• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Thi hữu
 
CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 6: ĐẦM BA SƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN

CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 6: ĐẦM BA SƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN



- Hồi ức MAI BÁ ẤN

Tôi hỏi khắp người làng, nhưng cho đến bây giờ, vẫn chưa biết được cái tên “Ba Sơn” xuất phát từ đâu? Đầm Ba Sơn nằm phía Đông gò Ông Bông và gò Gốc Găng là cánh đồng chua mặn. Thời chưa có Đập Trà Tây cung cấp nước ngọt và chưa có Đập Bà Quận ngăn nước mặn từ sông Bến Ván lên, cũng chưa có bờ đê từ Đập Bà Quận chạy lên Gò Gốc Găng để ngăn nước mặn từ hạ lưu Sông Trầu phía Bắc tràn vào, thì đây một đầm nước mặn trải dài giáp với Rừng Sác và Rừng Dừa nước của sông Tịch Tây thuộc xã Kỳ Liên (xã Tam Nghĩa sau 1975 và nay là xã Núi Thành). Ranh giới giữa Gò Găng, Gò Ông Bông và cái đầm này là những bờ rào toàn cây Dứa dại lâu đời. Vì quá lâu đời nên những hàng Dứa dại này mọc ngang ra nhiều nhánh, thân nhánh sau khi rụng lá qua bao tháng năm nên cũng rất cứng cáp. Ở đỉnh mỗi nhánh và ngọn là những chùm lá xanh, còn thân cành thì bọn trẻ trâu chúng tôi nằm, ngồi thoải mái. Đây cũng chính là nơi lý tưởng để chúng tôi vừa ngồi canh trâu, bò trên đồng vừa học bài, đọc sách nhờ bóng mát của những tàn lá Dứa tỏa ra như những chiếc lọng che. Chị Út Bửu (vợ anh hai Quyền đã mất) ở ngay dưới nhà thờ tộc Mai bây giờ, thường kể về tấm gương hiếu học của tôi cho con cháu nghe. Đó là chuyện vừa chăn trâu vừa học bài, đọc sách, nháp bài trên những tờ giấy xi măng… Học say mê đến nỗi rắn bò qua vai mà không hề biết! Có lẽ chuyện vừa chăn trâu vừa học bài và giấy nháp thì khá phổ biến đối với học trò nghèo ở nông thôn. Riêng cái chuyện “rắn bò” thì đúng là thế này: Cũng một buổi chiều, sau khi thả trâu xuống cánh đồng chua mặn rộng mênh mông trước mặt, tôi leo lên nhánh Dứa để ngồi học bài như thường lệ. Đang mở vở ra rung đùi ngồi đọc say sưa thì bất ngờ, một con rắn từ thân cây Dứa trườn qua vai, cái đầu chạm vào trang vở. Vì ngay tầm mắt nên chính lúc đó, tôi mới nhận ra con rắn. Tôi hét lên một tiếng, tung quyển vở và nhảy phóc xuống đất. Bạn trẻ chăn trâu chung quanh quay lại nhìn và chứng kiến, con rắn cũng rớt theo và hốt hoảng chạy trốn vào bụi rậm. Thì ra, con rắn vốn ở trên ngọn Dứa (chắc từ đêm qua), khi tôi ngồi học bài cứ rung đùi làm ngọn Dứa lắc lư. Bị động, rắn ta liền mò xuống. Và vì thấy tôi vẫn ngồi im đọc bài như pho tượng, nên rắn trườn sang vai và lướt trên trang vở...

Một góc Gò Gốc Găng (Chòm cây ngay đầu trên bên phải của ảnh),

Cũng từ chuyện chăn trâu trên cánh đồng này mà có chuyện, nhà tôi “bị mất” cả đàn trâu. Cho đến bây giờ, tôi vẫn chưa hiểu vì sao cả Xóm Bến tôi lại chỉ mình nhà tôi nuôi trâu, còn tất cả đều chỉ nuôi bò? Để xem, nếu tính đúng những gia đình gốc nông dân ở Xóm Bến thì nhà ông Quý, ông Lục (sau này đời con là ông năm Thái - cha thằng Bường bạn tôi), ông ba Quế đều nuôi bò. Chỉ nhà tôi và sau này có nhà cậu Xanh bên cạnh nhà tôi là nuôi trâu, nhưng nhà cậu Xanh thì ít ruộng đất nên chỉ nuôi trâu đực để cày chiếc, không nuôi thành đàn trâu để cày đôi như nhà tôi. Vì thế con trâu đực ấy thường được chăn dắt riêng một mình ở những bờ cỏ tốt chứ ít khi thả chăn theo đàn. Một hôm cậu Xanh dắt con trâu đực của mình ăn cỏ trên gò mả phía sau nhà bà Trợ, khi trâu cạ vào thân cây Duối thì bị một con rắn Lục cắn liền mấy phát. Nọc rắn Lục quá độc nên sức mạnh như con trâu đực cổ của cậu vẫn không chịu nổi. Trâu to phải chết vì nọc độc Rắn nhỏ chính là vậy. Còn việc vì sao chỉ nhà tôi và cậu Xanh nuôi trâu thì theo người trong xóm, việc chọn nuôi trâu bò, lệ thuộc vào tay nuôi của từng nhà, chứ thật ra đồng đất thịt pha cát mà chủ yếu là cát của quê tôi thì hợp với bò (đồng khô) hơn là trâu (đầm nước).

