• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Thi hữu
 
CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 5. CHÙA PHÚ SƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN

CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 5. CHÙA PHÚ SƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN



- Hồi ức MAI BÁ ẤN

Sau lưng vườn chùa Tiền Nhơn khoảng 25 mét về phía chính Nam là hương lộ chính của xã. Trên hương lộ này, tại địa điểm đối diện với cây Bàng chùa Tiền Nhơn là con đường nhỏ có cổng chào đi vào Chùa Phú Sơn thời ấy (cách con đường vào chùa hiện nay khoảng 100 mét về phía Tây). Bước vào cổng chào dẫn vào chùa, qua khỏi vài ba đám ruộng lúa là những khu vườn. Bên phải, phía Tây con đường là những hàng Duối cổ thụ làm bờ rào ngăn cách giữa các khu vườn và con đường. Bên trái, phía Đông là ruộng cạn Đồng Bé. Ở bài thơ “Quê nghèo một thuở”, tôi đã viết:

Chuông chùa Phú Sơn ngân rung

vương vít trên những ngọn duối già nua Đồng Bé xứ

Có thể là hình ảnh về đền thờ và văn bản Tam quan Chùa Phú Sơn

Hết khoảng ruộng Gò Sớ (Đồng Bé), con đường luồn giữa những khu vườn. Phía Tây, tay phải là vườn ông Binh, phía dưới là vườn ông Quý. Đến vườn Bà Húc (Vườn mả - nghĩa địa gia tộc tôi) thì qua một cây cầu gỗ, bắc qua con mương mang nước từ Đập Trà Tây về đồng ruộng phía Nam Đông Nam thôn Trà Tây như đã nói ở trên. Qua bên kia cây cầu, trước khi đến cổng chùa, con đường len qua những đám ruộng thuộc đồng Bàu Đá. Cổng chùa ngày xưa nằm ngay chân đồi phía Đông, nhưng chùa thì xây trên lưng chừng đỉnh đồi - Đồi Bàu Đá. Thời đó muốn lên chùa thì vào cổng rẽ sang hai bên có hai con đường dốc đi lên hai bên tả hữu của chánh điện. Năm 1972, khi xây tượng đài Quan Âm lộ thiên thì mở thêm con đường bên phải cổng chùa men theo triền đồi phía Bắc để lên đài. Về sau, chùa mở trực tiếp con đường lên thẳng sân chính điện bằng bậc tam cấp xi măng, xây một cổng chùa “Tam quan” ngay trên bực tam cấp cuối cùng trước sân chùa.

Tọa lạc tại triền đồi phía Đông nằm phía Tây Nam xóm Bến, Đông Nam xóm Chợ và giáp kề với xóm Giữa của thôn Trà Tây về phía Đông Nam, Phú Sơn là ngôi chùa lớn và đẹp nhất xã Kỳ Sanh (Tam Mỹ) xưa nay. Theo thầy Thích Từ Ý (lúc sinh thời còn trụ trì chùa Hòa An ở Tam Kỳ) - anh ruột của thầy Thích Hành Giải (trụ trì đầu tiên của chùa Phú Sơn) thì chùa được xây trên ngọn đồi này khoảng năm 1945. Ngoài chuyện, ngôi chùa là chùa cũ ở xóm Nam Mú, còn nghe nói, tiền thân của chùa Phú Sơn còn là Chùa Tranh (tức Chùa Tiền Nhơn như đã nói trên). Tên “Chùa Phú Sơn” có lẽ mang ý nghĩa là “Ngôi chùa trên hòn núi ở thôn Phú Quý” chứ không phải “núi giàu” như nhiều người nghĩ theo chiết tự Hán Việt, cho dù hai chữ “Phú” trong Phú Quý và Phú Sơn của Hán tự đều được viết giống nhau và cùng một nghĩa là “giàu”.

Chùa Phú Sơn đầu tiên là do các dòng họ lớn của làng góp tiền xây dựng, nhưng đây là ngôi chùa gắn chặt với xóm làng, trong đó có gia đình tôi. Cha tôi cũng đã từng có một thời làm “Khuôn hội trưởng” - tổ chức đại diện cho toàn thể đạo hữu Phật giáo của chùa Phú Sơn. Cũng chính vì vậy mà khi chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, cha tôi phải trốn ra ở hẳn ngoài bờ tre dày đặc ven bờ sông Trầu để ẩn nấp. Mẹ tôi phải hàng tháng trời đem cơm nuôi cha lẫn trốn để phòng “chiến dịch” bắt những đạo hữu Phật giáo “cho vào bao tời thả biển” của chính quyền bấy giờ...

