• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
CHIẾU VẬT “TRĂNG” TRONG THƠ THIẾU NHI CỦA XUÂN QUỲNH VÀ TRẦN ĐĂNG KHOA

CHIẾU VẬT “TRĂNG” TRONG THƠ THIẾU NHI CỦA XUÂN QUỲNH VÀ TRẦN ĐĂNG KHOA



NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ

Sinh năm 1993 tại Quảng Ngãi

Giảng viên Trường Đại học Phạm Văn Đồng

***

 

Xuân Quỳnh và Trần Đăng Khoa là hai trong những nhà thơ xuất sắc của dòng thơ Thiếu nhi Việt Nam. Thơ của các tác giả thể hiện rõ sự hồn nhiên, ngộ nghĩnh, đáng yêu đúng như tâm lí lứa tuổi nhi đồng nhưng không kém phần sâu sắc và triết lí - thứ triết lí mà bạn đọc ở mọi lứa tuổi đều có thể cảm nhận theo cách riêng của mình. Viết cho thiếu nhi, cả hai nhà thơ đều có chỗ đứng riêng trong lòng độc giả, chính vì vậy, cho đến thời điểm này, không ít những công trình nghiên cứu xoay quanh các sáng tác thơ thiếu nhi của Xuân Quỳnh và Trần Đăng Khoa từ nhiều góc độ: lí luận và phê bình văn học, thi pháp học, ngôn ngữ học… Tuy nhiên, việc tiếp cận thơ thiếu nhi từ góc nhìn của Ngữ dụng học, cụ thể là từ lí thuyết chiếu vật, đến nay vẫn còn là một mảng trống, hứa hẹn sẽ đem đến nhiều điều mới mẻ và thú vị.

Bài viết này dựa trên việc vận dụng lí thuyết chiếu vật để tiếp cận các văn bản thơ viết cho thiếu nhi qua các biểu thức chiếu vật chứa “trăng”. Trên cơ sở đó, chúng tôi chỉ ra ý nghĩa mà các biểu thức chiếu vật này đem lại trong việc thể hiện thế giới tâm hồn thơ trẻ, góp phần tìm ra sự tương đồng và khác biệt trong phong cách sáng tác thơ dành cho thiếu nhi của các tác giả Xuân Quỳnh và Trần Đăng Khoa.

Xuân Quỳnh: Từ cảm quan tính nữ đến vẻ đẹp riêng tư - Sài ... XUÂN QUỲNH (1942 - 1988)

Chiếu vật (reference) được các nhà nghiên cứu xem như là một bình diện quan trọng của Ngữ dụng học. Georgia M. Green([1]) đã viết: “[…]the term reference as indicating the means by which a speaker utters a linguistic expression in the expectation that it will enable his addressee to infer correctly what entity, property, relation, event, or  the like he is talking about” [6; tr.37]. (Chúng tôi tạm dịch như sau: […] Thuật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ một biểu thức ngôn ngữ mà người nói sử dụng với hi vọng rằng biểu thức đó sẽ giúp cho người nghe (đọc) của anh ta suy ra được một cách đúng đắn cái thực thể, đặc tính, quan hệ, sự kiện nào đó mà anh ta đang nói đến). Liên quan đến khái niệm này, Đỗ Hữu Châu đã có quan điểm như sau: “Quan hệ giữa phát ngôn (diễn ngôn) với các bộ phận tạo nên được gọi là chiếu vật” [3, tr.186].

Dựa trên cơ sở của một số khái niệm nêu trên, theo chúng tôi, chiếu vật là một hành vi – hành vi chiếu vật, mà ở đó người phát ngôn dùng một biểu thức ngôn ngữ mà thông qua biểu thức ngôn ngữ này, nhằm làm cho người nghe hoặc người đọc nhận biết được không chỉ là “một sự vật”, “sự kiện”, “thực thể nào đó” mà bao gồm cả “một quá trình”, “một hành động” hay “đặc tính”, “quan hệ ” nào đó mà anh ta muốn nói đến.

