đau xót xa / Máu mủ nhìn không ra / Giờ phương phi! phương phi! / Là hình thơ tinh vi / Là hình thơ qui y / Mướt trong màu tuyết vẽ / Hai ra đều quạnh quẽ / Đứt ruột nhớ thương nhau/ Nấn ná sẽ lìa nhau / Chiêm bao còn thấy nhau !” / Rùng mình ta nhìn ra / Huyền hồ đã như ma, / - Ôi không phải là ma / Gần sao mà còn xa? / Lại đâu là quê nhà ? / - Hàn mặc Tử! Hàn Mặc Tử! /- Qui Hòa! Qui Hòa
Bài thơ cho chúng ta thấy:
Tình Bích Khê đối với Hàn Mặc Tử thắm thiết biết chừng nào. Nỗi buồn thương của hai nhà thơ mắc phải trọng bệnh đã biến ra thành thơ. Thơ chưa kịp gởi cho Hàn Mặc Tử thì nhà thơ họ Hàn đã qua đời.
Tiếp đến là tình bạn giữa Bích Khê và Chế Lan Viên.
Chế Lan Viên và Bích Khê chỉ quen nhau sau khi Hàn Mặc Tử mất. Mùa thu năm 1942 vì bệnh phổi tái phát nên Bích Khê phải ra điều trị tại bệnh viện P. Pasquier ngót 8 tháng. Tại đây lần đầu tiên Chế Lan Viên ghé thăm. Sau thấy bệnh không thuyên giảm nên Bích Khê về sống cùng mẹ và sau dời đến Bảo An Đông thuộc tỉnh Quảng Nam là quê của người chồng người chị thứ tám để tịnh dưỡng. Một hôm Chế Lan Viên cùng bạn là nhà giáo Nguyễn Đình từ Nha Trang ra thăm Bích Khê. Bích Khê vui mừng không kể xiết. Bao nhiêu tâm sự chất chứa từ lâu đều đem ra giãi bày. Nụ cười luôn luôn nở trên môi và lời tiếp lời trong những ngày gặp gỡ. Sau khi bạn đi rồi Bích Khê cùng chị trở về Thu Xà. Đó là hai lần gặp gỡ. Còn có một lần sắp được gặp nhau từ Nha Trang nhưng vì bị bệnh dợn đàng khi Bích Khê vào thăm Chế Lan Viên tại nhà thi sĩ Quách Tấn, nên phải đợi đến khi vào nhà thương trị bệnh phổi ở nhà thương Pasquier mới gặp nhau. Sau khi Bích Khê mất Chế Lan Viên có đến viếng mộ hai lần. Lần thứ nhất là năm 1946, lần thứ hai sau đó là ngày thống nhất đất nước.
Chế Lan Viên đã viết về người bạn của mình trong tập Thơ Bích Khê dưới nhan đề là Thơ Bích Khê năm 1988 do Sở Văn hóa Thông Tin Nghĩa Bình xuất bản.
Về tình bạn của Yến Lan với Bích Khê thì đơn giản nhưng thâm hậu. Yến Lan cùng một thời gian năm 1941 khi đi thăm Hà Tiên ghé lại Nha Trang cùng lúc với Chế Lan Viên. Và cả hai đều được tin Bích Khê sắp vào Nha Trang thăm Quách Tấn nên hai nhà thơ đều cùng nhau ở lại để cùng gặp gỡ, song vì Bích Khê bị cảm dọc đường nên cuộc hội ngộ không thành.
Qua Quách Tấn, Bích Khê cảm nhận được cái hay của thơ Yến Lan và có lòng trông chờ gặp mặt, song hai người chỉ có thơ từ qua lại không mà thôi. Năm 1942, vào mùa hạ, Chế Lan Viên và Yến Lan cùng vào Nha Trang ở cùng Quách Tấn và có nhiều bạn hữu có mặt nên có điện tín cho Bích Khê biết để vào gặp mặt, tuy nhiên vì bệnh tình trở nặng nên cuộc hội ngộ lại không thành.
Cuối cùng là tình bạn giữa Bích Khê và Quách Tấn.
