• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Tư liệu
 
VÀI NÉT VỀ NGÔN NGỮ TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ BÍCH KHÊ

VÀI NÉT VỀ NGÔN NGỮ TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ BÍCH KHÊ



NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 25 Tháng 3, 2026 lúc 13:39

Giai đọạn nửa sau thế kỷ XIX, trào lưu thơ tượng trưng gây nên cơn dư chấn mạnh mẽ làm lay động thi đàn Pháp bởi sự xuất hiện của những nhà thơ thiên tài: Charles Baudelaire, Paul Varlaire, Arthur Rimbaud,… Và chủ nghĩa tượng trưng không chỉ  hình thành, phát triển trên lãnh địa văn chương mà còn mở rộng địa hạt sang sân khấu, hội họa, âm nhạc, trở thành hiện tượng văn hóa trên toàn Châu Âu. Đến đầu thế kỷ XX, trường phái này đã lan tỏa, khẳng định vị thế trong thơ ca phương Đông.

Nhà thơ Bích Khê (1916 – 1946), tên thật là Lê Quang Lương. Ngoài bút hiệu Bích Khê, ông còn ký bút hiệu Lê Mộng Thu khi sáng tác thơ Đường luật.

Ở Việt Nam, với phong trào Thơ mới (1932-1945), chủ nghĩa tượng trưng cũng đã khơi gợi sự sáng tạo, tìm tòi cho các nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Huy Cận… Đặc biệt khi Thơ mới đã  ý thức sâu sắc về cá tính sáng tạo của thi sĩ và sự thức nhận ngôn từ thì nó không còn là giai đoạn thuần khiết của khuynh hướng lãng mạn nữa mà đã có sự chuyển biến từ cái tôi trữ tình của giai đoạn lãng mạn sang thế phân cực để diễn đạt cái tôi trữ tình đang tự đi tìm mình, khai thác cảm xúc của chính mình. Chính sự vận động này tạo nên thành tựu và bước tiến của Thơ mới theo đúng quỹ đạo thơ thế giới. Trong “Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam” tác giả Nguyễn Bá Thànhđã viết: “Đối với thơ sau cổ điển là lãng mạn, sau lãng mạn là tượng trưng, sau tượng trưng là siêu thực … đó là bước đi tự nhiên của con người không ngừng tìm kiếm mình, phát hiện mình và tìm kiếm bản chất đời sống” .Và nếu như Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương… là cầu nối giữa lãng mạn và tượng trưng thì Bích Khê, Đinh Hùng là lớp nhà thơ đã chuyển hẳn sang tượng trưng. Trong đó, Bích Khê là điển hình phong cách thơ tượng trưng. Từ lãng mạn đến tượng trưng thơ đã có một sự thay đổi lớn, nhất là quan niệm thơ. Chủ nghĩa lãng mạn nhìn thế giới chủ yếu ở mặt hữu hình, coi trọng cảm xúc.

Chủ nghĩa tượng trưng thì ngược lại, đặt thơ vào cái vô hình và xuất phát từ cảm giác. Thơ tượng trưng vì thế không còn là truyền cảm nữa mà là gợi cảm. Và Bích Khê, người được Hoài Thanh đánh giá có “những câu thơ hay vào bực nhất thơ Việt Nam” cũng đã  tiếp thu khuynh hướng này một cách sâu sắc. Nếu Xuân Diệu được xem là “ông hoàng của thơ tình” thì Bích Khê, nói như nhà nghiên cứu phê bình văn học Đỗ Lai Thúy trong “Con mắt thơ” được xem là “chủ soái thơ tượng trưng Việt Nam”. Còn nhà nghiên cứu phê bình Lại Nguyên Ân coi ông là “bước phát triển thứ hai của phong trào Thơ Mới”, là “một hiện tượng đáng nghiên cứu”.

Vâng, khi bàn đến thơ Bích Khê, Chế Lan Viên viết: “Nếu Nguyễn Bính là một đồng bằng thân thuộc, thì Bích Khê là một đỉnh núi lạ”. Điểm khác biệt đặc trưng ấy là do phong cách của từng người. Phong cách được xem như là thước đo tài năng người nghệ sĩ. Về Bích Khê, mọi người đều biết có rất nhiều công trình khoa học, các bài viết chuyên sâu về thơ và đời của ông. Trong khuôn khổ của buổi hội thảo này, người viết xin đóng góp một khía cạnh nhỏ trong phong cách thơ của Bích Khê ngỏ hầu tìm sự đồng cảm, chia sẻ với bạn đọc. Đó là ngôn ngữ tượng trưng trong thơ Bích Khê.