Trụ cổng chùa Phú Sơn (bên phải), bên phải (chỗ ngôi nhà nhỏ) là Giếng Chùa cổ, góc bên trái là Tháp mộ của Thượng tọa Thích Hành Giải (TRụ trì đầu tiên của chùa) - Ảnh: Lehuan

Cái Giếng Chùa nước không bao giờ cạn rất trong và ngọt nằm nay dưới chân đồi, bên trái cổng chùa cũ, cha tôi cũng có góp công đào. Sau khi đào giếng xong, cha trải qua một trận ốm rất nặng. Vào mùa khô, giếng các xóm quanh chùa đều cạn, phải vào đây gánh nước về uống, kể cả dùng để tưới những luống khoai lang mới trồng gặp mùa nắng hạn. Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ rõ, hình ảnh chị Năm và chị Bảy tôi cùng trai gái làng gánh những thùng nước đầy từ giếng chùa về, lấp loáng ở miệng thùng là hai miếng lá chuối tươi cho khỏi tạt nước ra ngoài. Đó là mùa khô, còn khi lũ lụt, thì chính ngôi chùa trên đồi cao này là nơi trú ngụ lý tưởng của dân quanh vùng. Nhớ mãi những mùa lụt lớn, thuyền máy ông Bảy Hiệp ở Xóm Bến rước dân lên chùa trú ngụ. Nhớ những hàng chum tương dài dằng dặc trước sân chùa trong những ngày lưu trú rét mướt, đói khát, chia sẻ chung nhau trong hoạn nạn.

Tôi sinh hoạt ở Gia đình Phật tử Phú Sơn từ tuổi Oanh Vũ đến Ngành Thiếu trước 1975. Sinh hoạt của tổ chức Phật tử diễn ra vào chiều Chủ nhật hàng tuần, chủ yếu là học Phật pháp, tiếng Anh và rèn luyện các kỹ năng sống, đặc biệt là thông qua cách nhận mật hiệu “Mã Morse” (Mã Mócc-xơ) từ cờ và còi để dịch mật thư trong các “Trò chơi lớn” được tổ chức quy mô với không gian rộng, qua nhiều địa hình thử thách theo “Bảng dấu đi đường”. Nhận mật thư bằng cờ thì tôi không giỏi nhưng nhận bằng còi thì tôi lại rất xuất sắc ở Gia đình Phật tử Phú Sơn. Tôi nhớ rõ trong một lần cắm trại tại chùa Minh Tân (Đoàn quán Phật tử quận Lý Tín lúc bấy giờ) nhân Mùa Báo hiếu Lễ Vu Lan năm 1973, trong cuộc thi “Trò chơi lớn” dành cho Ngành Thiếu năm ấy, do hấp tấp, khi tiếng còi Morse chưa kết thúc tôi đã giục đội chạy đi về Trại Chỉ huy (Trung tâm Hội trại Mùa Báo hiếu). Bản thư Morse đúng là: “Tìm đức Mục Kiền Liên nơi mua bán” (tức đến chợ An Tân), nhưng khi tiếng còi chữ “mua bán” chưa kết thúc tôi đã vội đoán là “... nơi mùa báo hiếu” nên chạy ngay về Trại Chỉ huy để tìm. Vậy là lạc đường, bị chậm và thua cuộc năm đó.

Cũng tại Chùa Minh Tân, tại một Hội trại trước đó vài năm, trong môn thi giáo lý nhà Phật của cuộc thi “Vượt bậc Cánh Mềm” lên “Chân Cứng” (giống như thi nâng ngạch) cho lứa Oanh Vũ toàn trại (cấp quận), tôi đạt điểm Thủ khoa và Bùi Minh Phụng thuộc Gia đình Phật tử Hòa Mỹ (Xóm Đình, xã Kỳ Liên lúc ấy) đạt Á khoa (Chuyện này cũng được chính nhà báo Bùi Minh Phụng từng công tác ở Báo Quảng Nam kể lại sau này mỗi lần bạn bè gặp lại). Trong đêm thi văn nghệ lửa trại, tôi đã tự viết và dựng một tiểu phẩm cải lương về sự tích “Mục Liên tìm mẹ” (mà tôi trực tiếp đóng vai Thanh Đề, Bùi Như Huân - bạn học tôi ở Xóm Chợ đóng Mục Kiền Liên) cũng được giải. Nói thật, không phải tự ca ngợi mình đâu, vì mê và hát cải lương hay nổi tiếng từ nhỏ, cộng với năng khiếu văn chương nghệ thuật nên tôi đã viết được những tiểu phẩm cải lương từ năm học đệ thất, đệ lục (lớp 6, 7 hiện nay). Rồi đến năm lớp đệ ngũ (lớp 8, được sự động viên của ông Ngọc ở xóm Nam Mú (Người chuyên viết kịch cho địa phương), tôi đã viết vỡ kịch nói đầu tiên cho các Phật tử đàn anh (Ngành Thanh) tập và diễn. Đó là vỡ “Tình yêu và thù hận”, mà thực ra là tôi “bắt chước” cốt truyện kịch của một vỡ kịch do tổ chức đoàn sinh Thiên Chúa giáo diễn ở sân Trường Đồng Công trong khuôn viên Nhà thờ ở Xóm Giải Tỏa (định cư cho dân bị giải tỏa khỏi nơi ở cũ để xây Căn cứ quân sự Chu Lai) thuộc xã Kỳ Liên (Tam Nghĩa, nay là xã Núi Thành) mà tôi đã xem trong mùa Giáng sinh năm trước. Xin nói thêm: Trường Trung học Đồng Công là trường do Nhà thờ Thiên Chúa giáo mở ra và chiêu sinh rộng rãi cho những thí sinh không đậu vào trường công (Trung học Lý Tín) lúc bấy giờ.

