TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Thi hữu
BƯỚC TỚI ĐÈO NGANG BÓNG XẾ TÀ
BƯỚC TỚI ĐÈO NGANG BÓNG XẾ TÀ
TỪ: Vanvn- Cập nhật ngày: 8 Tháng 6, 2026 lúc 16:28
Đèo Ngang và Hoành Sơn Quan trên dãy Hoành Sơn – ranh giới giữa Hà Tĩnh và Quảng Trị – chiếm vị trí vô cùng đặc biệt trên dải đất hình chữ S của Việt Nam.
Khám phá ngọn núi nhô ra biển với những lớp trầm tích lịch sử – văn hóa đa tầng mở ra rất nhiều câu chuyện đặc sắc, thú vị đến lạ lùng…
Trên mọi miền đất nước mà tôi từng qua lại nhiều lần, không nơi nào gây xúc động mãnh liệt bằng đèo Ngang và Hoành Sơn Quan, mặc dù vật chất hiện hữu chỉ có cung đèo, chiếc cổng cổ và bậc đá lên xuống. Sự xúc động tột độ bởi nơi này chính là dấu mốc khởi đầu cho kỷ nguyên mở cõi của người Việt, một sự kiện mang tầm vóc vĩ đại bậc nhất của lịch sử dân tộc.
Hoành Sơn Quan những năm 1920 – Ảnh tư liệu
Ranh giới khắc nghiệt
Đứng trên đỉnh đèo Ngang vào một buổi chiều tà khi những làn sương mỏng bắt đầu bảng lảng vờn quanh những bậc đá cổ, tôi cảm nhận được một luồng gió mạnh mẽ thổi từ Biển Đông vỗ vào những vách núi dựng đứng.
Hoành Sơn không chỉ là một dãy núi, nó là một thực thể sống, một “hằng số địa lý” đã kiên cường án ngữ giữa dải đất miền Trung suốt hàng triệu năm, tạo nên một dấu gạch ngang hùng vĩ chia cắt hai vùng khí hậu, hai không gian lịch sử và từng là ranh giới của những nền văn minh đối lập.
Dãy Hoành Sơn là một nhánh của dãy Trường Sơn Bắc, đâm ngang ra tận Biển Đông với chiều dài khoảng 50km, tạo nên một “nút thắt” địa lý hiểm yếu bậc nhất, nơi dải đồng bằng miền Trung bị bóp nghẹt chỉ còn là một hành lang hẹp.
Hoành Sơn rộng khoảng 1.500km2, đỉnh núi cao nhất đạt 1.044m, đoạn đèo Ngang nhô ra biển cao 256m, dải núi khổng lồ bằng đá granit này chắn ngang con đường thiên lý Bắc – Nam suốt hàng trăm năm.
Đèo Ngang phân cách địa giới hành chính hai tỉnh Hà Tĩnh ở phía bắc và Quảng Trị ở phía nam; ngọn đèo cũng là ranh giới khí hậu giữa một bên là Hà Tĩnh thuộc khí hậu khu vực phía Bắc, một bên là Quảng Trị thuộc khí hậu khu vực Trung Trung Bộ.
Sự cực đoan và khắc nghiệt ở nơi này đã được cổ nhân ghi lại trong sách Ô châu cận lục: “Mạch núi ở Tổ Sơn dẫn đến, có thế rồng cuộn cọp ngồi, đồi cao ngăn chặn trập trùng, kéo dài ra tới biển, vách đứng cao vạn nhận, như bức trường thành án ngữ chặt vùng phương Nam”.
Chính địa thế “trên liền núi cao, dưới giáp biển lớn” này đã biến đèo Ngang thành một điểm nghẽn tự nhiên mang tính chiến lược. Trước khi có hầm đường bộ hiện đại, bất kỳ ai muốn đi qua đây đều phải khuất phục trước sự hiểm trở của những dốc đá quanh co, nơi “một người giữ, muôn người khó qua”.
