• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
LÀNG QUÊ TẾ HANH TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM QUA BÀI THƠ ''MỘT LÀNG THƯƠNG NHỚ'' -Tiểu luận THANH THẢO

LÀNG QUÊ TẾ HANH TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM QUA BÀI THƠ ''MỘT LÀNG THƯƠNG NHỚ'' -Tiểu luận THANH THẢO



vhntquangngai, 15/12/2022 11:04:03 AM         


 

 

BaoQuangngai, 06:18, 19/08/2022 [GMT+7]

   

.

.

 

Làng ấy, buồn ủ rũ một bên sông

 

Hồn thương nhớ đắm chìm trong dĩ vãng

 

Thuở phong lưu, sắc đời đầy tươi sáng

 

Tơ lụa vàng chói rạng khắp bao thôn

 

Dưới trời xanh, soi biếc cả tâm hồn

 

Dâu tăm tắp từ đồng ra đến bãi

 

Đi hái lá, buổi chiều về cô gái

 

Vẳng lời ca ân ái khúc xuân tình

 

Tiếng chim ca nô nức với bình minh

 

Người thôn nữ thấy lòng như lụa mướt

 

Tay đưa thoi, ngồi dệt tình mơ ước

 

Đời thanh bình mây gió giục yêu đương

 

Đôi chàng trai lơ đãng để tơ vương

 

Đem tâm sự gửi vào giây chỉ mộng

 

Và con sông tưng bừng theo nhịp sống

 

Cũng rộn ràng lộng bóng những Tây Thi…

 

Nhưng một hồi tơ lụa phải ra đi

 

Hàng ngoại hóa giết dần hàng nội hóa

 

Vắng bóng kẻ sớm chiều đi hái lá

 

Dáng dâu mềm lả lướt đã nhường cho

 

Vẻ nặng nề không sắc của khoai ngô

 

Cỏ từ đây hắt hiu niềm nhớ tiếc

 

Những đôi lứa bỗng nhiên đành vĩnh biệt

 

Thôi còn đâu tha thiết với đường tơ

 

Việc hàng ngày vất vả, quá thô sơ

 

Đời lam lũ lấy gì thơ với mộng

 

Trước khung cửi nằm im chờ nhện đóng

 

Phận con tằm lỡ dở nghĩ mà thương

 

Bao trái tim góa bụa giữa tầm thường

 

Một thế hệ hao mòn trong lặng lẽ

 

Cho đến nỗi cháu nghe bà kể lể

 

Hạnh phúc xưa như thể chuyện hoang đường

 

Chỉ làng buồn còn giữ một màu tang

 

Và đất nhớ võ vàng mơ ước cũ

 

Và con sông âm thầm trong nước ngủ

 

Vẻ mồ côi của một xứ buồn tênh. 

 

(1942)

Tế Hanh

 

Lời bình của Thanh Thảo:

 

Quê Tế Hanh vốn xưa có nghề trồng dâu nuôi tằm kéo tơ dệt lụa. Làng Bình Dương ấy đã có một thời phong lưu, thời mà đời sống người dân lao động tuy vất vả nhưng vẫn có nét thảnh thơi của một nghề dù “nuôi tằm ăn cơm đứng” nhưng thu nhập khá, lại không phải “chân lấm tay bùn”: 

 

“Thuở phong lưu, sắc đời đầy tươi sáng

 

Tơ lụa vàng chói rạng khắp bao thôn

 

Dưới trời xanh, soi biếc cả tâm hồn”

 

Dĩ nhiên, khi viết bài thơ này, Tế Hanh vẫn còn là nhà thơ lãng mạn, ông nhìn cảnh sắc và nghề lao động đặc thù này với cái nhìn “làm đẹp hơn”. Dù sao, người đọc thơ vẫn cảm nhận được quê Bình Dương của Tế Hanh đã từng có một thời khá giả, tươi vui, cho tới khi…

 

“Nhưng một hồi tơ lụa phải ra đi

 

