• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
TIỂU LUẬN LÊ THỊ HƯỜNG - THÔNG ĐIỆP CHỮ LÀNH TRONG TIỂU THUYẾT VĨNH QUYỀN

TIỂU LUẬN LÊ THỊ HƯỜNG - THÔNG ĐIỆP CHỮ LÀNH TRONG TIỂU THUYẾT VĨNH QUYỀN



NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 21 Tháng 1, 2026 lúc 12:54

 

Nhà phê bình Lê Thị Hường

Thế giới ngày càng chung chiêng, bất ổn. Con người ngày càng chịu nhiều sang chấn tinh thần, khủng hoảng căn tính. Vì con người, văn học chữa lành trở thành một xu hướng của văn học thế giới thế kỉ XXI. Từ một góc nhìn hẹp, chấn thương và chữa lành là cảm hứng xuyên suốt tác phẩm Vĩnh Quyền. Nhà văn không né tránh nỗi đau, nhưng đằng sau những chấn thương là những thông điệp có ý nghĩa. Biển chữa lành những chấn thương lịch sử dân tộc, rừng chữa lành những vết thương sinh thái, về với tự nhiên khiến tâm an. Hòa với tự nhiên, theo Vĩnh Quyền “hòa vào sinh cảnh của chúng là niềm vui không tả, là phương thuốc ‘chữa lành’ hiệu nghiệm”. Với quan niệm viết là để chữa lành cho chính mình, trong một lời tâm sự, nhà văn “có lời tạ ơn rừng. Rằng rừng không chỉ chữa lành cho tôi theo nghĩa đen, mà còn hào hiệp cho tôi góp nhặt từng con chữ, tấm hình để thực hiện một góc sinh thái trong mảnh vườn văn chương nho nhỏ của tôi”; những cánh rừng hoang dã khiến “tôi thấy tôi đã sống hơn một ngày thường” (Thương ngàn).

Vĩnh Quyền, nguyên Trưởng Văn phòng Miền Trung và Tây Nguyên của báo Lao Động, sinh năm 1951 tại Huế. Ông là một trong những cây bút đặc biệt của văn chương đương đại Việt Nam, người đầu tiên cho ra đời một bộ ba tiểu thuyết viết hoàn toàn bằng tiếng Anh, gồm: Debris of Debris, Inside Infinity và Heart for Forests. Năm 2021, ông được trao Giải thưởng Văn học ASEAN với tiểu thuyết Trong vô tận. Năm 2023, Vĩnh Quyền tiếp tục ghi dấu ấn khi tiểu thuyết Thương ngàn là một trong số 10 cuốn sách nổi bật văn đàn Việt được Bộ Văn hóa vinh danh. Nói về tác phẩm của mình, Vĩnh Quyền khẳng định có những tác phẩm ông viết để “tạ ơn rừng” như Sơn Trà – Rừng trong phố biển (Nxb Hội Nhà văn, 2019), tiểu thuyết Thương ngàn (Nxb Trẻ, 2023)…

Thời gian đã đứng về phía đam mê của nhà văn. Thả hồn vào những cánh chim trời Vĩnh Quyền đã thu được trong ống kính những khoảnh khắc kì diệu của tự nhiên, vạn vật. “Bộ ảnh về chim trời” đã lưu giữ và lan tỏa cái đẹp một đi không trở lại. Bên cạnh đó, tiểu thuyết Vĩnh Quyền là niềm tin về sự thanh lọc và chữa lành kì diệu của tự nhiên, của văn chương, của tình yêu, dẫu chiến tranh có làm thương tổn nặng nề, dẫu cuộc sống có nhọc nhằn, dẫu các mối quan hệ có quá nhiều phức tạp. Chính quyền lực mềm này khiến tác phẩm Vĩnh Quyền có được tiếng nói riêng.

“Ký ức giúp con người hoàn thiện nhưng có thứ ký ức quá ngưỡng chịu đựng của một số người, trở thành nơi giam hãm” (Trong vô tận).

