TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
“ĐẢO LÝ YÊU THƯƠNG” CỦA LUCINDA NGUYÊN - Tiểu luận PHẠM VĂN HOANH
“ĐẢO LÝ YÊU THƯƠNG” CỦA LUCINDA NGUYÊN - Tiểu luận PHẠM VĂN HOANH
PHẠM VĂN HOANH
Sinh năm 1968 tại Tư Nghĩa, Quảng Ngãi
Thường trú: Bình Sơn, Quảng Ngãi
Nghề nghiệp: Giáo viên
Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi
***
Đảo Lý yêu thương
Em có về thăm Đảo Lý chưa em?
Nghe biển hát rì rào như tiếng thở
Ta đến ta đi mang về nỗi nhớ
Chốn nghìn trùng ta có đảo yêu thương!
Chốn nghìn trùng ta có đảo yêu thương!
Năm cụm núi đẹp như bàn tay mẹ
Bão tố phong ba cùng người chia sẻ
Giữ biển trời nối mãi biển bờ vui.
Xa đảo rồi thương nhớ đảo khôn nguôi
Trời biển rộng sao thấy lòng nhỏ bé
Đêm trăng sáng vỗ bờ con sóng nhẹ
Gió lặng thầm mang vị biển tung bay!
Em hãy về thăm đảo lắm đổi thay
Tò Vò vẫn muôn đời con sóng nhẹ
Kì cọ chân em cho hồng da dẻ
Lên Cổng Trời so đọ dấu chân Tiên.
Có giống chân em nhỏ nhắn dịu hiền?
Ôi, con sóng hôm nay và xưa vẫn thế!
Dốc Giếng Tiền cao, đáy sâu hơn mặt bể
Mấy nghìn đời mưa nắng đổ không vơi.
Nắng chiều về bóng núi Giếng Tiền trôi
Che mát rượi đường qua Chùa Hang đó
Lòng hang rộng như túi trời hứng gió
Hàng cây xanh như lính Tử Cấm Thành.
Qua Hang Câu vách đá dựng gió mành
Lòng cát trắng như áo dài em trải
Con sóng lao xao như bàn tay vẫy mãi
Giữ bốn mùa bãi tắm của Tiên xưa!
Cố lên em về với Núi Thới rừng thưa!
Cao nguyên gió bao la trời biển rộng
Thả chút hồn hoang, cánh diều mơ mộng
Nơi đỉnh trời miền đất hứa ta yêu.
Sương lung linh trong nắng sớm non chiều
Nơi đón nhận mặt trời về nắng sớm
Biển sâu thẳm sóng xa vờn đom đóm
Cảnh thiên đàng thuở trước chốn Tiên chơi.
Ta vòng về Đồng Hộ đón chiều rơi
Miền đất bazan xanh màu tỏi mới
Phà trong sương chuyển sang màu chờ đợi
Hải âu về đổ nắng những đồi xa.
Lý Sơn muôn đời hát mãi bản tình ca!
Lucinda Nguyen
TÁC GIẢ THƠ LUCINDA NGUYÊN
Nhà văn Nga Leonit Leonop từng nói: “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và khám phá về nội dung”. Còn nhà thơ Xuân Diệu cho rằng: “Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài, như con gà ngon, ngon từ phao câu đầu cánh lắt lẻo khuỷu xương, không thể tóm tắt thơ được mà phải đọc lại...”. Vâng. Một bài thơ hay là một bài thơ đẹp cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Bài thơ “Đảo Lý yêu thương” của Lucinda Nguyen, sáng tác năm 2024 là một bài thơ như thế! Qua hình ảnh đảo Lý Sơn, tác giả đã thể hiện niềm hoài cảm cũng như tình yêu tha thiết của mình đối với đảo Lý Sơn.
Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ: “Em có về thăm đảo Lý chưa em?”. Câu hỏi như một lời mời trìu mến thân thương. Sau câu hỏi đó, Lucinda Nguyen đã giới thiệu với người em về tình cảm của đảo Lý Sơn dành cho con người bằng một câu thơ nhẹ nhàng: “Nghe biển hát rì rào như tiếng thở”. Câu thơ chỉ có tám chữ thôi mà Lucinda Nguyen đã kết hợp nhuần nhuyễn hai thủ pháp tu từ nghệ thuật: Nhân hóa và so sánh. Phải nói là tác giả rất tài hoa trong việc lựa chọn sắp xếp thủ pháp tu từ nghệ thuật cũng như ngôn từ. Hai thủ pháp so sánh và nhân hóa kết hợp với từ láy “rì rào” trong câu thơ này đã khơi gợi trong lòng người đọc sự đồng cảm về tình yêu biển đảo thiêng liêng, đồng thời khẳng định tình cảm của đảo Lý Sơn dành cho con người là vô cùng lớn. Bất cứ ai đến Lý Sơn rồi đi về đều mang theo nỗi nhớ. Còn đối với Lucinda Nguyen, người con sinh ra và lớn lên trên đất đảo Lý Sơn, giờ định cư ở Mỹ gần 50 năm rồi, thì nỗi nhớ ấy không bao giờ nguôi. Ở nơi “chốn nghìn trùng” lòng chị luôn ôm ấp một bóng hình quê hương - Đảo Lý Sơn.
