TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
NHÀ THƠ THANH THẢO HÁI “HOA NGŨ SẮC” -Tiểu luận MAI BÁ ẤN
NHÀ THƠ THANH THẢO HÁI “HOA NGŨ SẮC” -Tiểu luận MAI BÁ ẤN
- MAI BÁ ẤN
“Hoa ngũ sắc” là tác phẩm Thơ và Tản văn của nhà thơ Thanh Thảo do Nxb Hội Nhà văn ấn hành đầu năm 2024. Mở đầu là 37 Tản văn chủ yếu xoay quanh những câu chuyện tản mạn về văn chương nghệ thuật, đặc biệt là về thơ. 16 bài thơ lần này Thanh Thảo viết riêng tặng người vợ yêu quý của mình kể từ sau khi chị mất. Tác phẩm này ra đời đúng dịp Tuần giáp năm của chị, xem như một sự tri ân với người vợ hiền nhân tưởng niệm 1 năm ngày mất.
Phần Tản văn hầu hết là những bài viết ngắn gọn, súc tích mà đầy gợi mở mang dấu ấn riêng của Thanh Thảo. Đầu tiên phải kể đến bài viết về tác phẩm “Hồ Chí Minh, thư gửi nước Mỹ” từ bức thư đầu tiên viết ngày 18/6/1919 tại Pari ký tên Nguyễn Ái Quốc đến bức thư cuối cùng trả lời Tổng thống Mỹ Nixon ngày 25/8/1969 viết tại Hà Nội (chỉ 9 ngày trước khi Bác mất). Sau khi nói về sự kham nhẫn và quyết liệt của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong nội dung những bức thư ấy, Thanh Thảo kết luận: Đây“là một quyển sách quý để chúng ta tìm lại và thấu hiểu con đường cam go mà Bác Hồ và dân tộc ta, đất nước ta đã trải qua”(Những bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi nước Mỹ trong 50 năm: Kham nhẫn và quyết liệt). Với các danh nhân lịch sử thời quá khứ, tác giả nói đến ông quan “khiêng võng” Lê Đại Cang và anh hùng Trương Định khi tâm sự cùng một thanh niên đồng tộc (Hồ Thành Đỉnh) trên con đường phượt từ Nam ra Bắc ghé thăm (Đi phượt để học hỏi và cảm thấu),…
Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến những danh nhân, các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của thế giới. “Quy luật của muôn đời” là một tác phẩm nổi tiếng của No dar Dumbadze - một nhà văn lớn của nước cộng hoà Gruzia “…tìm lời giải đáp cho những câu hỏi: Ta sinh ra đời để làm gì? Hạnh phúc là thế nào? Bản chất của cái thiện là gì?”(Quy luật của muôn đời, quy luật của một đời). Những danh ngôn, câu thơ nổi tiếng của họ được Thanh Thảo nhắc tới để làm nền cho những tản mạn của mình: “Đời người như ngồi trên chiếc xe đạp. Chỉ có đi thì mới khỏi ngã” của Albert Einstein, “Hãy sống, sống và cứ thế/ Sống và cứ thế, đến cùng” của B. Pasternak (Nếu ta không bước đi). Khi bàn về thơ ca dân tộc và thế giới, Thanh Thảo nhắc đến Louis Aragon, Paul Eluard, Eduard Bagritsky… (Thơ trong ngôi nhà chung ấy); E. Lilian Voynich - tác giả tiểu thuyết “Ruồi Trâu” nổi tiếng (Vườn nhà ta im lặng quá); Trương Nhược Hư, Bạch Cư Dị, Tvardovsky, Octavio Paz (Thơ mê hoặc bằng sự thức tỉnh) đến cả Ko Un, G.G Marquez, L. Borges, …
Đối với các nhà thơ trong nước (chiếm dung lượng nhiều nhất trong các Tản văn), theo cảm nhận riêng mình, Thanh Thảo cho rằng: “Cho tới bây giờ tôi vẫn nghĩ, Cao Bá Quát là một trong ba nhà thơ lớn nhất Việt Nam (hai người kia là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du), còn nếu ở top five (chọn ra 5 nhà thơ) thì phải có Nguyễn Đình Chiểu và Hồ Xuân Hương”(Sáng tác trong nghèo khổ). Thế hệ Thơ Mới, trong rất nhiều tản văn ở tập sách này, Thanh Thảo đã nhắc đến những kỷ niệm, cảm nhận về Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Nguyễn Vỹ, Văn Cao, Trần Dần, Lê Đạt… Thế hệ chống Mỹ có Trần Mai Ninh, Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Vũ Mai, Chim Trắng, Đỗ Chu, Nam Hà, Lê Thị Mây, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trang Thế Hy, Nguyễn Thụy Kha, Ý Nhi, Đỗ Nam Cao, Trần Bảo Định, Ngô Thế Oanh, Thái Bá Lợi, Hữu Ước; bên cạnh đó còn có sự hiện diện của nhà đạo diễn phim - NSND Đào Trọng Khánh, danh ca vọng cổ - NSND Út Trà Ôn, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Trần Tiến… Viết về cố đại tá Khương Thế Hưng (con trai của nhà thơ Khương Hữu Dụng), Thanh Thảo tiết lộ một chi tiết đặc biệt về mối tình của người lính này với bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm: “Khi anh Khương Thế Hưng, trong nhật ký của mình đã thốt lên: “Anh đuối sức và anh đau khổ” lúc hay tin chị Đặng Thùy Trâm hi sinh, thì trang nhật ký ấy chỉ mình anh biết, mình anh giữ riêng cho mình. Như chị Thùy Trâm từng giữ quyển nhật lý của chị cho riêng mình, chỉ sau khi chị hi sinh 35 năm, cuốn nhật ký lưu lạc này mới lần đầu được tới với hàng triệu người đọc Việt Nam, và sau đó, tới với bao nhiêu người đọc nhiều quốc tịch trên thế giới” (Ngọn gió cuộn trên nỗi đau ngày ấy).