Chấn thương là “một trạng thái tinh thần khổ sở tồn tại dai dẳng một cách khó hiểu trong cuộc đời của những cá nhân nhất định” (Freud); “Chúng xuất hiện như thể một chuỗi những sự kiện đau khổ mà người ta bị phụ thuộc vào và điều này hoàn toàn nằm bên ngoài mong muốn hay khả năng kiểm soát của người ta” (Cathy Caruth)[1]. Nhìn từ lý thuyết chấn thương, nhân vật tiểu thuyết Vĩnh Quyền thường là những con người bị sang chấn nặng nề do chiến tranh, do những đổ vỡ tình yêu, do cái ác nảy sinh chỉ trong một khoảnh khắc nhưng con người suốt một đời ám ảnh. Có thể nói, ký ức chính là một trong những tác nhân quan trọng gây chấn thương tâm lý ở nhân vật tiểu thuyết Vĩnh Quyền.

Mảnh vỡ của mảnh vỡ (Nxb Hội Nhà văn, 2015) là nỗi đau dai dẳng trong và sau chiến tranh của một thế hệ trí thức miền Nam. Thương ngàn là những chấn thương sinh thái. Trong vô tận (Nxb Trẻ, 2019) là nỗi đau của dòng họ, những người trí thức tài năng luôn vướng víu trong cái đa tài đa đoan đa tình. Những vết thương đôi lúc khó chữa lành, ám ảnh dai dẳng suốt một phần đời con người, nhưng bằng cái nhìn nhân văn nhà văn đã trả lại cho họ sự trong sáng, bình yên. Cánh chim phượng hoàng huyền thoại vẫn mang sức mạnh về niềm tin, nói như tác giả là “có thể sửa chữa lỗi lầm của loài người đánh mất thời hoàng kim của thế giới tự nhiên, là một ước mơ vượt giới hạn kiếp nhân sinh”. Lời bài lý xa xưa vang lên không dứt từ lời kể của già làng hôm nay, khắc khoải đau đớn và ấm áp hy vọng bình yên.

“Chỉ những nỗi đau tinh thần mới sinh ra tuyệt vọng” (J.J.Rousseau)[2]. Hầu như tác phẩm nào của Vĩnh Quyền cũng đề cập đến nỗi đau tinh thần, những vết thương ngầm trở thành nỗi ám ảnh không nguôi, đè nặng lên đời sống con người. Những người trí thức đa tài, đa đoan trong tiểu thuyết Vĩnh Quyền thường gặp những thương tổn tinh thần như thế. Vĩnh Quyền thường viết về một thế hệ trí thức giàu nhiệt huyết trong những giai đoạn lịch sử phức tạp. Họ thuộc về một thế hệ biến động. Những trí thức nghệ sĩ không hề yên ổn mà luôn rối rắm với các mâu thuẫn bên trong, bên ngoài. Làm thế nào để bớt chông chênh giữa những ràng níu chiến tranh và hòa bình; níu giữ truyền thống và bắt kịp hiện đại; văn hóa dân tộc/dòng tộc và văn minh phương Tây; tâm lí nhược tiểu và niềm tự hào về một nước Đại Nam – cường quốc Đông Á; những dùng dằng ý thức hệ, kể cả những mâu thuẫn trong hôn nhân, tình yêu…

Tất cả khiến nhân vật của Vĩnh Quyền luôn chao đảo, chìm trong kí ức đau thương. “Ký ức giúp con người hoàn thiện nhưng có thứ ký ức quá ngưỡng chịu đựng của một số người, trở thành nơi giam hãm” (Trong vô tận). Nhân vật tiểu thuyết Vĩnh Quyền có một nơi giam hãm như vậy, đầy dằn vặt, mặc cảm. Người cha đau đớn tuyệt vọng vì đã đẩy đứa con đồng tính vào cái chết. Trong ký ức đau thương của “tôi” là hình ảnh cái chết bất ngờ của cô gái Phù Tang, chỉ sau khoảnh khắc “tôi thận trọng dìu cô nằm xuống sàn đất lạnh ẩm, dịu dàng nhập vào cô”. Người cựu binh Mỹ bị giam hãm trong vùng ký ức nặng nề về một thời thời trai trẻ “lấm bùn và máu” khi tham chiến ở Việt Nam. Anh thanh niên du học với những mối tình dở dang, đôi lúc vượt ngưỡng và còn lại những day dứt không nguôi. Nhưng cuối cùng họ luôn được chữa lành, có khi là bằng chính kí ức đau thương. “Không thể trốn mặc cảm tội lỗi”, trong lòng giếng trời vàng óng mỗi lần trăng tỏ “tôi lại có thể trông thấy hình hài trần trụi của mình”; cuộc đối diện với bản lai diện mục, với quá khứ khiến “tôi thấy tôi không còn căng thẳng, cũng không trống rỗng” (Trong vô tận).

