TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
NƯỚC NAM HÁN TỪNG ĐẠI BẠI TRƯỚC NGÔ QUYỀN DO AI THÀNH LẬP, TỒN TẠI BAO NHIÊU NĂM, CÓ MẤY VỊ HOÀNG ĐẾ?
NƯỚC NAM HÁN TỪNG ĐẠI BẠI TRƯỚC NGÔ QUYỀN DO AI THÀNH LẬP, TỒN TẠI BAO NHIÊU NĂM, CÓ MẤY VỊ HOÀNG ĐẾ?
TỪ: Vanvn- Cập nhật ngày: 9 Tháng 3, 2026 lúc 10:39
Nam Hán là một vương quốc tồn tại từ năm 917 đến năm 971, chủ yếu là trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc (907-960), nằm dọc theo bờ biển phía nam Trung Quốc.
Nước Nam Hán là một trong những vương quốc tiêu biểu của thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc trong lịch sử Trung Quốc, tồn tại ở khu vực ven biển phía nam, với trung tâm chính trị đặt tại Quảng Châu ngày nay. Dù không phải là quốc gia có lãnh thổ rộng lớn hay sức mạnh vượt trội so với các nước cùng thời, Nam Hán lại để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử khu vực, đặc biệt là trong quan hệ và xung đột với người Việt phương nam, mà đỉnh cao là thất bại thảm hại trong cuộc xâm lược năm 938 trước Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng.
Ngô Quyền đại chiến quân Nam Hán. Ảnh: Chat GPT.
Tiền thân của Nam Hán gắn liền với sự trỗi dậy của họ Lưu ở Lĩnh Nam vào cuối thời Đường. Lưu Ẩn, sinh năm 874, xuất thân từ một gia đình quan lại địa phương tại Quảng Châu, sớm tham gia quân ngũ và lập được công lao trong việc đàn áp các cuộc nổi dậy, đặc biệt là tàn dư của khởi nghĩa Hoàng Sào. Nhờ đó, ông từng bước được triều đình nhà Đường tín nhiệm, giữ chức Tiết độ sứ Thanh Hải quân, kiểm soát toàn bộ vùng Lĩnh Nam Đông đạo. Khi nhà Đường suy yếu và sụp đổ năm 907, Lưu Ẩn vẫn tiếp tục duy trì quyền lực tại Quảng Châu dưới danh nghĩa thần phục nhà Hậu Lương, được phong nhiều chức tước cao như Nam Bình vương, Nam Hải vương. Điều đáng chú ý là trong suốt thời gian cầm quyền, Lưu Ẩn không vội xưng đế như nhiều quân phiệt khác, mà duy trì thế cân bằng giữa danh nghĩa trung ương và thực quyền địa phương.
Sau khi Lưu Ẩn mất năm 911, quyền lực rơi vào tay em trai cùng cha khác mẹ là Lưu Nham. Trái với người anh thận trọng, Lưu Nham tỏ ra tham vọng và quyết đoán hơn. Năm 917, ông chính thức cắt đứt quan hệ danh nghĩa với triều đình phương bắc, xưng đế, lập quốc, ban đầu đặt tên là Đại Việt, nhưng chỉ một năm sau đổi thành Đại Hán nhằm khẳng định mình là hậu duệ chính thống của dòng họ Lưu nhà Hán. Để phân biệt với Bắc Hán ở Sơn Tây do Lưu Sùng lập sau này, sử sách gọi vương quốc của Lưu Nham là Nam Hán. Lưu Nham truy tôn anh trai Lưu Ẩn làm Tương Đế, thụy hiệu Liệt Tông, coi như người đặt nền móng cho triều đại.
Nam Hán tồn tại từ năm 917 đến năm 971, kéo dài 55 năm, truyền được bốn đời hoàng đế. Lãnh thổ của quốc gia này bao gồm phần lớn Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay và đảo Hải Nam, với ưu thế là đường bờ biển dài, thuận lợi cho giao thương và hải quân. Kinh tế Nam Hán dựa nhiều vào thương mại biển, muối, ngọc trai và buôn bán với các nước phương nam, trong đó có khu vực Tĩnh Hải quân, tức miền Bắc Việt Nam sau này. Tuy nhiên, chính lợi thế đường biển cũng khiến Nam Hán sớm nảy sinh tham vọng bành trướng xuống phía nam.
Trong bối cảnh nhà Đường tan rã, trật tự chính trị ở Tĩnh Hải quân trở nên lỏng lẻo. Các hào trưởng người Việt như Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ từng bước xây dựng quyền tự chủ, song chưa hình thành một quốc gia độc lập hoàn chỉnh. Lợi dụng điều này, Nam Hán nhiều lần tìm cách can thiệp. Năm 930, Lưu Nham nhân lúc nội bộ Tĩnh Hải quân rối ren đã đem quân chiếm đóng, đặt thứ sử người Nam Hán cai trị. Tuy nhiên, sự kiểm soát này chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn. Năm 931, Dương Đình Nghệ tập hợp lực lượng bản địa, đánh bại quân Nam Hán, giết tướng Trần Bảo, buộc đối phương phải rút lui. Thất bại này cho thấy Nam Hán dù có ưu thế quân số và trang bị, nhưng gặp khó khăn lớn khi tác chiến xa căn cứ và đối mặt với sự kháng cự mạnh mẽ của cư dân địa phương.
