TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Tư liệu
“TINH HUYẾT – TINH HOA” VÀ ĐIỆU HỒN BÍCH KHÊ
“TINH HUYẾT – TINH HOA” VÀ ĐIỆU HỒN BÍCH KHÊ
TRẦN THU HÀ
Bích Khê là người bạn khá thân với Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên trong nhóm Bàn Thành Tứ Hữu (bao gồm Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Yến Lan) một thời làm mưa làm gió trên thi đàn Việt Nam những năm 1932 -1945 thế kỉ XX. Ông là người đã mang đến những hình ảnh tân kì làm thay đổi hẳn góc nhìn của thơ ca Việt Nam nhưng vẫn giữ được cốt cách tâm hồn Việt qua một điệu hồn riêng...
(Nhà thơ Nguyễn Thái Dương và Mai Bá Ấn, 2023)
Giọng điệu làm nên cá tính sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ. Chúng ta có thể nhận ra ngay một Chế Lan Viên giàu triết lý mang hơi hướng Phục hưng trong “Điêu tàn” , một Hàn Mặc Tử điên cuồng trong “đau thương”, một Nguyễn Bính “tương tư” trong cái vẻ chân quê mộc mạc… Nhưng để nhận ra điệu tâm hồn của Bích Khê thật không dễ dàng. Nhà thơ Thanh Thảo đã nhận xét: “Nếu nhà thơ là “con chim ngứa cổ hót chơi” như Xuân Diệu định nghĩa, thì Bích Khê chính là con chim hót chơi có ý thức, muốn tìm cho mình một giọng riêng, một giọng khác”. Từ đây, ta thấy, để nhận diện được giọng điệu thơ Bích Khê, chúng ta phải chấp nhận phiêu lưu cùng ông trong một hành trình đầy thử thách của những thử nghiệm mới lạ, rất khó nắm bắt trong Tinh Huyết và sự trở về rất đằm thắm trong Tinh Hoa.
Như đã nói, Bích Khê làm thơ không đơn thuần là để bộc lộ cảm xúc cá nhân về thế giới xung quanh mình mà ông làm thơ là để cho thơ thật sự mới. Ý thức ấy ăn sâu vào máu thịt và trở thành nguyên tắc bất di bất dịch trong tư duy nghệ thuật của ông khi viết Tinh Huyết. Cho nên, ở tập thơ này, cảm hứng của Bích Khê thường là bất chợt và ngôn ngữ thơ ông, vì thế, cũng bật ra hết sức tự nhiên. Bích Khê không dè dặt khi bộc lộ ý tưởng, ông luôn mang vào thơ mình cách nói rất hào phóng nhưng lại rất khó hiểu. Với Bích Khê, thơ dường như không có sự sắp đặt của ý nghĩ và câu chữ, thơ là tự nó bật lên từ tâm thức:
Hỡi trần gian! hãy chết ngột trong sao
Cho chân lý ngời ra như lưỡi kiếm;
Cho tình ta xô dồn sang cực điểm;
Và hào quang khiêu vũ với hào quang…
(Nàng bước tới…)
Ý tứ giữa các câu thơ có cảm giác chẳng ăn nhập gì với nhau, mỗi câu là một bày tỏ, một khát mong của thi nhân. Song, sự kết hợp tự nhiên của chúng lại tạo nên tiếng nói chung của một tư duy nghệ thuật hiện đại, tung mở tới tận cùng những khám phá sự biểu đạt của ngôn từ. Những kiểu nói khiến người đọc khó hình dung và đoán định được ý tưởng của người viết như: “Của lòng yêu ca ngợi tuyệt vời cao” hay “Chân lý ngời ra như lưỡi kiếm”, “Và hào quang khiêu vũ với hào quang” là kiểu nói đặc trưng của riêng Bích Khê. Nó luôn cất lên đột ngột và kết thúc cũng đột ngột như thế. Trong thơ ông, nhất là Tinh Huyết, kiểu nói ấy xuất hiện với tần xuất rất lớn, ví dụ kết thúc bài thơ Cô gái ngây thơ, Bích Khê viết:
…Đây du dương vừa ngợp cả trăng sao
Hồn bay qua muôn luồng không khí nhẹ
No ứ quá, nhưng không thôi quạnh quẽ
Không thôi trào máu lệ giữa con ngươi.