Về với tự nhiên là một cách chữa lành những vết xước nội tâm. Trong nhiều phương pháp trị liệu, giữ cho tâm an chính là một liệu pháp tâm lí chữa lành những thương tổn tâm hồn. Tâm an là một pháp của Phật giáo. Trong tiểu thuyết Vĩnh Quyền, giáo lý Phật giáo làm nên tính chất liên văn bản, tạo chiều sâu văn hóa. Nhà văn không trích dẫn lời Phật một cách hàn lâm, cũng không sử dụng huyền tích hay thiền ngữ, giáo lý Phật giáo không tĩnh mà động, được thể hiện sâu sắc qua những mẩu chuyện, những tình huống chữa lành. Với bút lực nhạy bén, nhà văn phơi bày một cách tỉ mỉ những bầm dập tinh thần ngỡ như khó chữa khỏi. Và những phương pháp trị liệu tâm lý khiến “người bệnh” dần nguôi ngoai. Trong tiểu thuyết Trong vô tận (Giải thưởng Văn học ASEAN 2021), “tôi” bị chấn thương nặng nề bởi cái chết của Ayumi trong cơn bão lũ khi đi nghiên cứu về một bộ tộc ở châu Á. Đối mặt với cái chết của người yêu, ám ảnh về cái chết với mặc cảm tội tỗi – chấn thương kép làm tôi rơi vào tình trạng trầm uất, vô vọng. Nỗi đau mất mát quá lớn về một tình yêu vừa chớm, khiến tôi rơi vào hoang tưởng.

Bóng tối. Những đêm vật vờ. Miệng vực trắng mù bụi nước. Và bàn tay Ayumi chới với, chới với. Tiếng gọi tên tôi mơ hồ… Liệu pháp tâm lý cùng với phong cảnh thiên nhiên tĩnh lặng khiến tôi dần tìm lại tâm an. Ngôi chùa cổ lưng chừng núi Kim Phụng, khóa kinh chiều và đại sư trụ trì trên chín mươi tuổi đề ra “phác đồ tự điều trị” đã dần chữa lành vết xước nội tâm. Mỗi sáng sớm ra sân chùa xách nước tưới hoa, chiều vào chính điện vẽ chân dung Ayumi bằng mực tàu trên giấy dó trong tiếng kinh Bát nhã của chư tăng, sau đó, lúc chư tăng hành lễ cầu siêu cho Ayumi, tôi “tự hóa vàng bức chân dung vừa vẽ trong bức lư đồng”. Ngày nào cũng những công việc đó, chuỗi tưới hoa – vẽ tranh – đốt tranh lặp đi lặp lại. Lời kinh Phật “sắc bất dị không, không bất dị sắc,…” cùng với cuộc sống hòa mình vào không gian cõi Phật khiến mọi vết thương được xoa dịu, con người trở lại trạng thái an bằng. Sự chuyển biến từ tâm vọng đến chơn tâm cho thấy ánh sáng từ cõi Phật thuần khiết khiến con người có thể chữa lành chính mình. Từ góc nhìn này, tiểu thuyết Vĩnh Quyền toát ra những thông điệp nhân văn.

 

Có những mất mát tình cảm là nguồn cơn gây tạo chấn thương. Để chữa lành, tìm lại sự an lạc trong tâm hồn, con người phải làm chủ thân và tâm của chính mình. Ngoài niềm tin tôn giáo, điểm tựa nghệ thuật có lúc chính là sức mạnh chữa lành thương tổn. Nhân vật tiểu thuyết Vĩnh Quyền là những con người tài hoa, đam mê nghệ thuật. Trong những tổn thương, họ thường vịn vào nghệ thuật như tìm một chốn bình yên. Nếu “tôi” trút niềm đau vào đam mê vẽ tranh cô gái Phù Tang thì người họa sĩ, đau đớn vì mối tình đầu dang dở, tìm đến nơi thanh vắng, gần chùa Kim Phụng để tạc tượng Phật Bà nhằm tìm chút yên tĩnh cho tâm hồn. Nhưng tâm vọng động, bức tượng Quán Thế Âm, qua cái nhìn minh triết của sư trụ trì, vẫn phảng phất hình ảnh người yêu Giáng Ngọc. Bức tượng “nửa người nửa Phật” cho thấy anh vẫn còn trong cõi vô minh. Lời khuyên của vị sư trụ trì khiến anh ngộ ra, “vái nhà sư trong im lặng, đốt trại, chia tay tảng đá dở dang dáng Phật dáng người, lên thuyền xuôi về nhà…”.