Hàng ngoại hóa giết dần hàng nội hóa

 

Vắng bóng kẻ sớm chiều đi hái lá

 

Dáng dâu mềm lả lướt đã nhường cho

 

Vẻ nặng nề không sắc của khoai ngô

 

Cỏ từ đây hắt hiu niềm nhớ tiếc

 

Những đôi lứa bỗng nhiên đành vĩnh biệt

 

Thôi còn đâu tha thiết với đường tơ”

 

Vẫn là cái nhìn buồn bã của một hồn thơ lãng mạn, nhưng nó không hề quay lưng với hiện thực của ngôi làng đã mất nghề trồng dâu nuôi tằm chỉ vì “Hàng ngoại hóa giết dần hàng nội hóa”. Bài thơ viết năm 1942, năm mà thực dân Pháp cai trị Việt Nam đã dâng thuộc địa Việt Nam cho phát xít Nhật, và nền kinh tế “nội hóa” đã suy kiệt, suy sụp vì dân ta bị “một cổ hai tròng”cai trị, vì chiến tranh thế giới thứ 2 đang lan rộng khắp thế giới. Ngày đó, cánh cửa mở ra xuất khẩu hàng hóa từ đô thị Hội An, phố thị Thu Xà đã không còn hoạt động như trước nữa, và không chỉ quê Tế Hanh, mà Quảng Ngãi tỉnh cũng lâm vào cảnh khổ nghèo vì chính sách thu gom lương thực tàn bạo của quân đội Nhật, và cách vơ vét “kiếm được miếng nào hay miếng đó” của các quan thực dân Pháp.

 

Đó là thời điểm cuộc Cách mạng sau đó 3 năm-cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đang âm thầm chuẩn bị, âm thầm chuyển động khắp 3 miền Nam-Trung-Bắc. Những người tù cộng sản được tha về từ Tây Nguyên và Côn Đảo đang kết nối hoạt động trở lại, bí mật tuyên truyền cho quần chúng những lời hiệu triệu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về thời cơ toàn dân đứng lên cứu nước.

 

Bài thơ của Tế Hanh không tuyên truyền cho cách mạng, nhưng nó phản ánh một hiện thực về sự thay đổi xấu đi, thay đổi khó sống của  đời sống một vùng quê cụ thể-quê Bình Dương của nhà thơ vào năm 1942:

 

“Chỉ làng buồn còn giữ một màu tang

 

Và đất nhớ võ vàng mơ ước cũ

 

Và con sông âm thầm trong nước ngủ

 

Vẻ mồ côi của một xứ buồn tênh”

 

Chỉ như thế thôi, nhưng yêu cầu phải thay đổi đã âm thầm dâng cao ngút. Và một nhà thơ lãng mạn trong trẻo hiền hậu như Tế Hanh, khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông đã biết ngay mình sẽ đi cùng ai, đi về phía nào: 

 

“Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến

 

Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển

 

Vẫn trở về lưu luyến bên sông”

                                   

(Bài “Nhớ con sông quê hương”)

 

Nhà thơ yêu quê hương, yêu nước đã có sự lựa chọn không do dự cho mình, cùng với quê hương mình:

 

“Có những trưa tôi đứng dưới hàng cây

 

Bỗng nghe dâng cả một nỗi tràn đầy

 

Hình ảnh con sông quê mát rượi

 

Lai láng chảy, lòng tôi như suối tưới” 

                                           

(Bài “Nhớ con sông quê hương”)

 

Bài thơ “Một làng thương nhớ” Tế Hanh viết từ năm 1942 và ít phổ biến hơn nhiều bài thơ khác của ông. Nhưng nó đã được in trong “Tế Hanh toàn tập” của NXB Văn Học, như một minh chứng cho con đường của nhà thơ Tế Hanh đến và đồng hành cùng Cách mạng.