Ông anh thứ sáu tài hoa nhất trong anh em tôi (Mai Bá Công) từng là Huynh trưởng (đã mất năm 1969). Chị Bảy, anh Tám và tôi (thứ 9) đều sinh hoạt trong Gia đình Phật tử Phú Sơn. Chỉ anh Ba và chị Bốn (mất sớm) cùng ba đứa em (thứ 10, Út 11 và Út 12) còn nhỏ là không tham gia. Anh Hai và chị Năm thì đã lớn tuổi. Chị Năm sau đó lấy chồng xa. Còn anh Hai, sau khi bị bắt lính vào Sư đoàn 1 Bộ binh thì được cha tôi xin về ngành Xây dựng Nông thôn (sau đổi thành Phát triển Nông thôn - ngành lính áo đen chủ yếu hoạt động tuyên truyền chính trị, văn hóa) để khỏi trực tiếp ra chiến trường. Lúc đó, anh tham gia tổ chức Thanh niên Phật tử - một tổ chức tôn giáo - xã hội do Nha Tuyên úy Phật giáo Quân lực Việt Nam Cộng hòa lập ra để tập trung thanh niên theo đạo Phật trong nội bộ quân đội ở tất cả các sắc lính (cho nên hầu hết là nam).

Về ngôi chùa này có một sự kiện trước 1975 cũng khá trọng đại. Đó là năm 1972, chùa tiến hành xây dựng Tượng đài Quan Âm lộ thiên lớn nhất quận Lý Tín lúc bấy giờ ở phía sau chùa. Ngày khánh thành tổ chức Hội trại và lập Đàn chẩn tế để “Hô thần nhập tượng” (Khai quang, Điểm nhãn...) với một cây phướng treo những lá phướng rất cao bên Đài hành lễ. Khi lễ tan, người ta thi nhau giật/ “cướp” phướng để cầu may. Như thường lệ, việc giành giật này không tránh khỏi xảy ra một vài thương tích cho những người cầu may ấy. Bên cạnh xây dựng tượng đài, khuôn viên của Tượng đài được trồng cây và hoa rất đẹp. Từ đó Tượng đài Quan Âm lộ thiên thành một điểm tham quan không thể thiếu của người dân Quảng Nam Đà Nẵng khi vào viếng chùa Phú Sơn. Cũng từ đây, những buổi sinh hoạt hay tổ chức Hội trại của Gia đình Phật tử Phú Sơn vào mùa Phật đản (Rằm tháng Tư Âm lịch) và Lễ Vu Lan (Rằm tháng Bảy Âm lịch) đều diễn ra tại khuôn viên chung quanh khu vực Tượng đài.

Tượng Quan Âm lộ thiên (Chùa Phú Sơn) - Nguồn ảnh: theochanphat.com

Cũng trong thời chiến, có một người lính Cộng hòa nổi tiếng hung ác, tên là Trị. Anh ta chuyên giết người, đặc biệt là giết và xâu tai những người Cộng sản đã hi sinh làm dây đeo. Có lẽ do tạo nghiệp lớn, nên dù còn trẻ, anh ta đã bị “bất bình thường”. Một buổi sáng, anh lên chùa Phú Sơn vào gặp thầy trụ trì (Đại đức Thích Hành Giải) để xin được vào điện Phật niệm kinh sám hối. Tất nhiên là thầy đồng ý. Đưa anh ta vào điện Phật xong, thầy trở về phòng riêng. Đến khoảng gần trưa, bỗng một tiếng nổ lớn vang lên dưới gốc Xoài. Thầy và các đệ tử hoảng hốt chạy ra xem thì thấy người lính tên Trị ấy đang quằn quại trên vũng máu với tấm thân dường như không còn nguyên vẹn. Nghĩa là, sau khi ngồi sám hối ở điện Phật xong, anh đã lặng lẽ ra bên gốc xoài mở quả lựu đạn rút chốt để ngay dưới mông mình tự sát, xem như trả lại nghiệp trần mà mình đã tạo nên.