“Chẳng thể thay đổi ký ức thương tổn, nhưng tình yêu có thể làm nên ký ức tương lai, thứ ký ức xoa dịu đau buồn trong quá khứ” (Thương ngàn)

Một trong những đối tượng nghiên cứu của Freud khi đề xuất và xây dựng lí thuyết chấn thương là tình trạng tâm lý của những cựu binh chiến tranh. Đó là hậu chấn tâm lý, ký ức về chiến tranh tái diễn trong thực tại khiến những người lính bước ra từ chiến tranh luôn sống trong trạng thái u uất, trầm cảm thậm chí hoang tưởng, ảo giác. Vĩnh Quyền ít miêu tả tỉ mỉ cuộc chiến dữ dội ở Việt Nam. Nhưng qua ký ức của một thế hệ trẻ miền Nam, đặc biệt qua tâm trạng của những cựu chiến binh Mỹ sống sót sau cuộc chiến, quá khứ chiến tranh thật kinh hoàng. Chiến tranh hủy diệt môi trường tự nhiên. Chiến tranh hủy hoại tâm hồn con người, để lại những di chứng dài lâu. Có thể xem đây là kiểu chấn thương điển hình trong tiểu thuyết Vĩnh Quyền. Thomas với những sang chấn tinh thần đeo đẳng suốt phần đời còn lại bởi anh “đã sướng run trước cơ hội của riêng mình” trong khoảnh khắc chứng kiến và quay cận cảnh những cái chết đau thương: “Trong đời phóng viên chiến trường tôi hiếm khi quay được cận cảnh một trận giáp lá cà kinh hoàng như vậy. Tất cả đã diễn ra trong thứ ánh sáng đỏ như máu của hoàng hôn núi rừng. Tôi chưa từng nghĩ có lúc phải nghe những tiếng thét man dại, tiếng rú đau chết của con người, giống như nghe bản giao hưởng chết tiệt của tử thần” (Mảnh vỡ của mảnh vỡ).

Người cựu binh Mỹ bước ra từ cuộc chiến luôn sống trong ám ảnh tội lỗi vì đã từng “mồi lửa vào mái tranh túp lều thấp tè, khói bắt đầu bốc lên, trên sân phơi đất nện người chồng trẻ nằm sóng soài với đầu gối bị bắn vỡ trong khi bên cạnh người vợ quỳ lạy xin tha”. Quá khứ tội lỗi bám riết khiến người lính cũ hằng ngày xem đi xem lại bộ ảnh và những đoạn phim cũ như dấu tích lầm lỡ của một thời. Từ chấn thương cá nhân, nhà văn khái quát thành chấn thương tập thể khi ông ta cùng những đồng đội cũ, thường là hẹn nhau cuối tuần, “cùng nhau uống bia nghe lại tiếng nổ, tiếng gào thét, và gặp lại hình ảnh chính mình thời trai trẻ lấm bùn và máu, và cả hình ảnh những đồng đội không có cơ may thoát khỏi hỏa ngục trần gian” qua bộ ảnh đen trắng đã úa vàng theo thời gian. Vết thương quá khứ đã lên tiếng khi họ lội ngược dòng thời gian, chìm trong vùng kí ức thương tổn. Những chấn thương nặng nề kéo dài gần hết một đời người liệu có thể chữa lành bằng bộ ảnh ghi nhận cuộc hồi sinh nơi chiến trường xưa của cô con gái luôn đau nỗi đau của thế  hệ cha anh mình? Từ tấm ảnh đau thương của quá khứ, cô gái trao cho người bố bức ảnh thứ hai – “Bối cảnh là ngôi nhà ngói đỏ giữa đồng lúa, phía trước và trên sân phơi lát gạch cô gái Mỹ tóc vàng đứng cạnh đôi vợ chồng nông dân Việt đen đúa và người chồng trạc sáu mươi mặc quần sọt để lộ cẳng chân giả sờn bạc. Vẻ tương phản ấy làm sáng lên ba gương mặt cười nhoẻn”. Sự đối lập và kết nối kì lạ giữa hai bộ ảnh mới và cũ, giữa quá khứ đau thương và hiện tại hồi sinh chính là một phép trị liệu, xoa dịu phần nào nỗi đau đã thành vết sẹo trong người cựu binh Mỹ luôn “lặng lẽ sống với hình ảnh đất nước này thời chiến tranh” (Trong vô tận).

