• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
NHÀ THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG - ÔI TA ĐÃ LÀM CHI ĐỜI TA!

NHÀ THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG - ÔI TA ĐÃ LÀM CHI ĐỜI TA!



TỪ: Vanvn-Cập nhật ngày: 24 Tháng 6, 2026 lúc 14:56

 Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài “Qua áng hương trà” của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: “Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ”. Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có “Say đi em” như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút “khói lên tơ”.

Vũ Hoàng Chương và những tác phẩm thơ

Bi kịch tình thơ

Đầu tiên, với tập thơ “Say” (Công Lực xuất bản năm1940) thi sĩ Vũ Hoàng Chương tạo được dư âm vang dội với chùm bài “Say đi em”, “Phương xa” trong giới mộ điệu thơ mới (1935-1945). Ít lâu sau, người đọc phát hiện ra mảng thơ tình mới là mạch nguồn sâu sắc và đầy bản ngã tâm hồn của Vũ Hoàng Chương. Nhất là khi tập thơ “Mây” được NXB Đời Nay in năm 1943. Người đọc dần quên đi những câu thơ tượng trưng của thi sĩ như: “Khúc nhạc hồng êm ái/ Điệu kèn biếc quay cuồng/ Một trời hương phấn/ Đôi người gió sương”. Họ đã quay sang say mê những bài thơ “Yêu mà chẳng biết”, “Cánh buồm trắng”, “Hờn dỗi”; Hoặc những câu chuyện kể qua “Mây suối về đâu”, “Phố cũ” và “U tình”…

Nhất là các bạn trẻ thường chép sổ tay những câu thơ rớt nước mắt: “Hôm qua tình đã chết/ Anh đã chôn nó rồi/ Anh khóc vì chôn nó/ Là chôn cả cuộc đời” (U tình). Người đọc theo dõi cuộc tình học trò và đầy bi kịch của nhà thơ: “Anh biết em từ độ/ Em mới tuổi mười hai/ Anh yêu em từ thuở/ Em còn tóc xõa vai”. Mối tình ấy lớn dần lên trắng trong: “Trước đây mười chín năm/ Anh vừa hai mươi tuổi/ Em cũng vừa trăng rằm/ Tóc thơm còn bỏ suối” (Mây suối về đâu).

Chàng là là thi sĩ họ Vũ, đậu tú tài ban toán trường Albert Sarraut (năm 1937), rồi trở thành sinh viên Đại học Luật khoa. Nàng là Tố Uyển học sinh trường Hàng Cót, con gái của một nhà buôn bán khá giả trong khu phố cổ. Họ quen nhau từ độ ấy và chàng trở thành gia sư cho nàng. Mối tình ngày càng mơ mộng trong nỗi nhớ nhung say đắm. Nhưng rồi thời gian bỗng trở nên khắc khoải: “Giấc uyên ương liền cánh/ Mộng trăm năm lứa đôi/ Êm đềm như tiếng hát/ Đã tan rồi em ơi”.

Những thi phẩm trong tập thơ “Say” như gạch nối giữa sự lựa chọn của cả chàng và nàng. “Say” ngỡ như cứu cánh, chàng khóc than mong kéo lại tình yêu: “Ôi chốn ngày xưa vai sánh vai/ Trán cao hoài vọng tóc buông cài/ Tuổi thơm mười sáu tình thơm mới/ Duyên đậm hàng mi ngập nắng mai”. Nhưng niềm hy vọng tắt ngấm. Bởi chỉ năm sau (1941) nàng lấy chồng theo hẹn ước của gia đình từ trước. Thế là chàng chỉ biết khóc than: “Gặp gỡ chừng như truyện liêu trai/ Ra đi chẳng hứa một ngày mai/ Em ơi lửa tắt bình khô rượu/ Đời vắng em rồi say với ai” (Đời vắng em rồi say với ai).

Đỉnh điểm bi kịch tình thơ của Vũ Hoàng Chương được dồn nén vào thi phẩm “Mười hai tháng sáu”. Bài được viết vào đúng ngày cưới của Tố Uyển như một lời chia tay bi thiết (12.6.1941). Đây là một khúc ca ở nhiều cung bậc thương và hận nhưng lại trào dâng lãng tử: “Tháng sáu mười hai-từ đấy nhé/ Chung đôi-từ đấy nhé lìa đôi/ Em xa lạ quá-đâu còn phải/ Tố của Hoàng xưa Tố của tôi”; cõi lòng tan nát ấy đổ sầu với nỗi niềm ai oán: “Men khói đêm nay sầu dựng mộ/ Bia đề tháng sáu ghi mười hai/ Tình ta ta tiếc-cuồng-ta khóc/ Tố của Hoàng nay Tố của Ai”. Người đọc bất ngờ khi thi sĩ bật lên lời ca trong nước mắt với giai điệu lãng tử: “Tay gõ vào bia mười ngón giập/ Mười năm theo máu hận trào rơi/ Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp/ Khúc Cổ Bồn Ca gõ hát chơi”. Bài thơ được in trong tập thơ “Mây” (NXB Đời Nay-1943).

