Với Bến không chồng, Dương Hướng khiến ta day dứt, ám ảnh khôn nguôi trước bi kịch của những người phụ nữ làng Đông, hậu thân của những Vọng phu, Chinh phụ thuở nào.
Trải qua những biến cố lịch sử quan trọng của đất nước, sứ mệnh lớn lao của mỗi nhà thơ, nhà văn yêu nước là phải có các tác phẩm đến được với trái tim nhiều triệu người, để nói lên tiếng nói của con người hôm nay, cùng với những nỗi đau và khát vọng hoà bình - độc lập tự do của dân tộc.
Cẩm Lai khởi nghiệp sáng tác thơ ca khi phong trào Thơ mới cơ bản đã vượt đỉnh và Hoài Thanh - Hoài Chân đã hoàn tất Thi nhân Việt Nam (1942) nên có điều kiện kế thừa, tinh lọc, tích lũy kinh nghiệm. Điều này vừa là thuận lợi vừa là thách thức. Một mặt, thơ bà vượt qua những thử nghiệm ban đầu, sớm đạt tới trình độ nghệ thuật cao, nhuần nhị, uyển chuyển; mặt khác thấy thấp thoáng ảnh hưởng chất thơ, hình ảnh, cấu tứ, câu chữ của Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận… Nhìn chung, thơ Cẩm Lai in đậm đặc tính Thơ mới, bộc lộ sắc nét tình cảm con người cá nhân, con người thời đại, tình quê hương, đất nước và những vui buồn thế sự.
Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Hãy lưu ý, hai chữ “cửu trùng” của Đặng Trần Côn được dịch thành hai chữ “chín tầng” – một cách dịch có phần… tối nghĩa.
“Cửu trùng”, trong tiếng Hán (có cùng nghĩa với cửu bệ) có nghĩa là chín bậc thềm lên chỗ đặt ngai vua. Từ này được dùng để chỉ nơi vua ở, và cũng được dùng để tôn xưng nhà vua.
Họ Đinh ta, cũng như nhiều dòng họ khác trên mảnh đất này từ ngàn năm qua, cho tới hàng ngàn năm sau nữa, tuy không có dòng họ nào trường tồn hay triều đại nào vĩnh cửu cả, nhưng sẽ hòa trộn máu vào nhau, và Long mạch của các dòng họ chỉ có ý nghĩa khi hòa với Long mạch của Quốc gia. Các ngươi nên khắc ghi tâm nguyện của Tổ tiên: “Long mạch thiêng liêng quan trọng nhất của Non Sông là nằm trong lòng người!”
Ông là một học giả uyên bác với vốn tri thức mang tính bách khoa về khoa học xã hội – nhân văn, với tinh thần lao động khoa học không biết mệt mỏi biểu thị một niềm đam mê, một hoài bão lớn và một nghị lực phi thường…
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.