Khủng hoảng căn tính là một hiện tượng tâm lý, một trạng thái khi con người mất định hướng về bản thân, bất lực, hoài nghi sự tồn tại của mình trong cộng đồng, xã hội. Đó là tình trạng chấn thương nặng nề, con người chỉ sống với quá khứ đau thương, mặc cảm, hoài nghi và có khi mất giao tiếp. Kiên là kiểu nhân vật bị chấn thương kép dẫn đến tình trạng khủng hoảng căn tính. Anh mang “mảnh lựu đạn cắm trong đầu” và vết thương sâu hoắm ở trong tâm. Nhưng, “vết thương trong tinh thần – lỗ thủng trong kinh nghiệm tinh thần về thời gian, bản ngã và thế giới – không giống như vết thương trên thể xác, nghĩa là, không phải như một sự kiện giản đơn và có thể hàn gắn” (Freud). Chàng thanh niên theo ngành lâm nghiệp, bùng nhùng trong các mâu thuẫn nội tâm. Yêu rừng tha thiết, chỉ thấy “thật sự thoải mái, an toàn khi được một mình trong rừng” nhưng ‘đứa con của rừng’ đã có lúc nhìn nhận sai về ‘bà mẹ rừng’; theo chuyên ngành bảo tồn thiên nhiên, trân trọng các loài động vật nhưng người “chống tội phạm săn bẫy thú hoang dã” lại dằn vặt, đau đớn vì chính cha và em đã xâm hại rừng, gây tội ác với các loài vật quý hiếm. Lòng yêu rừng và mặc cảm không bảo vệ được rừng cứ lẫn lộn, day dứt thành tâm bệnh với những “cơn mê sảng nhức nhối ảo giác”. Ký ức ảm đạm, cay nghiệt khiến Kiên “đơn độc và lặng lẽ”.

Lời nói của anh cũng là thứ ngôn ngữ chấn thương do “tâm lý ngại giao tiếp xã hội”, sự chịu đựng câm lặng, nhu cầu tâm sự bị hạn chế. Khi vết thương lên tiếng, dòng tự sự không tuôn trào mà chậm chạp, đứt nối, như cõng theo những dằn vặt nội tâm. Tự sự chấn thương của Kiên “rề rà, ngắc ngứ, phân mảnh câu chuyện, nhiều phen quên bẵng đã nói tới đâu…”. Khác với chuỗi hành động hóa giải nỗi đau của người họa sĩ vẽ và đốt tranh, sự nhẹ nhõm tâm hồn của Kiên đến từ chỗ được-lắng-nghe. Cuộc gặp gỡ kì diệu với cô gái Úc, “đôi mắt xanh tin cậy của Katy trong bóng rừng đêm đã dẫn dụ tôi bước ra khỏi tôi, ngoảnh lại nhìn đời mình, nửa khinh bạc, nửa xót xa, và cất thành lời”; cùng với “sói hoàng hôn” và phút giây hòa nhập kì diệu của tình yêu,… tất cả góp phần khắc phục cơn khủng hoảng căn tính, Kiên đã tìm lại được chính mình (Thương ngàn).

Thế giới đã có dòng văn học chữa lành. Nói về tiểu thuyết của mình, Vĩnh Quyền tâm sự: “Tiểu thuyết là trò chơi lớn trong lĩnh vực văn chương theo nhiều nghĩa”. Có lẽ một trong những trò chơi lớn có ý nghĩa nhân văn của tiểu thuyết là hướng con người về chân thiện mỹ. Và phải chăng đó chính là sự chữa lành kì diệu của văn chương? Viết về nỗi đau nhưng tác phẩm của Vĩnh Quyền đưa người đọc đến những rung cảm thẩm mỹ nhẹ nhàng và những nhận thức sâu sắc. Viết là lan tỏa cái đẹp. Đó là ý nghĩa từ những trang văn của Vĩnh Quyền, một trí thức nghệ sĩ không hề mệt mỏi trên hành trình đi tìm cái đẹp của tự nhiên và tâm hồn con người.