Son sắt một lòng với giai nhân

Ngỡ như với “Say đi em” không ít người nghĩ Vũ Hoàng Chương là một người có trái tim ngập trong rượu. Nhưng thực tình, theo kiểm chứng của nhà văn Tô Kiều Ngân, người làm việc lâu dài với Vũ Hoàng Chương ở đài Pháp Á (Sài Gòn) xác nhận rằng: “Kỳ thực Vũ không uống được rượu, hoặc uống rất ít, mà đó là hồi còn trẻ ở Hà Nội, Vũ còn không biết nhảy đầm mặc dù tả nhẩy đầm rất hay”. Có đoạn nhà văn còn viết: “Một người quen mặc áo gấm, áo the, đi guốc mộc hay giầy hạ như anh hẳn là lạ lắm với cảnh bốn tường gương điên đảo!” (Mặc khách Sài Gòn-Tô Kiều Ngân-Nhã Nam-Hồng Đức xuất bản năm 2014).

Đặc biệt, Vũ Hoàng Chương có giọng ngâm thơ ấm áp truyền cảm. Ông cả đời chỉ làm bình luận viên chương trình thơ trên đài phát thanh và dạy học ở Văn khoa Sài Gòn. Ông liên tục ra mắt nhiều tập thơ mới sau khi cùng vợ con di cư vào nam (1954). Đặc biệt, nhà thơ Vũ Hoàng Chương được hai giải thưởng thơ lớn ở miền Nam, trở thành Chủ tịch Hội Văn bút miền Nam (1969-1973).

Đáng chú ý trong mười tập thơ sau này của ông, bi kịch tình thơ với Tố Uyển vẫn thường xuất hiện mỗi khi nhớ đến ngày 12 tháng 6 hằng năm. Lòng thi sĩ vẫn ai oán nhớ thương: “Ta đã mất em rồi Kiều Thu ngày xưa/ Hào quang đã phai rồi, tóc mun dòng thơ” (Rừng phong). Nhưng kỳ lạ thay, sau hơn ba mươi năm ôm hận tình, nhà thơ đã giải tỏa được tâm trạng. Người ta kể rằng, Tố Uyển đã tâm sự đau lòng khi bị bắt ép duyên tình với ông quan huyện nhưng lòng vẫn luôn thương nhớ người mình yêu. Chuyện từ người nhà Tố Uyển kể mãi sau này mới đến tai ông.

Rồi trong một ngày đầy đau xót 12.6.1972, Vũ Hoàng Chương đã lại viết bài thơ tình cuối cho người thương với tiêu đề: “Tố của Hoàng ơi”. Bài thơ được in trong tập “Chúng ta mất hết chỉ còn nhau” (Rừng Trúc xuất bản năm 1974). Mỗi câu thơ là một tiếng khóc ân tình khi hận được buông xả: “Ngày mai ngày mốt anh nằm xuống/ Ngọc đọng cơn sầu nửa kiếp thơ/ Đập nát ra cho trời đất uống/ Thì em sẽ rụng khỏi đêm mờ”. Cuối cùng, trái tim thi sĩ rung theo nhịp ngậm ngùi: “Mười hai tháng sáu cung hồ xế/ Một mối tình si một mối thù/ Giây phút cũng tan thành biển lệ/ Trả cho cát bụi nhé Kiều Thu!” (ghi ngày 12 tháng 6 Nhâm Tý -1972).

Hai nhà thơ Vũ Hoàng Chương và Nguyên Sa

Phải chăng chính vì con người đa sầu như vậy mới có chuyện thi sĩ nặng tình với người yêu cho tới cuối cuộc đời. Nhiều văn nhân còn kể, sau khi Tố Uyển cưới, thi sĩ Vũ Hoàng Chương vẫn còn không ít lần lén lên Bắc Ninh, nơi ở của vợ chồng Tố Uyển. Ông ngóng ở ngoài đường mong cơ hội nhìn lại hình bóng người yêu cho đỡ nhớ. Ngay lập tức, sau tập thơ “Mây” viết cho Tố Uyển; thi sĩ sáng tác một vở kịch thơ lấy tên là “Vân Muội” cho diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội. Thậm chí Vũ Hoàng Chương còn đích danh đóng vai chính để bày tỏ tình yêu thương nàng thơ của mình.

Giọng ngâm lúc nào cũng bay bổng: “Anh sẽ trầm luân ngàn kiếp nhớ/ Cho dẫu ngày mai em lãng quên”. Thơ của thi sĩ cũng như con người ông đúng như lời nguyện ước: “Cho đến ngày tận thế/ Tình ta như buổi đầu/ Anh yêu em ba chữ/ Cùng trời đất dài lâu”. Yêu và mộng còn kéo dài mãi sau này. Mộng cứ đến trong hoang tưởng mơ yêu. Nỗi nhớ như hơi thở ấm áp kề bên: “Vầng trăng hiện khóe thu xanh/ Từ bao lâu vẫn chưa đành sẻ đôi/ Bóng mờ gương khuyết pha phôi/ Này phen lại trở về ngôi đêm rằm” (Mộng vẫn còn).