Trải qua bao biến động, thầy trụ trì thứ nhất Thích Hành Giải, rồi đến thầy trụ trì thứ hai Thích Thông Chánh đã về cõi Phật. Chùa Phú Sơn ngày một to lớn khang trang (Nay có cả một con đường hầm đào xuyên giữa lòng đổi làm nơi tu tập gọi là "Con đường diệu đạo"), nhưng vẫn giữ được vẻ trầm mặc của ngôi chùa trên ngọn đồi nơi một vùng quê. Cách đây mấy chục năm, thơ tôi đã viết:

Mười mấy năm xa quê... chừ trở lại

cây bàng già dồng dộc vắn tiếng kêu

riêng sông Trầu vẫn chè hai nước lợ

chùa Phú Sơn vọng mãi tiếng chuông chiều (Làng tôi).

Cha tôi từng là Khuôn hội trưởng và anh Sáu tôi từng là Huynh trưởng Phật tử nên sau khi mất, bên cạnh việc thờ cúng tại nhà, gia đình tôi cũng đưa di ảnh vào thờ ở gian sau chánh điện của chùa.

Con đường diệu đạo nơi chùa Phú Sơn (Núi Thành). Ảnh: HOÀNG LIÊNCon đường diệu đạo nơi chùa Phú Sơn (Núi Thành). Ảnh: HOÀNG LIÊN

Cũng như dòng sông Trầu chảy trước nhà tôi, vườn chùa Tiền Nhơn còn đó, Chùa Phú Sơn vẫn an nhiên như một mảnh hồn làng tồn tại đến muôn sau...

(Còn tiếp). 

 



Tin tức khác

· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 13. XÓM QUY KHU - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM THƠ VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA HÀ DĨ
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 12. XÓM CÂY NỔ VÀ XÓM GÒ ĐU - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM TỨ TUYỆT CỦA ĐÀO ĐỨC TUẤN - GIÓ ĐẦU NGÀY THỔI MÃI THÀNH ĐAU
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM KỲ 11. VƯỜN TRONG - XÓM MỚI - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM THƠ CỦA MAI GIA HUY Ở ĐỒNG THÁP
· CHÙM THƠ NGUYỄN TẤN HẢI - ĐÊM CONG MÌNH TRĂNG NÕN RUN RUN
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 10. XÓM CHỢ - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 9. XÓM ĐỒNG VỠ - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 8. XÓM CÁT VÀ XÓM CÂY GỐI - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 7. CÁC XÓM THUỘC LÀNG PHÚ QUÝ - XÓM BẾN CỦA TÔI - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· THƠ 1-2-3 VŨ THANH THỦY - KÈN TRỐNG TIỄN VONG LOANG CẢ CÁNH ĐỒNG
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 6: ĐẦM BA SƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM THƠ TRẦM THỤY DU - TÔI NGỒI LẠI VỚI MÙA THU QUẢNG NGÃI
· CHÙM THƠ TRẦM THỤY DU - TÔI NGỒI LẠI VỚI MÙA THU QUẢNG NGÃI
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 5. CHÙA PHÚ SƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· KẺ LẠ - Tạp bút NGUYỄN NGỌC TƯ
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 4. CHÙA TIỀN NHƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM THƠ LỤC BÁT CỦA NGUYỄN THANH MỪNG
· QUA NHỮNG THÁO CHUÔNG NINH BÌNH

Tin tức mới
♦ CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 13. XÓM QUY KHU - Hồi ức MAI BÁ ẤN (07/10/2026)
♦ CHÙM THƠ VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA HÀ DĨ (07/10/2026)
♦ 'BẾN KHÔNG CHỒNG' - BI KỊCH CỦA NHỮNG HÒN VỌNG PHU CHƯA HÓA ĐÁ (07/10/2026)
♦ PHỤC DỰNG CHÙA BÁO ÂN TRONG QUY HOẠCH HỒ GƯƠM GIỮA LÒNG THỦ ĐÔ (07/10/2026)
♦ CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 12. XÓM CÂY NỔ VÀ XÓM GÒ ĐU - Hồi ức MAI BÁ ẤN (03/10/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 2323616
Trong thang Trong tháng: 234706
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 148130
Truc tuyen Trực tuyến: 8

...

...

Designed by VietNetNam