“Cương giới động”
Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử ở Huế, Quảng Trị và Hà Tĩnh từng chia sẻ về những chuyến thực địa sâu trong dãy Hoành Sơn từ mấy chục năm trước nhằm tìm kiếm những dấu vết về lũy cổ Lâm Ấp hay lũy cổ Hoàn Vương được xem là biên giới Việt – Chăm từ thuở xa xưa.
Dù trong vô vàn khó khăn, hiểm nguy, các nhà nghiên cứu cho biết từng rất ngỡ ngàng và xúc động khi tìm thấy dấu tích và một số đoạn lũy đá xếp khan giữa rừng xanh ngút ngàn. Sau những chuyển thực địa, kết quả nghiên cứu cho rằng hệ thống lũy cổ Lâm Ấp/Hoàn Vương này nguyên xưa được xếp bằng các lớp đá núi chồng lên nhau một cách vững chãi, nhiều đoạn rộng từ 2-5m, chạy băng qua các đỉnh núi từ Xuân Sơn qua Thần Đầu đến Ngưu Sơn dài khoảng 30km.
Đây chính là minh chứng vật chất cho khái niệm “cương giới động” đầy biến động. Sử liệu Trung Hoa như Thủy kinh chú ghi nhận rằng vào năm 347, chúa Lâm Ấp là Phạm Văn đã xin lấy núi Hoành Sơn làm địa giới phía bắc của mình.
Kể từ đó, suốt nhiều thế kỷ Hoành Sơn trở thành vùng đệm tiếp xúc, nơi va chạm và giao thoa giữa không gian văn hóa Hán hóa phần nào ở phía bắc với vương quốc Lâm Ấp – Champa ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ ở phía nam.
Hoành Sơn trong giai đoạn này không phải là một đường biên giới tĩnh. Nó co giãn theo bước chân của những đoàn quân. Có lúc ảnh hưởng của Champa vượt dãy Hoành Sơn tiến ra tận Ái Châu, Hoan Châu.
Có lúc các triều đại phương Bắc lại tổ chức phản công để tái chiếm cứ điểm này. Hệ thống lũy đá cổ chính là biểu tượng của nỗ lực xác lập chủ quyền và kiểm soát không gian của các thế hệ cư dân cổ xưa vùng biên viễn.
Kiến trúc Hoành Sơn Quan được xây dựng năm 1833 thời Minh Mạng – Ảnh: Hội KHLS Hà Tĩnh cung cấp
Dấu ấn trọng đại của dân tộc
Bước ngoặt lịch sử làm thay đổi vĩnh viễn sứ mệnh của Hoành Sơn chính là sự kiện năm 1069. Trong cuộc Nam chinh năm ấy, đoàn quân của vua Lý Thánh Tông đã bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ (Rudravarman III) đưa về giam ở kinh thành Thăng Long.
Để được tha mạng và trở về nước, Chế Củ đã xin cắt ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh (đến khoảng Gio Linh, Quảng Trị ngày nay) dâng cho Đại Việt.
Sự kiện này không chỉ đơn thuần là một chiến thắng quân sự mà còn là cột mốc chính thức khởi đầu cho công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam của người Việt.
Từ một “biên giới đối đầu” đầy hiểm nguy, Hoành Sơn bắt đầu chuyển mình trở thành một “cửa ngõ chuyển tiếp”. Khối núi đá granit chắn ngang trời ấy đã không còn là bức tường ngăn cách tuyệt đối mà trở thành bệ phóng mở ra một kỷ nguyên mở cõi rực rỡ và oai hùng của Việt tộc.
Dạo bước ngày nay, tôi bồi hồi bước trên những bậc đá cổ dẫn lên đỉnh đèo, tưởng nhớ đến 3 vạn dân phu mà Ngô Tử An đã dẫn dắt để mở đường bộ từ cửa biển Nam Giới đến châu Địa Lý vào năm 992 theo lệnh vua Lê Đại Hành.
Con đường vượt đèo Ngang ấy chính là huyết mạch đầu tiên để người Việt, văn hóa Việt theo chân những lưu dân người Việt đất phương Nam vượt dãy Hoành Sơn, hòa mình vào vùng đất mới ở phía Nam.