Tuy theo đuổi Tây học trong nhiều năm nhưng hồn thơ Vũ Hoàng Chương lại thuộc về Đường thi và cổ học. Ông từng được gia đình cho ăn học Hán Nôm từ nhỏ, suốt mười năm trước khi lên Hà Nội học trường Albert Sarraut. Thi sĩ giỏi Hán văn nên uyên thâm với cách dùng từ ẩn ý. Chùm thơ say tuy mang hình thức tự do nhưng niêm luật được kiểm soát chặt chẽ theo cung bậc nhạc điệu đường thi.

Sau này, nghệ nhân gốm còn đưa tôi xem bản dịch bài thơ Hoàng Hạc Lâu (Thôi Hiệu) của Vũ Hoàng Chương. Tôi sững người phải chăng đây cũng là lời than của thi nhân họ Vũ luôn u sầu và thẫn thờ với nỗi nhớ quê hương và người yêu. Lời thơ buồn sâu thẳm: “Gần xa chiều xuống đâu quê quán?/ Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi”. Thật hiếm thi nhân nào có mối tình trong mộng thủy chung như Vũ Hoàng Chương. Tình cho một người, thơ trọn một đời. Vậy ông mới viết: “Ôi ta đã làm chi đời ta/ Ai đã làm chi lòng ta/ Cho đời tàn tạ lòng băng giá/ Sương mong manh quạnh chớm thu già” (Đời tàn ngõ hẹp).

VƯƠNG TÂM/ VNCA



Tin tức khác

· THANH THẢO VÀ BÀI THƠ “GẶP LÁ CƠM NẾP”
· NGUYỄN THÔNG VÀ TƯ TƯỞNG HÒA HỢP DÂN TỘC
· CHIẾU VẬT “TRĂNG” TRONG THƠ THIẾU NHI CỦA XUÂN QUỲNH VÀ TRẦN ĐĂNG KHOA
· CHÙM THƠ 'XUÂN NHẬT' CỦA NGUYỄN KHUYẾN - Tiểu luận NGUYỄN NHẬT THANH
· XÉCGÂY ALECXANGĐRÔVICH EXÊNHIN - Tiểu luận NGUYỄN VĂN GIAI
· PHẠM TRUNG VIỆT - NGƯỜI MANG NẶNG HỒN QUÊ XỨ QUẢNG - Tiểu luận NGUYỄN TRUNG HIẾU
· AI LÀ TÁC GIẢ? -Tiểu luận TRẦN VĂN THẬN
· NHÀ THƠ THANH THẢO VÀ 'BẾN SÔNG HÀN BUỔI TRƯA" - Tiểu luận HÀ HUY HOÀNG
· 50 NĂM NGHIÊN CỨU, LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH QUẢNG NGÃI - MỘT CÁI NHÌN TỔNG THỂ
· TÔI VIẾT TRƯỜNG CA “BÙNG NỔ MÙA XUÂN” - Tiểu luận THANH THẢO
· VIẾT TRƯỜNG CA, NGÀY CỰC KHỔ - Tiểu luận THANH THẢO
· “ĐÊM TRÊN CÁT” NHẬP HỒN CAO BÁ QUÁT - Tiểu luận XUÂN CANG
· TÔI VIẾT TRƯỜNG CA “NHỮNG NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC” - Tiểu luận THANH THẢO
· TINH THẦN BI TRÁNG VÀ LÝ TƯỞNG NHÂN VĂN TRONG TRƯỜNG CA THU BỒN - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· TÔI VIẾT TRƯỜNG CA “TRẺ CON Ở SƠN MỸ” - Tiểu luận THANH THẢO
· “BẾN THẤT TÌNH” NHƯNG LẠI RẤT… TÌNH - Tiểu luận LÊ VĂN HUÂN
· TRƯỜNG CA ĐẦU TIÊN CỦA TÔI - Tiểu luận THANH THẢO
· THẦY LÂN TRONG TÔI - Chân dung MAI BÁ ẤN
· NHỮNG DÒNG VĂN NGỌT VỊ SÔNG VÀ MẶN VỊ ĐỜI - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· ĐINH HOÀI BẮC VÀ CUỘC RONG CHƠI THẤM ĐƯỢM NGHĨA TÌNH - Tiểu luận MAI BÁ ẤN

Tin tức mới
♦ MAI BÁ ẤN VÀ CHÙM THƠ 1-2-3 & 2 GỬI HUẾ (09/08/2026)
♦ KHÁCH SẠN CẦM GIANG - Truyện ngắn HÒA VINH (09/08/2026)
♦ THANH THẢO VÀ BÀI THƠ “GẶP LÁ CƠM NẾP”  (09/08/2026)
♦ CHÙM THƠ KHẮC MINH - GIẢ DỤ NHƯ EM LÀ MẶT TRỜI (07/08/2026)
♦ NGUYỄN THÔNG VÀ TƯ TƯỞNG HÒA HỢP DÂN TỘC (07/08/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 2218724
Trong thang Trong tháng: 234706
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 135809
Truc tuyen Trực tuyến: 16

...

...

Designed by VietNetNam