Biểu thức chiếu vật (BTCV) (referring expression) có khái niệm như sau: “Biểu thức ngôn ngữ khi thực hiện được chức năng chiếu vật được gọi là biểu thức chiếu vật.”(2)

Theo chúng tôi hiểu thì các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện hành vi chiếu vật được gọi là các biểu thức chiếu vật. Cũng như các tín hiệu ngôn ngữ khác, biểu thức chiếu vật cũng có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Cái biểu đạt của biểu thức chiếu vật là các đơn vị ngôn ngữ tạo nên nó, cái được biểu đạt là sự vật tương ứng hay chiếu vật tương ứng.

Trong bài viết này, chúng tôi miêu tả các biểu thức chiếu vật chứa “trăng” trong thơ thiếu nhi Trần Đăng Khoa và Xuân Quỳnh trên hai bình diện: bình diện cái biểu đạt và bình diện cái được biểu đạt.

Hành vi sử dụng một biểu thức ngôn ngữ nào đó để chuyển các sự vật, hiện tượng đang được nói đến vào trong phát ngôn là hành vi chiếu vật. Những sự vật, hiện tượng được biểu thị bởi biểu thức chiếu vật chính là nghĩa chiếu vật (referent). Nghĩa chiếu vật của các biểu thức chiếu vật không chỉ hiểu đơn giản là một “sự vật, sự kiện” hay “cái thực thể nào”, “sự kiện nào”đó được chiếu mà còn bao gồm cả “một quá trình, một hành động” hay “đặc tính nào, quan hệ nào” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, [3, tr.199]) được người nói đưa vào diễn ngôn với ý đồ chiếu vật.

Như ở trên đã trình bày, các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện hành vi chiếu vật được gọi là các biểu thức chiếu vật. Vậy phương thức chiếu vật là “phương thức tổ chức các kiểu biểu thức chiếu vật nhờ chúng mà người nói thực hiện sự chiếu vật và người nghe suy ra nghĩa chiếu vật” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, [3, tr.213]). Có ba phương thức chiếu vật là: phương thức dùng tên riêng, phương thức dùng biểu thức miêu tả và phương thức chỉ xuất.[2] Trong bài viết này, chúng tôi khảo sát chủ yếu ở phương thức chiếu vật dùng biểu thức miêu tả.

 Số lần các tác giả viết cho thiếu nhi dùng “trăng” chiếm đa số (73.1%) như một lẽ dĩ nhiên, sau đó là  biến thể được nhân hóa, phù hợp với tâm lí lứa tuổi nhi đồng là “ông” với 25/93 lần xuất hiện chiếm 26.9 %.

Có một điểm chung rất dễ nhận thấy trong cách sử dụng biểu thức chiếu vật chứa “trăng” trong thơ thiếu nhi Xuân Quỳnh và Trần Đăng Khoa đó là biện pháp tu từ mà các tác giả sử dụng: biện pháp nhân hóa: gọi một đối tượng thuộc phạm trù thiên nhiên bằng cách xưng gọi gần gũi như gọi người: ông, ông trăng, bởi giữa “trăng” và “ông”, “ông trăng” có những nét tương đồng dễ nhận thấy: gần gũi, thân thuộc với con người, đặc biệt là với trẻ thơ.

Ý nghĩa biểu vật (ý nghĩa từ vựng) của “trăng” được ghi lại cụ thể trong một số trường hợp sau: (trích Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, trang 1317)

- Trăng d: mặt trăng nhìn thấy về ban đêm. Ví dụ: “sáng tựa trăng rằm”

- Trăng gió d: chỉ quan hệ yêu đương lăng nhăng, hời hợt (nói khái quát). Ví dụ: “Sớm đào tối mận lân la, Trước còn trăng gió sau ra đá vàng”

- Trăng hoa d: chỉ quan hệ trai gái lăng nhăng, không đứng đắn (nói khái quát). Ví dụ: “quen thói trăng hoa, chuyện trăng hoa”

Còn đối với thơ Thiều nhi Trần Đăng Khoa và Xuân Quỳnh, ý nghĩa chiếu vật của “trăng” lại mang nhiều ý nghĩa phong phú khác hẳn:

 

Bảng Thống kê các kiểu ý nghĩa chiếu vật của các biểu thức chiếu vật chứa “trăng” trong thơ thiếu nhi Trần Đăng Khoa và Xuân Quỳnh

 

Ý nghĩa chiếu vật

Thực thể thiên nhiên tươi đẹp

Người thân (ông, mẹ) của trẻ thơ

Người bạn tâm tình của trẻ thơ

Người bạn đồng hành cùng con người trong chiến đấu và trong lao động sản xuất

Thời gian

Số lần

31

33

21

6

2

Tỉ lệ(%)

33.3

35.5

22.5

6.5

2.2

 

Trong số các ý nghĩa chiếu vật của các BTCV chỉ “trăng” trong thơ thiếu nhi của Trần Đăng Khoa và Xuân Quỳnh, ý nghĩa chiếu vật chỉ thực thể thiên nhiên tươi đẹp chiếm số lượng khá cao (31 lần sử dụng chiếm 33.3%). Vẻ đẹp này được nhìn qua tâm hồn thơ trẻ với những sự liên tưởng vô cùng phong phú mà các em hay tiếp xúc hằng ngày, chẳng hạn “quả bóng”, quả chín”, “mắt cá”… chính điều này đã làm cho thiên nhiên trở nên gần gũi và dễ hình dung hơn bao giờ hết. Danh từ “trăng” + các tính từ “hồng”, “ tròn” và động từ “bay” đã diễn tả trọn vẹn những sắc thái tươi đẹp của “trăng” và cái nhìn hồn nhiên thơ trẻ: “Trăng hồng như quả chín/ Lửng lơ lên trước nhà”; “Trăng tròn như mắt cá/ Chẳng bao giờ chớp mi”; “Trăng bay như quả bóng/ Đứa nào đá lên trời” (Trần Đăng Khoa, Trăng ơi… từ đâu đến?); “Ánh trăng vừa thực vừa hư/ Vườn sau gió thổi nghe như mưa rào” (Trần Đăng Khoa, Đêm thu). Điều đặc biệt hơn khi vẻ đẹp của “trăng” gắn liền với vẻ đẹp của đất nước “trăng vàng + chùa Một Cột” -  sự kết hợp giữa hai danh từ đã làm nổi bật lên địa danh cần nhắc đến, ý thức về lòng tự hào quê hương đất nước thể hiện khá rõ:

“Trăng vàng chùa Một Cột

Phủ Tây Hồ hoa bay…” (Trần Đăng Khoa, Hà Nội)

Các BTCV chỉ “trăng” mang ý nghĩa chỉ người thân (ông bà, mẹ…) chiếm số lượng nhiều nhất trong hai tập thơ thiếu nhi (33 lần chiếm 35.5%). Đây cũng là nét đặc trưng tâm lí của trẻ thơ, các em luôn khao khát sự quan tâm, yêu thương, che chở của ông bà, cha mẹ.

 Đầu tiên, trăng là biểu tượng cho người mẹ đong đầy yêu thương: “- Mẹ ơi mẹ có biết/ Sao trăng khuyết, trăng đầy?/ - Trăng khuyết là trăng gầy/ Lúc buồn trăng khuyết thế/ Trăng giống như là mẹ/ Lúc con hư mẹ gầy.” (Xuân Quỳnh, Muốn trăng luôn luôn tròn).

“Vào đêm rằm tháng tám

Trăng tròn nhất cả năm

Vì có bao bạn ngoan

Mong chờ trăng nhiều quá…

Muốn trăng luôn luôn tròn

Phải là ngoan tất cả.”

             (Xuân Quỳnh, Muốn trăng luôn luôn tròn).