Sự chuyển dịch từ “cựu thổ” sang “tân thổ” – một vùng trời mới đã gieo vào lòng Hoành Sơn những trầm tích văn hóa đa tầng. Đó là nơi các dòng chảy văn hóa Việt – Chăm gặp gỡ, va chạm và thẩm thấu lẫn nhau, tạo nên một vùng di sản đa lớp, đa sắc rất đặc biệt.
Hoành Sơn – đèo Ngang từ đây không chỉ là ranh giới của địa lý mà đã trở thành mắt xích đầu tiên trong chuỗi xích vàng nối liền giang sơn, khẳng định bản lĩnh của một quốc gia luôn biết cách biến những hiểm trở thiên nhiên thành sức mạnh của sự thống nhất.
Hoành Sơn hôm nay vẫn lặng lẽ nhìn ra Biển Đông nhưng trong từng viên gạch đá của Hoành Sơn Quan hay những đoạn lũy đá xếp khan giữa rừng rậm, tiếng vọng của nghìn năm mở cõi vẫn còn rung động tâm can mỗi người lữ khách khi đặt chân đến “cổng trời” này…
“Từ những ghi chép sớm trong Thủy kinh chú cho đến các bộ địa chí, dư địa chí và chính sử như Ô châu cận lục, Phủ biên tạp lục, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh dư địa chí…, hình ảnh dãy Hoành Sơn được nhất quán mô tả là một dãy núi “chạy ngang ra biển”, giữ vị trí địa thế hiểm yếu.
Các thư tịch cổ cho thấy nhận thức của người đương thời về Hoành Sơn không chỉ dừng lại ở mô tả địa mạo tự nhiên mà đã được nâng lên thành một quan niệm không gian mang tính lịch sử – chính trị rõ nét.
Trong tiến trình lịch sử dân tộc, dãy núi này từng là giới hạn phân định giữa Giao Châu với Lâm Ấp – Chiêm Thành; là tuyến kiểm soát giao thông huyết mạch theo trục Bắc – Nam” – trích Khảo cứu đèo Ngang – Hoành Sơn qua các tư liệu lịch sử, địa chí của Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Kiều Uyên.
“Trong lịch sử Việt Nam hiếm có một dãy núi nào gắn với vận mệnh chính trị của một triều đại sâu sắc như Hoành Sơn. Câu sấm nổi tiếng của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” không chỉ mang ý nghĩa tiên tri mà còn phản ánh tầm nhìn địa chính trị sắc sảo về vùng đất Thuận Quảng”, TS Trần Đình Hằng, phân viện trưởng Phân viện Văn hóa, nghệ thuật, thể thao và du lịch miền Trung, nhận định về vai trò của dãy Hoành Sơn đối với thời chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn như thế.
Hầm đèo Ngang xuyên qua Hoành Sơn quan – Ảnh Thái Lộc
“Vạn đại dung thân” – mật mã địa chính trị thay đổi dòng tộc
Năm 1545, sau khi danh tướng Nguyễn Kim bị ám hại, chính sự triều Lê (Trung Hưng) lọt vào tay chúa Trịnh Kiểm.
Trong bầu không khí nghẹt thở của những cuộc thanh trừng, người con trưởng của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông được cho đã bị sát hại, đẩy người em là Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào thế vô cùng hiểm nguy.
Chuyện xưa kể rằng giữa cơn bĩ cực, Nguyễn Hoàng đã ngầm sai người tìm đến Nguyễn Bỉnh Khiêm hỏi kế sách. Sách Đại Nam thực lục phần tiền biên, ghi: “Chúa nghe tiếng Nguyễn Bỉnh Khiêm (người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái bảo về trí sĩ) giỏi nghề thuật số, nên ngầm sai người tới hỏi.
Bỉnh Khiêm nhìn núi non bộ trước sân ngâm lớn rằng: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (nghĩa là: Một dãy núi ngang có thể dung thân muôn đời được). Sứ giả đem câu ấy về thuật lại. Chúa hiểu ý!”.