Bích Khê và Quách Tấn biết nhau từ lúc có thơ đăng ở các báo Tiếng Dân và Phụ Nữ Tân Văn vào khoảng 1932. Năm 1939, Hàn Mặc Tử giới thiệu tập Một Tấm Lòng và Tinh Huyết. Hai tác giả thư từ qua lại…
Khi Hàn Mặc Tử mất hai bạn thơ mới được gặp mặt nhau và trở thành đôi bạn thân thiết. Nhà thi sĩ Quách Tấn ở Nha Trang rất thuận tiện cho việc ghé nghỉ chân khi đi từ Nam ra Bắc hoặc ngược lại. Năm 1941, Bích Khê vào Nha Trang thăm Quách Tấn và ở chơi được 20 hôm. Hai người thân nhau như đã gặp nhau từ lâu. Bích Khê nhỏ hơn 6 tuổi nên coi Quách Tấn như ông anh ruột thịt. Bao nhiêu điều tâm sự đều đem ra thổ lộ. Ngay việc bệnh mộng tinh cũng không giấu diếm. Nhà thơ họ Quách nhờ đến bác sĩ thân là bác sĩ Lê Văn Tân chữa trị một thời gian.
Ở Nha Trang, Bích Khê ngoài việc chuyện trò cùng Quách Tấn ngoài giờ công vụ Thi sĩ còn đọc sách, đọc thơ của Quách Tấn và trò chuyện cùng các bạn thơ của Quách Tấn như Nguyễn Tử Anh, Trần Khắc Thành... Bích Khê rất thích đọc các bài thơ Đường của Quách Tấn dịch nghĩa và thơ. Đồng thời cũng đọc luôn các tập ghi chú về thơ Pháp của Chế Lan Viên đã cùng Quách Tấn biên soạn nghiên cứu trong những tháng hè chung sống.
Bích Khê cũng đã kể lại cuộc tình duyên giữa Mộng Cầm cùng Hàn Mặc Tử vì Mộng Cầm là cháu ruột của Bích Khê. Bích Khê cho biết :
Mộng Cầm quen với Hàn Mặc Tử đã lâu. Hai bên có thư từ qua lại với nhau từ khi Tử còn làm sở Đạc Điền ở Qui Nhơn. Nhưng mãi đến lúc Tử vào Sài Gòn làm báo mới ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Mộng Cầm có đưa Hàn Mặc Tử đến gặp Bích Khê một lần tại trường Hồng Đức. Lúc ấy vì chưa quen thân nên cuộc gặp gỡ chỉ là sơ giao.
Bích Khê trả lời câu hỏi của Quách Tấn là Mộng Cầm có yêu Hàn Mặc Tử thật sự không?
Không yêu mà chiều thứ bảy nào, Tử cũng ra Phan Thiết để cùng Mộng Cầm đi chơi với nhau cho đến chiều chúa nhật hôm sau mới vào Sài Gòn. Hai bên giao tiếp thân mật với nhau ngót hai năm trời mà nếu không yêu nhau thì chỉ có gỗ đá.
Được hỏi là khi đó Bích Khê đã thân với Hàn Mặc Tử chưa thì Bích Khê đáp rằng chỉ thực sự thân với Hàn khi Hàn mắc bệnh ngặt nghèo và thân với Tử vì những bài thơ mới của Tử chó không phải vì bệnh của Tử. Rồi càng ngày thơ và bệnh cùng nhập lại thành một loại keo sơn gắn chặt hai người.
Những ngày sống tại Nha Trang Bích Khê đã được Quách Tấn đưa đi thăm các danh thắng tại Nha Trang và khi được biết mối tình của Quách Tấn với Liên Tâm thì Bích Khê đã có bài thơ Gởi Liên Tâm Nhờ Quách Tấn Trao Hộ là một bài thơ Đường và đưa vào tập thơ Tinh Hoa.
Cũng tại Nha Trang Bích Khê đọc và hiểu thơ của Yến Lan ngoài các bài thơ trong tập thơ Bến Mỹ Lăng. Đó là bài thơ Bình Định. Từ ấy Bích Khê yêu mến thơ Yến Lan như yêu mến thơ Chế Lan Viên. Ở chơi gần một tháng thì Bích Khê trở về Thu Xà.
Khi rời khỏi Nha Trang Bích Khê có viết trong tập bản thảo Mùa Cổ Điển (hiện nay còn bút tự) của Quách Tấn:
“Phê bình bằng mấy dòng:
Sau khi đọc Mùa Cổ Điển
Chỉ một bài Đêm Thu Nghe Quạ Kêu chừng nấy thôi, cũng đủ cho ta thấy thi sĩ đã vượt lên trên những thi sĩ có tiếng như Bà Huyện Thanh Quan, Yên Đồ, Chu Mạnh Trinh...