Đỉnh điểm tham vọng và cũng là thất bại nặng nề nhất của Nam Hán diễn ra vào năm 938. Sau khi Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết hại để đoạt quyền, Công Tiễn lo sợ bị các hào trưởng khác trừng phạt nên cầu cứu Nam Hán. Vua Nam Hán khi đó là Lưu Cung coi đây là cơ hội ngàn vàng để tái chiếm Tĩnh Hải quân, bèn phong con trai là Lưu Hoằng Tháo làm Giao vương, thống lĩnh thủy quân tiến đánh. Tuy nhiên, ông đã đánh giá thấp sự trưởng thành của lực lượng bản địa do Ngô Quyền lãnh đạo.
Ngô Quyền, con rể của Dương Đình Nghệ, sau khi tiêu diệt Kiều Công Tiễn, nhanh chóng chuẩn bị đối phó với quân Nam Hán. Ông chọn cửa sông Bạch Đằng làm nơi quyết chiến, áp dụng một chiến thuật độc đáo dựa vào quy luật thủy triều. Hàng nghìn cọc gỗ lớn được vót nhọn, bịt sắt và đóng ngầm dưới lòng sông. Khi thủy triều lên, bãi cọc bị che khuất; khi triều rút, chúng trở thành cái bẫy chết người. Quân Nam Hán do Hoằng Tháo chỉ huy, vốn quen tác chiến trên biển rộng, không nắm được địa hình sông ngòi hiểm trở, đã bị nhử sâu vào trận địa. Khi nước triều rút, thuyền chiến mắc kẹt, va vào cọc, vỡ nát, quân Việt từ hai bờ và phía sau ào ra phản công. Hoằng Tháo tử trận, phần lớn thủy quân Nam Hán bị tiêu diệt.
Thất bại ở Bạch Đằng không chỉ là một trận thua quân sự, mà là cú đòn chí tử giáng vào uy thế của Nam Hán. Lưu Cung, trực tiếp chỉ huy quân tiếp ứng ở biên giới, nghe tin con chết trận đã hoảng sợ, vội vàng rút quân, từ bỏ hoàn toàn ý đồ xâm lược phương nam. Từ đó trở đi, Nam Hán không còn đủ lực và cũng không còn ý chí để can thiệp vào Tĩnh Hải quân. Về phía người Việt, chiến thắng này mở ra kỷ nguyên độc lập lâu dài, với việc Ngô Quyền lên ngôi năm 939, lập ra nhà Ngô.
Sau thất bại trước Ngô Quyền, Nam Hán tiếp tục tồn tại thêm hơn ba thập kỷ, nhưng trong tình trạng suy yếu dần. Nội bộ triều đình sa vào xa hoa, hoạn quan lộng quyền, các vua sau Lưu Nham không có năng lực nổi bật. Đối ngoại, Nam Hán bị cô lập khi các nước láng giềng lần lượt bị thôn tính. Mân bị Nam Đường tiêu diệt năm 945, Sở bị diệt năm 951, khiến Nam Hán trực tiếp đối mặt với Nam Đường ở phía bắc. Đến khi nhà Tống thống nhất trung nguyên năm 960, cục diện càng trở nên bất lợi cho Nam Hán.
Nhà Tống chủ trương thống nhất toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa, coi các nước phương nam chỉ là chính quyền cát cứ. Từ thập niên 960, quân Tống từng bước siết chặt vòng vây. Năm 971, Tống Thái Tổ sai Phan Mỹ đem quân tiến đánh Quảng Châu. Trước sức mạnh áp đảo của quân Tống và tình trạng suy sụp nội bộ, vua Nam Hán cuối cùng là Lưu Sưởng buộc phải đầu hàng. Vương quốc Nam Hán chính thức chấm dứt, kết thúc 55 năm tồn tại.
Nhìn lại lịch sử, sự diệt vong của Nam Hán là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: tham vọng bành trướng vượt quá khả năng, đặc biệt là thất bại trong các cuộc chiến với người Việt; bộ máy cai trị mục ruỗng, phụ thuộc vào hoạn quan; và xu thế tất yếu của thời đại khi nhà Tống tái lập quyền lực trung ương mạnh mẽ. Trong đó, thất bại trước Ngô Quyền năm 938 có ý nghĩa đặc biệt, bởi nó không chỉ làm Nam Hán mất hẳn cơ hội khống chế phương nam, mà còn khẳng định giới hạn sức mạnh của một vương quốc ven biển trước ý chí độc lập và nghệ thuật quân sự sáng tạo của người Việt.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.