Đầm Ba Sơn hôm nay

Vì là đất chua mặn nên Đầm Ba Sơn thời trước những năm 1970 (thế kỷ XX) chỉ là những đầm nước mặn và đồng cỏ. Vì thế trâu và bò cùng thả trên đồng, trong khi bò thì chỉ quẩn quanh ăn cỏ trên đồng cạn, trâu nhà tôi thì có xu hướng ăn dần về phía sông Tịch Tây. Vì lẽ đó, một chiều, khi đi kiếm trâu để lùa về, mới phát hiện bầy trâu nhà tôi do mải mê ăn và ham nước, đã lạc vào những rừng Sác và rừng Dừa nước Tịch Tây. Đám bạn chăn bò lùa bò về báo tin cho gia đình, trâu tôi bị mất. Vậy là cả xóm huy động đi tìm. Một toán đi tìm khắp ven sông, từ Cồn Định hạ lưu sông Trầu cho đến giáp xuống rừng dừa nước ông mười Mậu, Xóm Khương Quang, xã Kỳ Khương (xã Tam Hiệp sau 1975 và nay là xã Núi Thành) đến sông Bến Ván (An Tân). Một toán luồn vào Rừng Sác, Rừng Dừa nước ven sông Tịch Tây. Đến lúc phát hiện ra thì trâu nhà tôi đã bị người dân Tịch Tây dùng dây thừng trói giữ, vì sau khi tuồn vào rừng Sác, chúng bơi thẳng qua bên kia sông và ăn lúa của dân Xóm Bến Đình, thôn Tịch Tây, xã Kỳ Liên hết cả mấy sào! Vậy là anh Hai tôi bèn thương lượng chuyện đền bù và chăm sóc lại hai sào lúa ấy, tôi không bị đòn vì thực ra, cả nhà và xóm tôi ai cũng bênh vực: Thằng Én do ham học mà lơ là cái chuyện chăn trâu…

Tôi có quan hệ bà con với người ở Bến Đình, Tịch Tây nên vẫn biết, dù cánh đồng chua mặn và khu Rừng Sác đã được cải tạo để trồng lúa từ trước 1975, nhưng rất may, ven bờ Tây sông Tịch Tây vẫn còn lưu lại được những khoảng Rừng Dừa nước xanh um tận đến bây giờ. Hiện nay, chính quyền xã Núi Thành đang chủ trương khôi phục, mở rộng Rừng Dừa để phát triển du lịch sinh thái ven sông Tịch Tây từ Đập Bà Quận ngược về Nam men theo chân núi của Di tích lịch sử “Núi Thành trận đầu đánh Mỹ” diễn ra vào đêm 25 rạng ngày 26 tháng 5 năm 1965 để Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ban tặng cho Quảng Nam 10 chữ vàng: “Quảng Nam trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”…