Chốn nghìn trùng ta có đảo yêu thương!
Năm cụm núi đẹp như bàn tay mẹ
Bão tố phong ba cùng người chia sẻ
Giữ biển trời nối mãi biển bờ vui.
Câu thơ đầu của khổ thơ thứ hai điệp lại câu thơ cuối của khổ thơ thứ nhất đã nhấn mạnh tình yêu cũng như lòng tự hào của Lucinda Nguyen về mảnh đất Lý Sơn - nơi có năm ngọn núi đẹp.
Năm cụm núi đẹp như bàn tay mẹ
Bão tố phong ba cùng người chia sẻ
Giữ biển trời nối mãi biển bờ vui.
Với thủ pháp tu từ so sánh và nhân hóa khổ thơ trên đã nhấn mạnh giá trị, ý nghĩa của năm ngọn núi. Theo các nhà khảo cổ thì đảo Lý Sơn được hình thành từ năm ngọn núi lửa phun trào đã tắt hàng mấy chục triệu năm. Dân gian từ xưa đặt cho chúng những cái tên khá độc đáo, từ văn vẻ, tâm linh theo âm dương ngũ hành đến trực quan, dân dã theo hình thái. Đó là Kim (Hòn Tai), Mộc (Hòn Sỏi), Thủy (Thới Lới), Hỏa (Giếng Tiền) và Thổ (Hòn Vung), trong đó Thới Lới và Giếng Tiền là hai ngọn núilửa cao và lớn nhất. Năm ngọn núi này là nguồn giữ các mạch nước ngầm chính cung cấp nguồn nước ngọt cho toàn bộ người dân trên đảo. Dù có “Bão tố phong ba” chúng vẫn “cùng người chia sẻ” và “Giữ biển trời nối mãi biển bờ vui”. Lucinda Nguyen so sánh chúng với bàn tay mẹ đã giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp phúc hậu của đảo Lý Sơn. Đảo Lý Sơn qua lời thơ của Lucinda Nguyen không chỉ có vẻ đẹp của năm ngọn núi mà còn là khát vọng tìm về trong khắc khoải nhớ thương của một người con xa quê.
Xa đảo rồi thương nhớ đảo khôn nguôi
Trời biển rộng sao thấy lòng nhỏ bé
Đêm trăng sáng vỗ bờ con sóng nhẹ
Gió lặng thầm mang vị biển tung bay!
Câu thơ “Trời biển rộng sao thấy lòng nhỏ bé” đặt theo lối đối sánh nhằm nhấn mạnh tình yêu thương của đảo Lý Sơn dành cho người con đi xa cũng như tấm lòng của người con xa quê đối với miền đất đảo Lý Sơn. Ở khổ thơ này, Lucinda Nguyen đã thực sự thăng hoa khi ngợi ca đảo Lý Sơn của Việt Nam với vẻ đẹp thơ mộng trong những đêm trăng sáng. Khổ thơ này là tiếng lòng khao khát được trở về đảo Lý Sơn, là nỗi nhớ rạo rực bùng cháy trong tâm can Lucina Nguyen. Mà không riêng gì Lucina Nguyen. Rất nhiều người trong chúng ta cũng có một quê hương như thế! Ở đó, chúng ta đã có những tháng ngày đẹp đẽ và xao động với bạn bè, với ai đó với những kỉ niệm đẹp thời niên thiếu, rồi chúng ta phải chia tay và ra đi vì một lí do nào đó. Chúng ta thường mong trở về quê hương với hi vọng gặp lại cảnh cũ người xưa. Lucinda Nguyen cũng đã có đôi lần về thăm đảo Lý Sơn. Cứ mỗi lần về thăm, chị lại cảm nhận được sự đổi thay của đảo. Và chị đã chia sẻ cùng mọi người.
Em hãy về thăm đảo lắm đổi thay
Tò Vò vẫn muôn đời con sóng nhẹ
Kì cọ chân em cho hồng da dẻ
Lên Cổng Trời so đọ dấu chân Tiên.
Có giống chân em nhỏ nhắn dịu hiền?
Ôi, con sóng hôm nay và xưa vẫn thế!
Dốc Giếng Tiền cao, đáy sâu hơn mặt bể
Mấy nghìn đời mưa nắng đổ không vơi.