Tôi tin chắc rằng sau này Thi sĩ sẽ mở trực giác, phát tiết anh hoa, và hẳn trên Chiêu Lý đi đến cái Mạ hình Thanh thiên, cái Thuần túy của Thơ mà Hồ Xuân Hương và tác giả bản Tần Cung Nữ Oán Bái Công hai vị thần thơ đứng song song với Lý Bạch phương Đông, hay Mallarmé phương Tây đã đi đến.
Tôi mong còn sống đến ngày ấy để được hoan hô một vị thần thơ: Quách Tấn”.
Từ năm 1941 trở về sau, Yến Lan và Chế Lan Viên thường ở Nha Trang cùng Quách Tấn. Những thư và thơ của Bích Khê gởi vào Nha Trang đều gởi chung cho cả ba người. Trong năm 1941, Bích Khê đã sáng tác bài Xuân Tượng Trưng và được Chế Lan Viên tán thưởng.
Mùa hạ năm 1942, nhân có các bạn thơ tụ hội về Nha Trang, Quách Tấn gởi điện tín cho Bích Khê vào Nha Trang chung vui, song khi ấy Bích Khê bệnh trở nặng nên không vào được và phải điều trị tại bệnh viện Pasquier. Rồi từ năm ấy Bích Khê không còn có thời gian vào thăm nhà thơ Mùa Cổ Điển. Rồi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Và nhà thơ Bích Khê qua đời. Vì tình thế nên bạn bè không về dự được đám tang. Và nửa năm sau Quách Tấn mới biết được tin bạn mất. Bởi hồi ảo nảo nhà thơ Mùa Cổ Điển đã gởi lòng mình vào 5 vần ngũ ngôn khóc bạn:
Ngắm vọi trời Thiên Ấn
Cố nhân ơi! Cố nhân!
Bóng theo Hàn Mặc Tử,
Tâm gởi Ngũ Hành Sơn.
Danh vọng đài mây vút
Anh ba biển sóng dờn
Đã hay nghìn tuổi thọ,
Thương nhớ lụy đòi cơn.
Tình Trong Thơ Văn
Tuy không được gặp nhau từ Nha Trang nhưng Bích Khê vẫn thường xuyên gởi thư và thơ cho các bạn thơ trong Bàn Thành Tứ Hữu. Năm 1943 Bích Khê gởi đến các bạn Bàn Thành bài thơ Ngũ Hành Sơn (bài tiền và bài hậu) và một số thơ khác. Đồng thời vào cuối thu năm ấy Bích Khê gởi tất cả bản thơ những bài thơ làm sau Tinh Huyết cùng một số thơ trong Tinh Huyết đã sửa chữa lại vào Nha Trang để các bạn Bàn Thành chọn lựa và cho xuất bản vào dịp Tết 1944. Ngoài những bài Thơ Mới, Bích Khê lại kèm theo độ vài chục bài Thơ Cũ (Đường luật và ca trù) rút trong tập “Mấy dòng thơ Cũ”.
Tập thơ lấy tên là Đẹp.
Vì được giao toàn quyền tuyển chọn nên nhóm Bàn Thành đã bỏ đi các bài thơ trích trong tập thơ cũ đã làm lúc trước chỉ chọn lấy các bài Đường luật hay như Mộng Trong Hương, Gõ Bồn, Gởi Liên Tâm. Tuy nhiên Bích Khê phản đối vì cho rằng các bài thơ cũ đã được các bậc tiền bối như cụ Huỳnh Thúc Kháng ngợi khen nên không thể bỏ được. Do đó tập thơ Đẹp được hoàn về cho tác giả. Tết năm 1944 nhóm Bàn Thành nhận được thơ của Bích Khê tỏ ý hối hận về việc chủ quan của mình và thừa nhận là sự lựa chọn của các bạn là sáng suốt và đề nghị đổi tên tập thơ Đẹp ra thành Ngũ Hành Sơn hay Tinh Hoa. Đồng thời nhờ Chế Lan Viên đề tựa tập thơ và dự định xuất bản vào dịp kỷ niệm Thi hào Khuất Nguyên tức là ngày Tết Đoan Ngọ năm Mậu Thân (1944). Chế Lan Viên đã hoàn tất bài tựa và chỉ chờ có tiền là xuất bản ngay tập thơ Tinh Hoa. Trước đó bà Ngọc Sương (chị của Bích Khê) đã chuẩn bị việc tái bản tập thơ Tinh Huyết và xuất bản tập Tinh Hoa. Bìa đã vẽ, giấy đã mua, kiểm duyệt đã xong nhưng thời cuộc không thuận tiện nên đành phải đợi chờ thiện duyên.