Về cái Đầm Ba Sơn mà nay đã là đồng lúa mênh mông giáp liền hai xã cũng xin ghi lại đây công sức của chú Bảy tôi. Chú cùng đầu Ông Nội với cha tôi, tên là Mai Bá Lý (ông giáo Lý). Từ thời kháng chiến chống Pháp, chú theo cách mạng dạy bình dân học vụ trên rừng. Đến khoảng năm 1967, thời kháng chiến chống Mỹ, với tư cách là một cán bộ Tuyên giáo Khu V chú cùng ba người nữa xuống xã Kỳ Thạnh, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (sau 1975 là xã Tam Thạnh, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, đến tháng 7 năm 2025 hợp cùng xã Tam Sơn thành xã Đức Phú, thành phố Đà Nẵng) để tuyên truyền. Trên đường đi thì rơi vào một trận càn của lính Mỹ. Sau loạt bom tơi tả, ba đồng đội hi sinh, chú bị thương nặng. Chú bò ra mé rừng thì bị máy bay phát hiện. Chiếc máy bay “Con Rọm” hạ xuống, tên lính Mỹ chĩa súng vào chú và hỏi: “VC?” (Việt Cộng?), chú xua tay đáp: “No VC” (Không phải Việt Cộng!). Nghe bảo thế, chúng không bắn mà hốt chú lên máy bay về Nhà thương Tam Kỳ. Sau khi cứu chữa xong, biết chú chỉ là một thầy giáo dạy chữ, nên cho chú về quê. Từ khi lên núi theo cách mạng, cả gia tộc cứ ngỡ chú đã chết trên núi rừng. Bất ngờ, năm 1967, chú lê tấm thân thương tích (một chân đang băng bột) về quê. Cha mẹ không còn, anh trai mất sớm, các chị đã có chồng xa, một thân một mình không biết nương tựa vào đâu, chú ở cùng gia đình tôi. Lúc này, bên sát vách nhà tôi là nhà bà Thạnh (mẹ cô Ba Thạnh - em thúc bá của cha tôi) - ngôi nhà tranh mà cha tôi cho đất để làm nhà. Khi cô Ba Thạnh có chồng về Xóm Chợ, mẹ con cô bán nhà lại cho bà Trà (mẹ chồng của thiếm Thân - vợ liệt sĩ). Chú đơn thân ở nhà tôi, gặp thiếm là mẹ đơn thân nên đồng cảm và gá nghĩa cùng nhau. Sau khi thành vợ chồng, bà Trà cùng chú thiếm dời ngôi nhà lên làm trên đất đám Ruộng Lớn của gia đình tôi (sau vườn bà Thế), phía trên đó khoảng 500 mét. Đất nhà cũ giao lại cho nhà tôi, nay thuộc khuôn viên Nhà thờ tộc Mai của tôi.

Do là thầy giáo, văn hay chữ tốt nên sau đó, chính quyền xã Kỳ Sanh đưa chú làm Ấp phó Hành chính Ấp 1 (tức Phú Quý 1) của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Gia đình chú thiếm dời nhà từ đám Ruộng Lớn lên vườn Bà Thế để gần mặt đường và ở đó mãi đến nay. Từ đó, với ý chí quyết tâm cải tạo đồng ruộng, chú ra sức cải tạo phần trên cánh đồng chua mặn ngay sát Gò Gốc Găng, đưa nước Đập Trà Tây về giải phèn và bắt đầu cấy lúa. Mấy héc-ta ruộng của chú đang đà phát triển thì giải phóng về và tất cả ruộng sung vào hợp tác xã. Đồng lúa Ba Sơn tiếp tục được người dân canh tác mở rộng về phía Đông. Bây giờ vào dịp cuối năm, khi đi dẫy mã ở Gò Gốc Găng - nơi có mộ của ông bà nội chú (tức ông bà cố tôi), mộ của cha mẹ chú, cả mộ chú, mộ vợ chồng cậu Xanh và ông anh thứ Sáu của tôi; mỗi lần đứng nhìn ra cánh đồng Ba Sơn ngút ngàn lúa xanh là mỗi lần nhớ về công lao chú đã khai khẩn thuở ban đầu để từ cái Đầm Ba Sơn chua mặn trở thành ruộng đồng ngút ngát hôm nay. Sau 1975, vì thông thuộc ruộng đất trong làng nên chú được chính quyền cách mạng mời lại làm việc ở Hợp tác xã Nông nghiệp một thời gian. Đến năm 1979, do bất đồng quan điểm với cán bộ trong việc phân chia ruộng đất cho nông dân Hợp tác xã, chú bị truy khai lại lý lịch, bị đi tù khoảng 2 năm. Rồi chú được ân xá dịp Lễ Quốc Khánh 02/9/1981. Cùng với ba người con riêng của thiếm, chú thiếm sinh được hai người con gái và một người con trai. Đến năm 1997 thì chú qua đời. và theo nguyện vọng, chú được an táng bên cạnh mộ thân phụ ở Gò Gốc Găng.

Con đường (đê ngăn nước mặn) từ Đập Bà Quận (Kỳ Liên) chạy lên Gò Gốc Găng (trong ảnh là đoạn từ Gò Gốc Găng chạy xuống Xóm Dện (Kỳ Liên)