Hình dạng của “trăng” giống như trạng thái tâm lí của mẹ: con hư - mẹ gầy - trăng khuyết; con ngoan - mẹ vui - trăng tròn, và trạng thái tâm lí của mẹ lại phụ thuộc vào lúc con hư - con ngoan. Trăng - mẹ - con: mối quan hệ gắn kết đầy thú vị mà ở đó mỗi đứa trẻ đều tìm thấy câu trả lời trong việc làm con của mình. Các danh từ “con”, “mẹ”, “trăng” + với các tính từ (hư, gầy, khuyết), (ngoan, vui, tròn) đã diễn tả hai đối cực tâm lí của con - mẹ được cụ thể hóa qua biểu tượng “trăng”, mà ở đó việc con “ngoan” hay “hư” lại quyết định tất cả. Điều này đã chứng tỏ BTCV chỉ “trăng” đã rất thành công trong việc thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng.

Trần Đăng Khoa (@trandangkhoa1958) • Facebook TRẦN ĐĂNG KHOA

“Trăng” không chỉ là biểu tượng của người mẹ đong đầy yêu thương mà còn là biểu tượng cho một người ông hiền từ, yêu thương cháu hết mực. Trăng được nhân hóa và được gọi bằng một danh từ đầy thân mật “ông”. Các em thiếu nhi qua cái nhìn của “ông” đầy bé bỏng và đáng yêu qua cách gọi “đàn em bé”. Hình ảnh người ông được tái hiện đầy hiền từ và vui tính khi muốn “khoe có mặt tròn”.

“Trăng như cái mâm con

Ai treo ông cao thế

Ông nhìn đàn em bé

Muốn khoe có mặt tròn”

                (Trần Đăng Khoa, Ông trăng)

Số các BTCV chứa “trăng” được dùng để biểu thị người bạn tâm tình của trẻ thơ là 21 (chiếm 22.5 %) và đa số được sử dụng trong thơ do chính các em viết cho các em – thơ của Trần Đăng Khoa. Đây lại là một điểm đầy lí thú, thể hiện nhiều trạng thái tâm lí đặc trưng của trẻ thơ:

- “Trăng” - một người bạn hồn nhiên, vui vẻ, hòa đồng khi “em nhảy” - “trăng cũng nhảy”.

“Em chạy nhảy tung tăng

Múa hát quanh ông trăng

Em nhảy, trăng cũng nhảy” (Trần Đăng Khoa, Trông trăng).

“Trăng” - một người bạn dễ thương, ngây thơ khi gắn liền với động từ “thập thò” “muốn rủ em đi chơi”. Vốn dĩ đây là những động từ thường dùng để diễn tả hoạt động gắn liền với trẻ. Người đọc có thể dễ dàng liên tưởng đến một người bạn vốn ham chơi mà sợ ba mẹ bạn la rầy, chỉ dám “thập thò” ngoài cửa. “Khuya, không trông trăng nữa/ Trăng thập thò ngoài cửa/ Muốn rủ em đi chơi” (Trần Đăng Khoa, Trông trăng). “Trăng” - một người bạn giàu tình cảm:

“Chúng em tìm ông trăng

Giữa bầu trời sáng tỏ

Trăng cũng tìm chúng em

Chắc là trăng cũng nhớ”

(Xuân Quỳnh, Muốn trăng luôn luôn tròn)

“Trăng” -gắn bó với tuổi thơ cùng những phút giây vui chơi:“Sao trời trôi qua/ Diều thành trăng vàng” (Trần Đăng Khoa, Thả diều). Hay:

“Những đêm có trăng mọc,

Em chơi cho đến khuya” (Trần Đăng Khoa, Cái sân).

“Trăng” - người bạn luôn thấu hiểu tâm tình trẻ thơ:“Bâng khuâng nhớ chị ngày nào/ Trăng lên nghe gió rì rào ngọn tre” (Trần Đăng Khoa, Nhớ và nghĩ). Và:

“Và chiếc cầu

Cong cùng vành trăng chia tay đêm ấy”

(Trần Đăng Khoa, Nhớ bạn)