LÊ THỊ HƯỜNG

__________________

[1] Cathy Caruth, Vết thương và giọng nói, Hải Ngọc dịch [nguvan.hnue.edu.vn/Nghiên-cứu/Lý-luận-văn-học/p/1032]
[2] J. J. Rousseau, Émile hay là về giáo dục (Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương dịch), Nxb Tri thức, 2008, tr.47.

 



Tin tức khác

· NGUYỄN HẢI YẾN - NGƯỜI MỞ RỘNG CÕI TRẦN GIAN - Tiểu luận MAI TIẾN NGHỊ
· NHỮNG HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI TRONG TẬP SÁCH 'VĂN HỌC CỔ VIỆT NAM VÀ TRUNG HOA'
· TRẠNG BÙNG PHÙNG KHẮC KHOAN - CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP - Tiểu luận HỮU THỈNH
· NHÀ VĂN VŨ TRỌNG PHỤNG - TÀI NĂNG LỚN, ĐAU ĐỚN LẮM
· TƯỢNG ĐÀI CỦA VĂN HỌC HIỆN ĐẠI SÉC
· NGƯỜI TRAI LÀNG TỪ CHIẾN TRƯỜNG TRỞ VỀ
· BÀN THÊM VỀ TRUYỀN THUYẾT CỘI NGUỒN DÂN TỘC
· TIẾNG VIỆT GIÀU VÀ ĐẸP: 'NƯỚC MẸ' LÀ GÌ? - Tiểu luận LÊ MINH QUỐC
· NỮ THI SĨ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM LÀ AI?
· NHÀ THƠ THANH THẢO - THI CA CỦA NGƯỜI LÍNH VƯỢT QUA CHIẾN TRANH VÀ MẤT MÁT
· VÕ HỒNG - NGƯỜI ĐỨNG NGOÀI DÒNG THỜI ĐẠI
· NHỚ ANH PHẠM TIẾN DUẬT - NGỌN CỜ ĐẦU CỦA THƠ CA CHỐNG MỸ, NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA QUÊ HƯƠNG ĐẤT TỔ
· THI SĨ THÁI CAN - NGƯỜI HỌA THƠ BẰNG NHẠC ĐIỆU - Tiểu luận LA NGUYỄN HỮU SƠN
· NHÀ THƠ BẰNG VIỆT - NGƯỜI GIỮ LỬA THƠ CA
· VỀ NGUỒN GỐC BÀI THƠ 'NAM QUỐC SƠN HÀ'
· GÃ DU CA ĐỨC ĐỘ VÀ NỖI CÔ ĐƠN CỦA CHÀNG LÍNH NGỰ LÂM CUỐI CÙNG
· TRẦN TIẾN - NGƯỜI HÁT THƠ MÌNH
· VỊ VUA BỎ RA 280 NGHÌN QUAN TIỀN SANG PHƯƠNG TÂY MUA CON THUYỀN LỚN NHẤT TRIỀU NGUYỄN
· TIỂU LUẬN LÊ THỊ HƯỜNG - THÔNG ĐIỆP CHỮ LÀNH TRONG TIỂU THUYẾT VĨNH QUYỀN
· THƠ 1-2-3 CỦA NGUYỄN ĐỨC BÁ - NHỮNG NGỌN GIÓ TRÔI QUA MIỀN SÓNG VỖ

Tin tức mới
♦ CHÙM THƠ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN - LẼ GÌ NƯỚC MẮT TRONG ĐỜI MẶN HƠN (13/02/2026)
♦ NGUYỄN HẢI YẾN - NGƯỜI MỞ RỘNG CÕI TRẦN GIAN - Tiểu luận MAI TIẾN NGHỊ (13/02/2026)
♦ NHỮNG HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI TRONG TẬP SÁCH 'VĂN HỌC CỔ VIỆT NAM VÀ TRUNG HOA' (13/02/2026)
♦ TRẠNG BÙNG PHÙNG KHẮC KHOAN - CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP - Tiểu luận HỮU THỈNH (13/02/2026)
♦ THƠ CUATR HỘI VIÊN MỚI NGÔ MINH OANH Ở TP HỒ CHÍ MINH (10/02/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1883226
Trong thang Trong tháng: 172474
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 80557
Truc tuyen Trực tuyến: 11

...

...

Designed by VietNetNam