Nếu như câu thơ mở đầu là một câu hỏi với chức năng cầu khiến, thì ở hai khổ thơ này Lucinda Nguyen lại sử dụng câu cầu khiến để khuyên người em nào đó hãy về thăm đảo. Mà cũng chính là khuyên người đọc. Điều này chứng tỏ chị rất khéo léo trong việc sử dụng ngôn từ. “Em hãy về thăm đảo lắm đổi thay”. Đảo Lý Sơn bây giờ thay đổi rất nhiều nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp hoang sơ của cổng Tò Vò, dấu chân Tiên, núi Giếng Tiền. Hai câu thơ “Lên cổng trời so đọ dấu chân Tiên” và “Có giống chân em nhỏ nhắn dịu hiền?”có lẽ là hoài niệm của tác giả về một thời của tuổi hoa niên. Ở khổ thơ này tác giả đã ca ngợi vẻ đẹp cuốn hút và thể hiện lòng tự hào của mình về cổng Tò Vò và núi Giếng Tiền. Không chỉ có cổng Tò Vò, núi Giếng Tiền mà những thắng cảnh tuyệt tác như: núi Thới Lới, Chùa Hang, Hang Câu, bãi tắm Tiên cũng được Lucinda Nguyen liệt kê miêu tả rất chân thật trong từng câu thơ.
Nắng chiều về bóng núi Giếng Tiền trôi
Che mát rượi đường qua Chùa Hang đó
Lòng hang rộng như túi trời hứng gió
Hàng cây xanh như lính Tử Cấm Thành
Qua Hang Câu vách đá dựng gió mành
Lòng cát trắng như áo dài em trải
Con sóng lao xao như bàn tay vẫy mãi
Giữ bốn mùa bãi tắm của Tiên xưa!
Hình ảnh so sánh trong hai khổ thơ này thật độc đáo. Hình ảnh “Lòng hang rộng như túi trời hứng gió” và “Hàng cây xanh như lính Tử Cấm Thành” đã nhấn mạnh vẻ đẹp hoang sơ hùng vĩ, uy nghiêm của chùa Hang, một thắng cảnh tuyệt tác mà thiên nhiên ban tặng cho Lý Sơn. Còn hình ảnh “Lòng cát trắng như áo dài em trải” và “Con sóng lao xao như bàn tay vẫy mãi” đã làm nổi bật vẻ đẹp trong trẻo tinh khôi của bãi cát trắng, và sự dịu êm có sức quyến rũ của những con sóng ở bãi tắm Hang Câu, nơi ngày xưa Tiên trên trời xuống tắm. Sau khi giới thiệu về những thắng cảnh của Lý Sơn, Lucinda Nguyen đã động viên người em.
Cố lên em về với núi Thới rừng thưa!
Cao nguyên gió bao la trời biển rộng
Thả chút hồn hoang, cánh diều mơ mộng
Nơi đỉnh trời miền đất hứa ta yêu.
Với thủ pháp ẩn dụ, khổ thơ đã giúp người đọc hình dung được vẻ đẹp khoáng đãng của núi Thới Lới. Đọc khổ thơ này ta thấy được tâm hồn thơ bay bổng, giàu cảm xúc, thấy được tình cảm yêu quý và lòng tự hào của tác giả về núi Thới Lới nói riêng, đảo Lý Sơn nói chung. Chính điều này đã giúp Lucinda Nguyen có những dòng thơ lay động lòng người.
Sương lung linh trong nắng sớm non chiều
Nơi đón nhận mặt trời về nắng sớm
Biển sâu thẳm sóng xa vờn đom đóm
Cảnh thiên đàng thuở trước chốn Tiên chơi.
Ta vòng về Đồng Hộ đón chiều rơi
Miền đất bazan xanh màu tỏi mới
Phà trong sương chuyển sang màu chờ đợi
Hải âu về đổ nắng những đồi xa.
Hai khổ thơ trên có nhiều màu sắc: Màu đất đỏ bazan, màu xanh của ruộng tỏi, màu của nắng. Nhưng gam chủ đạo vẫn là màu xanh của ruộng tỏi - màu của hi vọng. Trên nền xanh ấy điểm xuyết cánh hải âu đã làm nổi bật bức tranh đảo Lý Sơn tuyệt đẹp, tinh khôi, giàu sức sống, khoáng đạt, trong trẻo, nhẹ nhàng, thanh khiết. Cuối cùng khép lại bài thơ “Đảo Lý yêu thương” là câu thơ ngợi ca: “Lý Sơn muôn đời hát mãi bản tình ca!”
Bài thơ “Đảo Lý yêu thương” của Lucinda Nguyen sử dụng nhiều thủ pháp tu từ nghệ thuật, thể thơ tám chữ gieo vần chân, ngôn ngữ thơ bình dị nhưng sâu lắng, cô đọng, hàm súc, gợi hình, gợi cảm... đã làm rung động trái tim người đọc. Lucinda Nguyen yêu văn chương, mê văn chương từ thời còn đi học, nhưng vì công việc nên chị đến với văn chương hơi muộn. Chị viết không nhiều nhưng chất lượng. “Đảo Lý yêu thương” của chị là một trong những bài thơ hay viết về đảo Lý Sơn.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.