“Trăng” - người bạn đồng hành cùng tuổi thơ con trên mọi nẻo đường, không bao giờ bỏ rơi con: “Chúng em đi trên phố/ Có trăng vẫn theo cùng/ Những khi đèn điện tắt/ Trăng soi đường chúng em” (Xuân Quỳnh, Muốn trăng luôn luôn tròn). Mặc dù số các BTCV chứa “trăng” được dùng để biểu thị người bạn đồng hành cùng con người trong chiến đấu và trong lao động sản xuất không nhiều (6 lần chiếm 6.5%), nhưng đây là một điểm độc đáo – phản ánh được cuộc sống của nhân dân Việt Nam nói chung và trẻ em Việt Nam nói riêng trong thời kì đất nước ta “oằn mình” trong đạn lửa, trong chiến đấu:

“Trăng” - một người chiến sĩ luôn hiểu ý đồng đội:

“Trong trăng chú cuội tắt đèn

Để cho mắt giặc mây đen kéo về”

                      (Xuân Quỳnh, Tuổi thơ của con)

Những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh thì mỗi sinh vật, thực vật, động vật, và từng “bộ phận” của tự nhiên đều đóng vai trò như một bộ “cảm biến”, một “chỉ huy” vận hành hoà hợp với cái chung “toàn thể”. Tất cả như một.

“Trăng” - người bạn đồng hành cùng các chiến sĩ trên đường hành quân: “Trăng ơi…từ đâu đến?/ Hay từ đường hành quân/ Trăng soi chú bộ đội/ Và soi vàng góc sân”

(Trần Đăng Khoa, Trăng ơi…từ đâu đến?). “Trăng” - người bạn theo sát từng chiến dịch trong chiến đấu:

“Trăng suông sáng cả đêm rằm

 Nhịp cầu vá vội ầm ầm xe qua”

  (Trần Đăng Khoa, Em dâng cô một vòng hoa)

Trăng - người bạn luôn đồng hành cùng tuổi thơ con trong những ngày mưa bom, bão đạn:“Tuổi thơ con có những gì/ Có con cười với mắt tre trong hầm/ Có làn gió sớm vào thăm/ Có ông trăng rằm sơ tán cùng con (Xuân Quỳnh, Tuổi thơ của con)

Trăng - người bạn đồng hành cùng con người trong lao động sản xuất: “Tối về ông trăng đến/ Cùng các đội bình công/ Ấm nước chè tỏa nóng/ Thơm như hương lúa đồng” (Trần Đăng Khoa, Thôn xóm vào mùa)

Trong các ý nghĩa chiếu vật của các BTCV chỉ “trăng” trong thơ thiếu nhi còn có ý nghĩa chiếu vật về thời gian. Điều này cũng dễ hiểu bởi bản thân sự vật được chiếu “trăng” vốn gắn liền với các đặc tính về thời gian: buổi đêm hoặc cách tính thời gian dân gian của ông bà ta: “một lần trăng” - một tháng trôi qua.

Trăng lên: nửa đêm - đã khuya: “Cô ơi!/ Sông nước gọi tên/ Nắng mưa phục kích, trăng lên đánh đồn” (Trần Đăng Khoa, Em dâng cô một vòng hoa).

Dòng thời gian được miêu tả trong bài là dòng thời gian ý nghĩa khi gắn liền với hoạt động của nữ chiến sĩ tham gia chiến đấu.

Một lần trăng - một tháng: Thời gian qua nghĩa chiếu vật chỉ “trăng” là dòng thời gian động, trôi chảy không ngừng: “Nước cứ đi, đi mãi/ Không còn nhớ thời gian/ Là tháng mấy lần trăng” (Xuân Quỳnh, Chuyện về những dòng nước).