Hiểu được mật ý, Nguyễn Hoàng nhờ chị là Ngọc Bảo thuyết phục người chồng Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hóa – vùng đất lúc bấy giờ được coi là “Ô Châu ác địa”.
Năm 1558, khi Nguyễn Hoàng dẫn đoàn quân vượt đèo Ngang vào Nam, ông đã chính thức biến dãy núi này từ ranh giới địa lý thành bệ phóng cho một vận hội mới. Hoành Sơn từ đó không chỉ là núi, mà là biểu tượng của sự sinh tồn và khát vọng vươn mình của dòng họ Nguyễn.
Trở lại lời sấm của bậc hiền triết, nó không đơn thuần là một lời khuyên lánh nạn, mà là một phép giải mật mã địa lý chiến lược. Hoành Sơn – dãy núi granit đâm ngang ra biển – chính là bức tường thành tự nhiên, một vùng trời riêng, là “điểm tựa địa chính trị” lý tưởng để xây dựng cơ nghiệp nhiều đời.
TS Phan Tiến Dũng, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử TP Huế, nhận định lời sấm Trạng Trình “là thông điệp chính trị sâu sắc mang tính dự báo chiến lược của nhà trí thức Bắc Hà vào giai đoạn đó. Xét trong tiến trình lịch sử, đã phần nào được kiểm chứng qua sự nghiệp mở cõi và xây dựng chính quyền của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong”.
Những cuộc giao tranh đẫm máu
Sự trỗi dậy của họ Nguyễn đã kéo theo hơn trăm năm nội chiến Trịnh – Nguyễn. Đèo Ngang, với vị thế “yết hầu” trên con đường thiên lý, đã trở thành một “tọa độ lửa” thực sự. Sử liệu ghi nhận, khu vực này thường xuyên là nơi đối đầu, lúc thì quân Trịnh, lúc quân Nguyễn chiếm giữ.
Nhiều nhà chuyên môn đặc biệt chú ý đến các dấu tích mà các thư tịch cổ có nhắc đến: lũy Ông Ninh, Ông Nang mà ngày nay thường gọi là lũy Kỳ Anh nằm ở phía tây nam của dãy Hoành Sơn. Hệ thống lũy này được ghi chép do Ninh Quận công Trịnh Toàn cho đắp nhằm ngăn chặn quân chúa Nguyễn tấn công ra Bắc.
Kết quả đợt khảo sát thực địa năm 2012, các nhà chuyên môn xác định lũy Kỳ Anh là hệ thống phòng thủ quân sự quan trọng do chúa Trịnh xây dựng vào thế kỷ 17 trong thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh. Hệ thống gồm ba tuyến, một lũy đất, hai lũy đá.
Cuộc khai quật khảo cổ tại khu vực “Đấu Đong Quân”, xã Kỳ Lạc cho thấy tường lũy đá được xây dựng tỉ mỉ, có các lỗ vuông xuyên thân lũy được đoán định vừa để thoát nước, vừa làm lỗ hỏa mai tác chiến. Nền lũy được xử lý kỹ bằng đất đồi nện chặt và lát đá phiến lớn để chống xói mòn.
Tại xã Kỳ Hoa, dấu tích lũy đá dài khoảng 200m, được coi là tuyến phòng thủ thứ ba với hào sâu phía nam nhằm cản trở đối phương.
Cuộc khảo sát còn phát hiện dấu tích kiến trúc tại đền Cây Da Đồn với các phiến đá chân tảng (đỡ cột nhà) và hiện vật gốm sứ khoảng thế kỷ 17. Các nhà chuyên môn xác định bước đầu đây là điểm tâm linh quan trọng trên con đường huyết mạch Bắc – Nam xưa.