Tuy tập thơ Tinh Hoa chưa xuất diện song phần nhiều thơ trong tập đã được các bạn thơ chuyền nhau đọc. Nhà thơ Quách Tấn đã có những nhận xét như sau:
Nếu sánh cùng sông thì Tinh Huyết là dòng sông mùa lụt, lai láng cuồn cuộn, song không thể giặt giải mũ của đám si phu. Còn Tinh Hoa là dòng sông xuân, nước vừa thiếp bờ, dễ khiến khách mỹ nhân nghiêng mình cười nụ.
Nếu sánh cùng hoa thì Tinh Huyết là khóm thược dược mọc bên bờ ao vắng vẻ, hoa nhiều nhưng lá lảy cũng nhiều. Còn Tinh Hoa là chậu hoa hồng, có bàn tay chăm sóc, nở thạnh nhoang không rườm rà.
Nếu sánh cùng nam nhơn thì Tinh Huyết là trai vừa lớn lên, sắc sung khí hăng, lắm lúc muốn dời cả núi. Còn Tinh Hoa là con ngườ “tam thập” tuổi đương xuân nhưng chuyện đời đã thấu rõ thiệt hơn.
Nếu sánh cùng thục nữ thì Tinh Huyết là gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu. Còn Tinh Hoa là gái một con trông mòn đôi mắt.
Nói một cách thực tế thì Tinh Huyết, thi tứ dạt dào, Tinh Hoa bút pháp già dặn. Trong Tinh Huyết nhiều khí “chất thắng văn” còn trong Tinh Hoa có thể nói là “văn chất bân bân vậy”
Chúng ta cũng nhận thấy:
Với Tinh Huyết, Bích Khê vụt ra đi theo Tây Âu
Với Tinh Hoa, Bich Khê lần lần trở về với á Đông.
Có một điều nổi bật là
Trong Tinh Huyết những bài xuân sắc phần nhiều là thơ bát ngôn hoặc thất ngôn bình than, nghĩa là làm thơ theo thể mới
Còn trong Tinh Hoa: những bài thành công phần nhiều là những bài làm theo thể ngũ ngôn hoặc thất ngôn cổ phong. Tuy là thể ngũ ngôn song cách điệu đều đổi mới, phép đặt câu, dùng chữ đều chịu ảnh hưởng Tây phương.
Thơ Bích Khê rất độc đáo, cốt cách riêng biệt, sắc thái riêng biệt không thể lẫn lộn cùng Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên được, mặc dù chịu ảnh hưởng lẫn nhau.
Trí tưởng tượng của Bích Khê thật phong phú và thuật sáng tạo của nhà thơ cũng cao cường, khiến hình ảnh âm nhạc, gây nhiều hứng vị bất ngờ.
Cùng với số thơ để lại, cũng đủ bằng cớ để tin rằng tinh thần của Bích Khê nhất định bất tử.
Sau nghìn thu nữa trên trần thế
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi.
Trân trọng kính chào quý vị.
Nha Trang ngày 10 tháng 2 năm 2006
(13 tháng giêng năm Bính Tuất)
Nguồn:
- Tham luận tại Hội thảo “Bích Khê và thơ Bích Khê” nhân 90 năm sinh và 60 năm mất nhà thơ Bích Khê, Quảng Ngãi, 20-22/2/2006
- In trong cuốn “Bích Khê, Tinh hoa, tinh huyết”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2008
NHẠC TÍNH TRONG THƠ BÍCH KHÊ
Phan Quốc Hải
1. Trong Thi nhân Việt Nam, đánh giá thơ Bích Khê, Hoài Thanh viết “Những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam” [1, 20]
Trong lời mở đầu luận văn cử nhân về Phong cách thơ Bích Khê, Nguyễn Hữu Vĩnh viết “Nhưng may mắn thay đã có thời gian và công lý, thời gian có khả năng sàng lọc và phán xét tất cả. Trong dòng chảy của nó, thời gian làm qúa khứ sống lại trong hiện tại và trả lại mọi chân giá trị của đời sống. Thời gian đã trả lại địa vị Bích Khê trên thi đàn Việt Nam.[3, 9]
Tròn 60 năm kể từ khi Bích Khê ra đi, thế hệ những người đi sau đã lần tìm và khám phá những bí mật hàm chứa bên trong tòa ngôn ngữ kỳ lạ thơ ông. Ở đó, trong thơ Bích Khê, người đọc được dìu vào cõi mê cung của âm hưởng ngọt ngào, của trầm lắng, của vương vấn, của họa tính và nhạc tính ngôn từ.