Trong toàn bộ tập sách, Thanh Thảo cũng đã nêu lên nhiều quan niệm thơ theo cách riêng mình: “Thơ an ủi con người trong chiến tranh không theo kiểu cha đạo ban phước cho con chiên hay thủ trưởng động viên lính. Nó bất chợt như bàn tay mẹ xoa lên lưng con một chiều trước hôm tiễn biệt. Nó như giọt nước mắt người yêu ta rơi lặng lẽ lúc đoàn tàu chở quân hú lên hồi còi dài trong một buổi sáng mùa đông giáp Tết năm nào” (Thế hệ chúng tôi). “Nếu “những con cá nhỏ” có thể làm nên một bữa cơm ngon, thì tại sao không, những ngôn từ bé bỏng, giản dị, như lời ăn tiếng nói hàng ngày, những ngôn từ của mẹ ta, của vợ ta, lại không thể tạo nên một bài thơ hay?” (Thơ và những con cá nhỏ)…
Nhiều bài ở phần Tản văn, Thanh Thảo có nhắc đến những bài thơ viết tặng vợ (chị Ý Nhi thời còn trẻ) thì 16 bài thơ ở phần Thơ trong tập sách này được viết sau ngày người vợ yêu quý của anh qua đời. Trong cuộc đời một nhà thơ, viết thơ riêng tặng vợ mà đến trên dưới 20 bài (kể cả những bài trước khi chị mất - có thể in riêng một tập) thì quả là một trường hợp xưa nay hiếm! Có thể nói, xét cả đời thơ Thanh Thảo, đề tài nổi bật và thành công nhất của ông là chiến tranh, Tổ quốc, nhân dân và người thân, đặc biệt là tình yêu dành cho người vợ. Tình yêu đôi lứa chiếm tỉ lệ khá khiêm tốn trong thơ Thanh Thảo. Anh xem vợ là người mẹ thứ hai của mình: “suốt 44 năm (từ 1979) em là người mẹ thứ hai/ những tảo tần thuở mình nghèo khổ/ không có em thì lấy ai gánh đỡ” (Em là người mẹ thứ hai). Anh thú nhận khi vợ mất đi: “với anh thế là hết/ một nửa anh chưa tới hồi kết/ nhưng còn ý nghĩa gì khi mất nửa em” (Khi một nửa em đi rồi). Anh cảm nhận đớn đau rằng: “khi em đi rồi/ anh rời rạc cả tâm hồn và ý nghĩ/…giờ anh như con suối dần cạn nước/…như chiếc lá gió thổi bay không định hướng(Anh rời rạc cả tâm hồn và ý nghĩ). Đó là lúc: “Nỗi đau bước vào nhà mình không tiếng động”(Mồ côi). Đọc những câu thơ này, ta có cảm giác anh đang vừa viết vừa khóc: nhớ hồi ăn tô bánh này/ còn chồng còn vợ đủ đầy bên nhau/ bây giờ biền biệt sông sâu/ cõi nào em tới cõi nào anh chưa”(Bánh canh cá lóc)…
Cái riêng và cái chung quyện hòa trong toàn bộ tác phẩm dù là Thơ hay Tản văn với cách thể hiện rất riêng của người viết, “Hoa ngũ sắc” là một tác phẩm mà qua đó ta hiểu thêm một khía cạnh khác của sự nghiệp văn chương Thanh Thảo.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.