Lần theo sử sách, giai đoạn 1655 – 1660, khu vực phía đông lẫn phía tây nam Hoành Sơn từng chứng kiến những cuộc giao tranh ác liệt nhất. Quân Nguyễn dưới sự chỉ huy của các hổ tướng như Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật đã nhiều lần vượt đèo đánh chiếm vùng Kỳ Hoa, nam Hà Tĩnh ngày nay.
Những cái tên như dinh Hà Trung, đồn Chợ Ròn hay núi Thần Đầu đã thấm đẫm máu của binh sĩ hai miền.
Có những trận đánh, quân Nguyễn phải dùng kế “điệu hổ ly sơn”, giả vờ rút quân về sông Gianh để dụ quân Trịnh tiến vào túi trận trên đỉnh đèo Ngang. Đèo Ngang lúc ấy không còn vẻ trữ tình như trong thơ Bà Huyện Thanh Quan sau này, mà là một vùng đất triền miên binh đao máu lửa.
Trong lịch sử, ải Hoành Sơn quan chính là “cửa ngõ” phía bắc của vùng kinh đô triều Nguyễn – Ảnh tư liệu
Di huấn giữ đất từ dãy núi thiêng
Trong tâm thức của các chúa Nguyễn, Hoành Sơn luôn chiếm giữ một vị trí thiêng liêng. Năm 1613, trước khi qua đời, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã di huấn cho con trai Nguyễn Phúc Nguyên bài học về quản trị và bảo vệ lãnh thổ mang tầm nhìn chiến lược viễn kiến.
Sách Đại Nam thực lục ghi lời di huấn của chúa Tiên: “Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang [Hoành Sơn] và sông Gianh [Linh Giang] hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia [Thạch Bi sơn] vững bền.
Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta”.
Tư duy này xem Hoành Sơn không phải là điểm kết thúc, mà là “lá chắn phía bắc” vững chắc nhất để bảo vệ thủ phủ Đàng Trong từ xa. Các đời chúa Nguyễn sau đó luôn khắc cốt ghi tâm lời dặn này, coi việc giữ bằng được đèo Ngang và sông Gianh là điều kiện sinh tử để duy trì và phát triển cơ nghiệp.
TS Trần Đình Hằng nhận định về giá trị quân sự của dãy Hoành Sơn rằng: “Đối với chính quyền Đàng Trong, đây là tuyến án ngữ quan trọng khống chế con đường từ Bắc Hà tiến vào Thuận Hóa. Dãy núi chắn ngang ra biển, kết hợp với hệ thống sông Gianh và địa hình hiểm yếu của đèo Ngang, tạo nên một phòng tuyến tự nhiên có giá trị chiến lược đặc biệt.
Tuy trong thực tế chiến tuyến chính thời Trịnh – Nguyễn thường tập trung ở khu vực sông Gianh và lũy Thầy, nhưng Hoành Sơn vẫn giữ vai trò như tuyến phòng thủ chiều sâu, vừa quan sát, cảnh giới, vừa kiểm soát các tuyến giao thông Bắc – Nam.
Điều đó lý giải vì sao trong các nguồn sử liệu thời Nguyễn, Hoành Sơn luôn được nhắc đến như một vị trí hiểm yếu cần đặc biệt lưu tâm”…
“Từ lời tiên tri của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, đến lời căn dặn trước lúc lâm chung của Chúa Nguyễn Hoàng, thêm một lần nữa khẳng định vị trí hiểm yếu và tầm quan trọng của vùng đất từ phía nam núi Hoành Sơn đến phía bắc núi Hải Vân, có ý nghĩa quyết định tương lai, vận mệnh và sự hưng thịnh của dòng tộc chúa Nguyễn.
Do đó, các thế hệ hậu thế của Chúa Nguyễn Hoàng đã quyết tâm giữ cho bằng được vùng đất này trong bất luận hoàn cảnh nào. Chính vì vậy, nhà Nguyễn đã làm nên nghiệp lớn khi lập nên triều đại tồn tại 13 đời vua, kéo dài suốt 143 năm (1802 – 1945)”, Phạm Thị Anh Đào, Trưởng phòng Nghiệp vụ di tích Bảo tàng Quảng Trị.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.