Sở dĩ chú quyết tâm thực hiện biến Đầm Ba Sơn thành ruộng lúa là bởi cái đầm này vốn trước đó có một phần đất đai của ông nội và cha của chú. Cha của chú - ông Cả Thơm vốn nhiều ruộng đất thừa hưởng từ ông bà để lại nên sinh ra ham vui cờ bạc, bán dần đất đai, kể cả vùng đất thuộc Đầm Ba Sơn này. Như đã nói ở phần Xóm Bến, Gò Gốc Găng vốn là đất thiêng của người Chămpa nên thời đó chưa ai dám an táng người thân ở đó. Mộ ông bà cố tôi (ông nội chú) cũng nằm chếch về phía Tây Nam gò, sít chân Gò Ông Bông. Cha chú vốn là cụ cả trong làng nên có nói: “Mạng tạo lớn, nên khi tao chết, cứ chôn tao ở Gò Gốc Găng. Không sao cả!”. Và thời đó chỉ riêng mình mộ cha của chú. Đến năm 1969 khi anh Sáu tôi mất, cha tôi cũng đưa anh về an táng tại đây. Sau này, khi đến cô cậu Xanh tôi mất cũng an táng sát phía Nam mộ anh Sáu tôi. Rồi khi chú mất cũng nằm bên mộ cha, sau đó, con trai chú đã dời mộ bà nội (mẹ chú) về nằm bên cạnh chồng. Bên cạnh mộ chú hiện nay, con trai chú cũng đã mua nới thêm đất về phía Nam dành phần cho mẹ mình để khi mất được nằm bên cạnh chú. Và như vậy, tại Gò Gốc Găng nhìn ra đồng lúa Ba Sơn hiện nay, bên cạnh mộ ông bà nội chú thì cả nhà chú (cha, mẹ và sắp đến là vợ chú) sẽ yên nghỉ nơi đây để mãi nhìn ra cánh đồng Ba Sơn vốn thuộc đất tổ tiên mình và cũng đã một thời, chú dày công biến đầm thành ruộng.

ẢNH TRONG BÀI của Lê Huân



Tin tức khác

· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 6: ĐẦM BA SƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM THƠ TRẦM THỤY DU - TÔI NGỒI LẠI VỚI MÙA THU QUẢNG NGÃI
· CHÙM THƠ TRẦM THỤY DU - TÔI NGỒI LẠI VỚI MÙA THU QUẢNG NGÃI
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 5. CHÙA PHÚ SƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· KẺ LẠ - Tạp bút NGUYỄN NGỌC TƯ
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 4. CHÙA TIỀN NHƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM THƠ LỤC BÁT CỦA NGUYỄN THANH MỪNG
· QUA NHỮNG THÁO CHUÔNG NINH BÌNH
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 3. CẦU BÀ GIÀY -Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM THƠ NGUYỄN DĂNG TRÌNH - NGỰA HOANG RUỔI VÓ ĐĂNG TRÌNH
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM - KỲ 2. ĐẦM ÔNG HOÀNH VÀ ĐẬP TRÀ TÂY - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM THƠ NGUYỄN HUYỀN THẠCH - TRƯỚC HIÊN NHÀ CHIỀU NAY TÔI ĐỨNG NGẮM
· CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 1: BẾN SÔNG TRẦU - Hồi ức MAI BÁ ẤN
· CHÙM THƠ BÙI VĂN CANG - BẢNG ĐEN NỀ NẾP, GHẾ BÀN SO LE
· CHÙM THƠ NGUYỄN NGỌC TRẠCH - TU HÚ THƯƠNG CÁ CHUỒN GỌI NẮNG
· NGƯỜI GỌI MÌNH LÀ CỎ - Tản văn TRẦN TUẤN
· CHÙM THƠ TRẦN THOẠI NGUYÊN - TÔI PHỤNG HIẾN TRÁI TIM TÔI TƯƠI ĐỎ
· TIẾNG CHIM VỊT KÊU - Truyện ngắn TRẦN HOÀI HÀ
· TIẾNG CHIM VỊT KÊU - Truyện ngắn TRẦN HOÀI HÀ
· CHÙM THƠ THẢO NGUYÊN LÊ VĂN DIÊU - CHẠM VÀO CON CHỮ, KÝ ỨC THÊM GIÀU

Tin tức mới
♦ CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 6: ĐẦM BA SƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN (16/09/2026)
♦ CHÙM THƠ TRẦM THỤY DU - TÔI NGỒI LẠI VỚI MÙA THU QUẢNG NGÃI (16/09/2026)
♦ CHÙM THƠ TRẦM THỤY DU - TÔI NGỒI LẠI VỚI MÙA THU QUẢNG NGÃI (16/09/2026)
♦ NHÀ THƠ VŨ CAO - VĂN PHẨM VÀ CUỘC ĐỜI - Tiểu luận NGÔ VĨNH BÌNH (16/09/2026)
♦ NHÀ THƠ HỮU LOAN VỚI 'MÀU TÍM HOA SIM' (16/09/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 2283655
Trong thang Trong tháng: 234706
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 144816
Truc tuyen Trực tuyến: 7

...

...

Designed by VietNetNam