                                                           

 

THANH THẢO

Từ khóa: Từ khóa:  Làng quê Tế Hanh,  Bình Dương,  một làng thương nhớ,  Thanh Thảo, 


Tin tức khác

· LỜI KỂ CỦA CỰU BINH 38 NĂM VANG VỌNG LỜI THỀ GIỮ ĐẢO CỦA CỰU BINH GẠC MA
· THƠ TỐ HỮU VÀ SỰ HIỆN HỮU TRONG DI SẢN VĂN HỌC MIỀN NAM 1954 - 1975 - Tiểu luận TRẦN HOÀI ANH
· MỘT BÀI THƠ CỦA SỨ GIẢ ĐẠI VIỆT ĐƯỢC TRUNG QUỐC KHẮC VÀO BIA ĐÁ VẪN CÒN NGUYÊN VẸN
· NƯỚC NAM HÁN TỪNG ĐẠI BẠI TRƯỚC NGÔ QUYỀN DO AI THÀNH LẬP, TỒN TẠI BAO NHIÊU NĂM, CÓ MẤY VỊ HOÀNG ĐẾ?
· TRÊN CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI PHẨM GIÁ CỦA THƠ CA - Tiểu luận TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
· HOA NỞ KHÔNG ĐỢI NGƯỜI CHO PHÉP -Tiểu luận NAM THI
· TIỂU LUẬN VŨ QUẦN PHƯƠNG - PHẨM GIÁ CỦA THƠ CA
· ĐOÀN PHÚ TỨ - ĐƯỜNG ĐỜI BAO NỖI
· 'MẬT MÃ' MỐI TÌNH PHẠM THÁI - QUỲNH NHƯ
· THI BÁ ĐƯỢC ĐỀ CỬ GIẢI NOBEL - TÀI NĂNG KHÔNG KÉM XUÂN DIỆU, HUY CẬN
· KHI MẶC KHÁCH VIẾT VỀ MẶC KHÁCH
· TIỂU LUẬN NGUYỄN KHOA ĐIỀM - PHẨM GIÁ CỦA THƠ CA
· CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975
· LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG
· TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG
· NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA DƯƠNG HƯỚNG
· NHÀ THƠ ĐẶNG ĐÌNH HƯNG - MỘT CUỘC CÁCH TÂN THƠ ÂM THẦM - Tiểu luận NGUYỄN THỤY KHA
· 40 NĂM TÌM CON GÁI CHO CHA
· NƠI YÊN NGHỈ CỦA VỊ VUA 'HỒI HƯƠNG' SAU 46 NĂM Ở THANH HÓA
· VÀM CHÀ LÀ - MIỀN KÝ ỨC TUỔI THƠ CỦA LUẬT SƯ, CHỦ TỊCH NGUYỄN HỮU THỌ

Tin tức mới
♦ THƠ MAI BÁ ẤN NHÂN 38 NĂM NGÀY TRUNG QUỐC TẤN CÔNG CHIẾM ĐẢO GẠC MA 14/3/1988 - 2026 (14/03/2026)
♦ LỜI KỂ CỦA CỰU BINH 38 NĂM VANG VỌNG LỜI THỀ GIỮ ĐẢO CỦA CỰU BINH GẠC MA (14/03/2026)
♦ THƠ TỐ HỮU VÀ SỰ HIỆN HỮU TRONG DI SẢN VĂN HỌC MIỀN NAM 1954 - 1975 - Tiểu luận TRẦN HOÀI ANH ()
♦ MỘT BÀI THƠ CỦA SỨ GIẢ ĐẠI VIỆT ĐƯỢC TRUNG QUỐC KHẮC VÀO BIA ĐÁ VẪN CÒN NGUYÊN VẸN (12/03/2026)
♦ CHÙM THƠ TRANG THANH - TRÊN CON ĐƯỜNG TÓC (10/03/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1930801
Trong thang Trong tháng: 201273
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 86519
Truc tuyen Trực tuyến: 12

...

...

Designed by VietNetNam