Thật là khó có thể cắt nghĩa một cách chính xác cảm xúc cũng như điều mà Bích Khê muốn gửi gắm trong những câu thơ như thế này, nếu đem đối sánh với tựa đề bài thơ. Chỉ có thể ngầm nhận ra và trộm phép nhà thơ tự kết luận rằng, giọng điệu “phù thủy” của Bích Khê đã làm biến ảo thế giới ngôn từ, kích thích rất mạnh trí tò mò và sức tưởng tượng của người đọc. Người đọc cũng thật khó mà tìm ra được cho mình một lối đi dễ dàng vào thơ Bích Khê, bởi như đã thấy, thơ ông luôn luôn chứa đựng những điều bí ẩn đến lạ lùng. Mấy ai có thể hiểu được một cách chân xác những câu thơ như thế này của Bích Khê, dù nó làm cho ta phải chú ý, phải suy ngẫm:
Theo trực giác bay lên nguồn ngọc lệ
Cho đã khát trong đê mê huyền bí
Ánh tiên tri nức nở sóng anh linh
Đường kim tuyến nhiễm hút chất vô hình
Dẫn địa ngục đi vào đôi giếng loạn?
(Châu)
Có thể thấy, toàn bộ sáng tác của Bích Khê trong Tinh Huyết và một số bài thơ trong phần đầu Tinh Hoa như: Duy tân, Xuân tượng trưng, Lên kim tinh, Hàn Mặc Tử … đều mang giọng điệu rất riêng biệt và đầy cá tính ấy của ông.
Tuy nhiên, không phải giọng điệu thơ Bích Khê lúc nào cũng phóng túng một cách khó hiểu và bí ẩn đến không thể nắm bắt được. Sau hành trình thử nghiệm đi tìm cái mới cho thơ trong Tinh Huyết, đến Tinh Hoa, Bích Khê đã mang đến cho người đọc một giọng điệu gần gũi, dễ hiểu và đằm thắm hơn nhiều. Chất phương Đông trở lại và cân bằng cảm hứng trong tư duy nghệ thuật của Bích Khê. Song Bích Khê vẫn lạ và mới, theo cách riêng của ông. Nếu đọc kĩ từng bài thơ của Bích Khê, ta sẽ thấy, ông nói nhiều về những chiêm nghiệm, những khao khát từ trong sâu thẳm ý nghĩ và những ước vọng rất riêng tư của mình. Tiếng nói ấy âm vang từ bên trong tâm hồn nhà thơ, thấp thoáng một nỗi buồn cô đơn, nhẹ nhàng nhưng tha thiết:
Gió về mang cả mùi lăng tẩm
Buồn cắt lên đền những miếng đen.
Người viễn khách, lòng sầu vạn cổ,
Dặm mòn muốn gặp một người quen!
(Dặm mòn)
Không còn ẩn dấu trong câu chữ những điều bí ẩn đôi khi không cắt nghĩa được, nỗi buồn cô đơn man mác và ước mong chân thành của “người viễn khách” được Bích Khê diễn đạt bằng sự kết hợp cả tư duy hiện đại (2 câu đầu) và lối nói truyền thống (2 câu sau) nên người đọc có thể hòa điệu ngay với tiếng lòng của người trong cuộc.
Lời tuyệt mệnh cũng là một bài thơ nhiều cảm xúc của Bích Khê:
Thân bệnh: ngô vàng mưa lá rụng;
Bút thần: sông lạnh ánh sao rơi,
Sau nghìn thu nữa trên trần thế
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi.
Bích Khê đã khắc họa hình ảnh của mình thật giản dị mà sâu lắng. Bệnh tật, sức sáng tạo, ước nguyện, niềm tin và tình yêu cuộc sống là tiếng nói chan chứa yêu thương tự đáy lòng ông. Một lời tuyệt mệnh nhẹ nhõm và bình thản lạ lùng. Thế nên, Bích Khê mới có đủ tinh anh để tưởng tượng về nấm mộ của mình khi ông không còn hiện diện nơi trần thế:
Gió tiêu sã quạt buồn thanh tịnh
Về chốn thôn già viếng mả tôi
Đầy cỏ xanh xao mây lớp phủ
Trên mồ con quạ đứng im hơi.
(Nấm mộ)
Ta còn gặp trong Tinh Hoa tiếng nói của một tình bạn thắm thiết mà Bích Khê dành riêng cho người bạn thơ tài hoa Hàn Mặc Tử, hay niềm cảm thông cũng như sự ngưỡng mộ của Bích Khê đối với số phận nhiều trắc trở và tài năng hiếm có của nữ sĩ Hồ Xuân Hương một thời lừng lẫy. Sự chuyển điệu này cho thấy tâm hồn phong phú và một tư duy nghệ thuật giàu sức sáng tạo của Bích Khê. Với những bài thơ tri âm, thù tạc này, giọng điệu thơ Bích Khê vừa yêu thương, nồng thắm vừa trân trọng, quý nhã. Hình như đó là điệu hồn riêng “thơm đủ mùi phước lộc” của người thi sĩ tài hoa này. Bích Khê thực sự là niềm tự hào riêng có của quê hương núi Ấn sông Trà nói riêng và Trường thơ loạn một thời vang bóng trong phong trào Thơ Mới nói chung.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.