Có thể thấy rằng, mặc dù thơ Trần Đăng Khoa là thơ do thiếu nhi viết cho thiếu nhi, còn thơ Xuân Quỳnh là thơ do người lớn viết cho các em, nhưng cả hai đều có nhiều điểm thống nhất trong cách dùng các BTCV chỉ “trăng”: ngoài việc để chỉ một thực thể thiên nhiên như bản thân từ này qui chiếu thì các BTCV chỉ “trăng” còn biểu thị: thời gian, người thân, người bạn đồng hành cùng với tuổi thơ. Trong đó, ý nghĩa chiếu vật “trăng” biểu thị ý nghĩa người thân (ông, mẹ…) chiếm số lượng cao hơn cả. Chẳng hạn, để diễn tả một người ông hiền từ, vui cùng con cháu. Xuân Quỳnh có các BTCV: mong ông; ông cười; ông ăn; ông trăng về; chờ ông về…cùng vui… khiến ta dễ dàng liên tưởng đến hình ảnh người ông hiền từ nhưng hóm hỉnh trong thơ Trần Đăng Khoa: ông nhìn đàn em bé; ông nhoẻn miệng cười; ông trăng đến… BTCV chỉ “trăng” có ý nghĩa chiếu vật chỉ người bạn tâm tình của trẻ thơ cũng chiếm số lượng khá đáng kể. Trong thơ Xuân Quỳnh có các BTCV: tìm ông trăng; trăng cũng tìm, cũng nhớ…; ông trăng rằm sơ tán cùng con… Đó cũng là những ý nghĩa chiếu vật của “trăng” trong thơ Trần Đăng Khoa: trăng cũng nhảy, trăng thập thò, trăng vẫn theo cùng, trăng soi đường.

Trong các BTCV chỉ “trăng” trong thơ Xuân Quỳnh, có ý nghĩa chiếu vật không thấy xuất hiện trong các ý nghĩa chiếu vật “trăng” trong thơ Trần Đăng Khoa đó là ý nghĩa biểu thị “Người mẹ và tình mẫu tử thiêng liêng”. Xuân Quỳnh một người mẹ trẻ, hơn ai hết, chị luôn là người thấu hiểu nỗi lòng của một người làm mẹ của những đứa con.Với người lớn - đặc biệt là những bà mẹ trẻ đang dõi theo những bước đi của con mình, có thể tìm thấy ở thơ Xuân Quỳnh một người bạn sẻ chia, tâm sự. Được viết bởi một trái tim nhân hậu, đằm thắm yêu thương và giàu nữ tính, nên nhà thơ đã dùng BTCV chỉ “trăng” để nói về tình mẫu tử: trăng khuyết; trăng đầy; trăng giống như là mẹ, con hư - mẹ gầy; muốn trăng luôn luôn tròn - con phải ngoan tất cả… Đây có lẽ là một quan niệm khá mới mẻ và mang dấu ấn riêng của nhà thơ - một nhà thơ nhưng đồng thời cũng lại là một người mẹ.

Ý nghĩa chiếu vật biểu thị trăng là một người bạn đồng hành cùng con người trong chiến đấu và trong lao động sản xuất lại là điểm làm nên nét khác biệt lớn so với các BTCV chứa “trăng” trong thơ Trần Đăng Khoa. Khác với những đứa trẻ khác, cả tuổi thơ em đồng hành cùng đất nước trong những năm tháng oằn mình kháng chiến chống Mĩ. Em nhìn từng gốc cây, bờ tre, đến chú dế nhỏ… đều mang trong mình lòng khát khao độc lập, yêu quê hương xứ sở vốn dĩ bình yên. Và tất nhiên, trong muôn vật yêu hòa bình ấy không thể thiếu “trăng”- người bạn luôn đồng hành cùng con người trong chiến đấu: Trăng soi chú bộ đội; Trong trăng chú cuội tắt đèn/ Để cho mắt giặc mây đen kéo về; Trăng suông sáng cả đêm rằm, Nhịp cầu vá vội ầm ầm xe qua… và trong lao động sản xuất: Tối về ông trăng đến/ Cùng các đội bình công. Thơ Trần Đăng Khoa với nội dung nổi bật nhất là thơ viết về nông thôn, đó là nông thôn miền Bắc trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Chính vì lẽ đó, dù thời gian trôi qua đã khá lâu, nhưng âm vang của một thời đại đã qua luôn còn mãi trong những trang thơ của Trần Đăng Khoa. Anh không tái hiện nó bằng những sự kiện lịch sử mà bằng hình tượng “trăng”- thành tình yêu tổ quốc giản dị nhưng sâu đậm.

