TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
MAI BÁ ẤN VÀ TRỤI TRẦN MỘT KHÚC ĐÀNH HANH - Tiểu luận NGUYỄN XUÂN HOÀNG
MAI BÁ ẤN VÀ TRỤI TRẦN MỘT KHÚC ĐÀNH HANH - Tiểu luận NGUYỄN XUÂN HOÀNG
NGUYỄN XUÂN HOÀNG
(1966 - 2006)
Nơi sinh: Mộ Đức, Quảng Ngãi
Hội viên Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế
***
DI ẢNH NGUYỄN XUÂN HOÀNG - TÁC GIẢ BÀI VIẾT
Sức sống của thể thơ lục bát cho đến nay không có gì phải bàn cải. Nó trường tồn cùng cây đa, bến nước, sân đình. Nhìn lại lịch sử văn học sau ca dao, thơ lục bát trường cửu cùng với Truyện Kiều, thơ Nguyễn Bính và sau đó là Bùi Giáng, Nguyễn Duy… Đang bình thản và suôn sẻ, chợt một ngày sau Nguyễn Du, thể thơ cổ điển ngọt ngào này đã vấp phải một hiện thực khắc nghiệt, đòi hỏi phải bụi bặm hơn, đời hơn để đến với cuộc đời. Đọc tập thơ “Lục bát làm liều” của Mai Bá Ấn, tôi đã tìm thấy rất nhiều bụi bặm trong những con chữ đa đoan của anh. Những câu thơ dường như không chịu ăn mặc chỉnh tề, cứ như vậy mà đi tưng tửng vào đời:
Trụi trần
một khúc đành hanh
yêu nhau nói trớt
hóa thành giản đơn
và:
Vậy rồi mình ngồi mình buồn
khi không chắng lẽ lệ tuôn bá xàm
Để đưa được những “đành hanh”, “trớt”, “bá xàm”... kia vào thể thơ lục bát quả là không dễ tí nào nếu tác giả không thực có nghề. Mai Bá Ấn đã làm điều đó như không. Anh bay lượn, anh nhảy cà tửng, anh đi chân thấp chân cao, có khi chỉ là là mặt đất mà giai điệu thơ cứ nhức nhối xốn xang:
Đường đời hút nẻo xa xǎm
thế gian thì thẳm thằm thǎm lọc lừa
Còn em lau lệ xong chưa
cố vuimà sống cho vừa lòng nhau
Với “Lục bát làm liều”, Mai Bá Ấn đã cũng liều mạng một cách tài ba với những con chữ dân dã. Chính vì vậy anh đã thổi vào những con chữ nghèo xơ kia một cõi người ta thăm thẳm sâu. Đằng sau cái âm hưởng bài chòi của xác chữ và nghĩa câu có một tầng nghĩa mới như chính những giọt nước mắt được nén lại để chảy ngược vào trong:
Ta về gõ nốt nhip tim
lấy tiền nhuận bút nuôi em sanggiàu
hay:
Đời ta
một chiếc xe lam
hỏng hư hai bánh còn tham chạy hoài
Chua xót. Buồn bã. Rồi cà rởn tình tang. Đọc thơ lục bát của Mai Bá Ấn, đôi chân cứ rục rịch muốn chạy vào một cõi nào đó mà buồn, vui chỉ có riêng mình. Cố giấu đi những giọt nước mắt đã khô như ngói vỡ, để tự trào trong si dại một ngày hay dở với đời:
Đi lên Đà Lạt
tìm hoa
về nhà
vợ giận hết ba bốn ngày
Cũng là vạ gió tai bay
qua cầu mới biết mới hay đoạn trường
Liều mạng với chữ nghĩa, Mai Bá Ấn cũng một hai liều mạng với tình:
Hôn liều em dưới hàng hiên
đôi chim se sẻ tập chuyền qua vai
Có lúc người ta thấy anh nhìn trộm, tha thít qua một bờ sông bãng lãng gió chiều:
Cho anh nhìn trộm một lần
bàn chân em... phút phân vân qua cầu
Hình như trong bước chân đau
cầu duyên bỗng hóa nhịp cầu chia phôi
Rồi cũng cái kẻ trộm đọc thơ anh đã bắt gặp anh:
Ba bốn nǎm sáu
lỡ làng
chín chiều đứt đoạn
tình sang trang rồi
Giấu cái lỡ làng một hai, câu thơ lục bát rơi cái ịch ứ hự như một gã thất tình bạc mày bạc mặt vì yêu. Đi qua hết những ngậm ngùi, cái tan vỡ đằng sau sự liều lĩnh là một tan vỡ nồng thắm. Nó khiến trái tim đập hoài những cơn đau mê muội. Còn lại chǎng là ánh hồ quang nuối tiếc mỏng manh trong cõi vô thường:
Gió qua sông rộng mất rồi
nghìn tiếc nuối... cũng đành thôi vậy mà
NHÀ THƠ MAI BÁ ẤN
Có một nhánh suối lẻ chảy chậm và buồn qua “Lục bát làm liều” đó là gánh nặng áo cơm mà từ đời tu huýt Tản Đà, Xuân Diệu đã nói đến. Hàng ngày “bán chữ” trên bục giảng, Mai Bá Ấn đã đến với thơ ca cũng nhọc nhằn như thể lúc làm thầy. Thơ anh thật buồn những lúc phải hạ đôi cánh thiên thần xuống cánh đồng cơm áo. Lời tâm sự lúc này sao quá đỗi xót xa:
Cúi xin em
những nợ nần
vay em từ lúc
thơ cầm trên tay
hoặc:
Áo cơm như một ngọn roi
quất ba - con ngựa đã còi hết xương
Và con ngựa đã còi hết xương ấy vẫn buồn vui đi cà tửng giữa đời để hí lên trong cô độc những tiếng thơ lục bát tài hoa...
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.