Thơ Bích Khê là thơ của âm thanh. Nhà thơ đã mã hóa cuộc sống bằng chính những thanh âm ngôn ngữ, đưa người đọc du dương vào cõi vĩnh cửu của trần gian, lắng nghe tiếng lòng, tiếng nói của thiên nhiên hòa điệu. Xa cách nhưng gần gũi, ẩn chứa và mở toang, bình lặng và thổn thức...
Ô! hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông
2. Thơ ca bao giờ cũng gắn với âm nhạc, lấy âm nhạc làm phương thức chuyển tải, biểu hiện. Với Bích Khê điều ấy là rõ ràng và quan trọng nhất trong thơ. Nhạc tính thơ Bích Khê là đỉnh cao của sự kế thừa có chọn lọc, cách tân, là sự nhào nặn của phương pháp thi ca tượng trưng Pháp và thi ca truyền thống Việt Nam.
Nổi rõ và thành công nhất về phương thức thể hiện nhạc tính thơ Bích Khê là cách dùng bằng thanh. Thực chất, dùng bằng thanh tạo nhạc tính trong thi đàn văn chương Việt Nam đã có nhiều nhà thơ đề cập. Xuân Diệu đã từng “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời/ tương tư nâng lòng lên chơi vơi”. Với Nguyễn Xuân Sanh thì: “Tay sương lam mờ đương buông tơ/ Nghe sương lam mờ đương giăng mơ/ Đêm rải men tràn nơi lối dẻo/ Hàng dương say đường thôi ngâm thơ”. Nhưng đó chỉ là những câu thơ rải rác. Đôi khi những thanh trắc xen vào và còn mang âm hưởng thơ cũ. Bích Khê thì không, nhà thơ đào sâu và tiến xa hơn đến mức hoàn hảo:
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi! nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
…
Buồn lưu cây đào xin hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông
(Tỳ bà - Tinh huyết, 1939)
Bài thơ là một bản tình ca trầm buồn. Nhạc điệu thơ như câu bùa chú đê mê dắt người đọc vào tận sâu trong cung bậc tình yêu: nhè nhẹ và ngọt ngào. Thanh bằng sử dụng trong thơ linh hoạt, cài đan xen theo hai chiều ngang-dọc đã dốc toàn bộ cái ý vị của lòng người vào thơ.
Với lối sử dụng bằng thanh, thơ Bích Khê như một phát đại bác nã vào bức tường đồ sộ nhưng rêu phong của thơ cũ. Nhà thơ đã tự mình xây nên cây cầu nối liền hai bờ thơ cũ và thơ mới. Và chính ông chứ không ai khác tự nguyện làm con ve sầu gồng mình trên cây cầu đó để hát khúc tráng ca về thơ mới. Với Bích Khê, những niêm luật, cách gieo vần, những ước lệ là barie cản trở tâm tình con người trong thơ, và với ông, loại bỏ những cái ấy hiển nhiên là điều cần thiết.
Trong phong trào thơ mới, Bích Khê không phải là người tiên phong đưa đường dẫn lối về cách sử dụng bằng thanh để tạo ra nhạc tính. Sự thật là những bài thơ như Tiếng Thu,, Một mùa đông, Còn chi nữa (Lưu Trọng Lư), Xây mơ (Xuân Sanh), Nhị hồ (Xuân Diệu) đã sử dụng cách này. Nhưng, những bài thơ ấy mới chỉ dừng lại ở mức kỹ thuật, rõ ràng và phần nào đó hơi Tây. Với Bích Khê thì hoàn toàn ngược lại, nhạc tính thơ ông là sự nhào nặn hoàn hảo của thanh âm và ngôn từ. Nó có chút ma quái, liêu trai mà đôi khi người đọc bị lôi cuốn, thôi miên trong điệu nhạc trầm trầm buồn buồn và nhiều cảm giác khó tả khác.
Thành tựu ấy là sự lao động không mệt mỏi của nhà thơ trong việc đi tìm cái cũ và cái mới, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp thi ca tượng trưng Pháp với phương pháp thơ truyền thống. Có thể nói, những hành xử trân trọng của Bích Khê với phương pháp thơ cũ và thơ mới là tấm gương đá