 Trong bài viết này, chúng tôi đã tìm hiểu đề tài “Chiếu vật “trăng” trong thơ thiếu nhi Trần Đăng Khoa và Xuân Quỳnh” dựa trên việc vận dụng những khái niệm cơ bản của lí thuyết chiếu vật. Theo đó, chúng tôi nhìn nhận mỗi BTCV tồn tại trong hoạt động giao tiếp với tư cách là một loại tín hiệu ngôn ngữ, có tính hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Với quan điểm này, chúng tôi đã triển khai nội dung bài viết với đối tượng nghiên cứu là “các BTCV chứa “trăng” trong thơ thiếu nhi của Trần Đăng Khoa và Xuân Quỳnh” cũng trên hai bình diện: bình diện cái biểu đạt và bình diện cái được biểu đạt.

Thứ nhất, xét trên bình diện cái biểu đạt, các BTCV có chứa “trăng” trong trong thơ thiếu nhi của Trần Đăng Khoa và Xuân Quỳnh có những đặc điểm chính sau: về cấu tạo chủ yếu là danh từ  và là từ đơn trong đó từ đơn “ông” được sử dụng theo lối nhân hóa với tần số khá cao phù hợp với cách xưng gọi theo tâm lí lứa tuổi nhi đồng. Về quan hệ kết hợp, chúng có khả năng kết hợp rất phong phú với đa dạng các loại vị từ vốn biểu thị các hành động, trạng thái hoặc đặc điểm, tính chất...

Trên bình diện cái được biểu đạt, chúng tôi đã tiến hành xác định, thống kê, phân loại và miêu tả các nghĩa chiếu vật cụ thể của các BTCV được khảo sát. Bài viết đã xác định được các ý nghĩa của các biểu thức chiếu vật chỉ “trăng” trong thơ thiếu nhi Trần Đăng Khoa và Xuân Quỳnh, đó là: Thực thể thiên nhiên tươi đẹp; người thân (ông, mẹ) của trẻ thơ; người bạn tâm tình của trẻ thơ; người bạn đồng hành cùng con người trong chiến đấu và trong lao động sản xuất; thời gian. Trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là ý nghĩa chiếu vật người thân (ông, mẹ…). Điều này đã thể hiện nét đặc trưng tâm lí của trẻ thơ, các em luôn khao khát sự quan tâm, yêu thương, che chở của ông bà, cha mẹ.

Từ các kết quả khảo sát, miêu tả, phân tích và so sánh trên, chúng tôi đã chỉ ra các điểm tương đồng và khác biệt giữa phong cách thơ thiếu nhi do chính các em viết: Trần Đăng Khoa và thơ thiếu nhi do người lớn viết cho các em: Xuân Quỳnh. Bài viết đã bước đầu giải quyết các nhiệm vụ ban đầu mà chúng tôi đã đặt ra, chúng tôi nhận thấy vấn đề chiếu vật trong thơ thiếu nhi vẫn còn rất nhiều vấn đề cần bàn luận chuyên sâu hơn nữa, để có thể khẳng định đặc điểm riêng của dòng Văn học thiếu nhi và từng phong cách cá nhân của người nghệ sĩ ngôn từ.

-----------------

CHÚ THÍCH:

(1) Georgia M. Green, (1996), Pragmatics and Natural languages understanding. LEA London.

(2) Georgia M. Green  trong cuốn Pragmatics and Natural languages understanding (1996) LEA London, đã chỉ rõ cái gọi là “một biểu thức ngôn ngữ” (linguistic expression) trong định nghĩa được trích dẫn ở trên, khi nó thực hiện được chức năng chiếu vật, được gọi là biểu thức chiếu vật (referring expression).

(3) Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở Ngữ dụng học, tập 1, NXB Đại học Sư Phạm, tác giả đã cho rằng hiện nay trong các tác phẩm ngữ dụng học thì hai kiểu phương thức chiếu vật dùng các đại từ như this, that,…I, he, she, it; và phương thức dùng các chức danh (Titles) như Thủ tướng,Giáo hoàng… được nhập thành một kiểu chỉ xuất (deixis, indexical). 

* Nguồn thơ trích dẫn: Trần Đăng Khoa (2003), Góc sân và khoảng trời, NXB Văn học, Hà Nội; Xuân Quỳnh (2019), Bầu trời trong quả trứng, NXB Kim Đồng, Hà Nội

 

 

 



Tin tức khác

· NÓI THÊM VỀ 'THI PHÁP TRUYỆN KIỀU' CỦA TRẦN ĐÌNH SỬ NHẬN DỊP TÁC PHẨM ĐƯỢC DỊCH SANG TIẾNG PHÁP
· NGÔ TẤT TỐ - ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN
· NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN - KHỔ VÌ HAY TRANH LUẬN
· MỘT TẤM LÒNG ĐAU ĐÁU LÀNG YÊN
· CAO NGUYÊN TRONG THƠ NGUYỄN THANH MỪNG
· LÊ PHỤNG HIỂU ĐÃ TẠO NÊN 'THÁC ĐAO ĐIỀN' NHƯ THẾ NÀO?
· NHÀ THƠ, NHÀ BÁO, LIỆT SĨ THÂM TÂM - QUĂNG TAY CHÉN KHÓI TAN THÀNH TRỜI MƯA -Tiểu luận VƯƠNG TÂM
· LÀNG QUÊ VIỆT NAM QUA NHỮNG VẦN THƠ -Tiểu luận PHAN BÁ TRÌNH
· RẶNG DUỐI CỔ - NƠI CÁC TƯỢNG BUỘC NGỰA DỰ HỘI NGHỊ BÌNH THAN
· MAI BÁ ẤN VÀ TRỤI TRẦN MỘT KHÚC ĐÀNH HANH - Tiểu luận NGUYỄN XUÂN HOÀNG
· NHÀ THƠ ĐỊNH HẢI QUA ĐỜI ĐỂ LẠI MÙA XUÂN BAO ĐIỀU LẠ
· NGUYỄN VỸ - NHÌN GẦN - Tiểu luận TRẦN TUẤN
· NGƯỜI MẸ CỦA HAI NHÀ THƠ
· “ĐẢO LÝ YÊU THƯƠNG” CỦA LUCINDA NGUYÊN - Tiểu luận PHẠM VĂN HOANH
· NGUYÊN NGỌC, NGUYỄN KHOA ĐIỀM, LÊ QUỐC ÂN NÓI VỀ TRƯỜNG CA 'ĐÁM MÂY HÌNH NGƯỜI THỢ SĂN VÀ CON CHÓ' CỦA THANH THẢO
· BÀI THƠ “MỘT NỬA” CỦA THANH THẢO - Tiểu luận HÀ HUY HOÀNG
· HÌNH TƯỢNG NƯỚC TRONG VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ
· KHẢO CỨU HAI DỊCH PHẨM THƠ ĐƯỜNG SANG CHỮ NÔM VÀ VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN THƠ ĐỖ PHỦ TẠI VIỆT NAM
· NHỮNG VẦN THƠ NỮ CỦA THI SĨ CHƯA MỘT LẦN ĐẶT CHÂN TỚI VIỆT NAM
· NHÀ VĂN TRẦN ĐỨC TIẾN “ĐI BỘ VÀ CHẠY” - Tiểu luận TRẦN NHÃ THỤY

Tin tức mới
♦ CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 5. CHÙA PHÚ SƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN (13/09/2026)
♦ NÓI THÊM VỀ 'THI PHÁP TRUYỆN KIỀU' CỦA TRẦN ĐÌNH SỬ NHẬN DỊP TÁC PHẨM ĐƯỢC DỊCH SANG TIẾNG PHÁP (13/09/2026)
♦ KẺ LẠ - Tạp bút NGUYỄN NGỌC TƯ ()
♦ NGÔ TẤT TỐ - ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN (13/09/2026)
♦ CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 4. CHÙA TIỀN NHƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN ()
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 2274631
Trong thang Trong tháng: 234706
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 142872
Truc tuyen Trực tuyến: 14

...

...

Designed by VietNetNam