Một số ấn phẩm về thơ Bích Khê. Ảnh: Lê Hồng Khánh

Ta biết, trong thơ Bích Khê, bên cạnh những biểu tượng như sọ người – biểu tượng của cái đẹp hay giai nhân – hiện thân của sắc đẹp và lòng ham muốn cùng nhạc tính và thời gian, không gian nghệ thuật thì ngôn từ là một phương diện quan trọng quyết định phong cách mới lạ cho ngòi bút tài hoa này. Đó chính là ngôn ngữ tượng trưng, ảo diệu, ẩn dụ bất ngờ – những “con chữ biến hình”.

Trong bài thơ “Nàng bước tới”, Bích Khê đã từng khẳng định: “Chữ bí mật chứa ngầm hơi chất nổ” Chính vì vậy, ông rất chú ý đến việc chọn từ, dùng từ, từ được chọn phải diễn tả đầy đủ nhất và tinh tế nhất điều tác giả muốn nói. Mỗi chữ trong thơ đều phải có một linh hồn, mỗi chữ là một nguồn “hoạt động lực”. Đây là một trong những phương thức cơ bản để thể hiện ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng và cũng là một trong những phương diện tạo nên một Bích Khê không lẫn với nhà thơ khác cùng thời.

Là chủ soái thơ tượng trưng và là con người của đất Á Đông, Bích Khê hiểu được bí mật của ngôn ngữ nằm ngay trong chính bản thân ngôn ngữ. Ông dò tìm năng lực tiềm ẩn của ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, hình ảnh… và ông nhận ra:

“Lời truyền sóng đánh điện khắp muôn trời

Chữ bí mật chứa ngầm hơi chất nổ?”

Ngôn ngữ tượng trưng, ảo diệu được xem là một thành công của thơ tượng trưng nói chung và thơ tượng trưng Bích Khê nói riêng. Ông không chỉ làm thơ mà còn làm chữ để lại ghi lại những rung động tinh vi trong tâm hồn một cách tế vi nhất. Ngôn ngữ thơ Bích Khê tạo nên một hiện tượng hô ứng, chữ gọi chữ, âm thanh hô ứng âm thanh, tạo ra những ảo diệu bất ngờ, thú vị. Điều này được thể hiện rõ trong bài “Nhạc” với hai câu tài hoa sau:

“Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà

Thơ ngà ngà say, thơ ngà ngà say”

Ngôn ngữ đời thường vốn đã nhiều ẩn dụ, nhiệm vụ của các nhà thơ là phải chống lại sự xói mòn chữ nghĩa bằng nhiều cách khác nhau. Bích Khê đã phục sinh nghĩa cho nhiều từ bằng cách thêm vào một số từ để tạo thành từ mới. Trong văn chương “lệ ngọc” đã được sử dụng đã mòn, đã trở thành sáo rỗng nhưng đến Bích Khê khá tinh tế khi viết thành: “Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc”, hay: “Những đôi mắt kho tàng muôn châu báu/ Có hàng đũa ngọc gắp hương yêu”.

Ngòi bút Bích Khê có biệt tài trong việc tạo ra những ẩn dụ mới, độc đáo, lạ lẫm: da thịt tuyết, giây tinh huyết, ngọc trăng, nhung mây, sữa trăng…Các ẩn dụ này làm cho một hình ảnh tĩnh chuyển thành động. Thơ cũ nói trăng như sữa, Bích Khê làm cho trăng ấy thành sữa, sữa kia đang nhỏ giọt, nhỏ từ vú hẳn hoi. Đọc bài ‘Xuân tượng trưng”, chúng ta có thể giật mình bởi sự tưởng tượng linh diệu ấy:

“Nâng lên mún vú đồi

Sữa trăng nhi nhỉ giọt”

Có thể thấy, một chữ, một từ trong thơ Bích Khê đều có khả năng gợi ra trong lòng người đọc những điều thú vị. Cách dùng từ mới lạ tạo nên một thế giới huyền bí, khó hiểu của ông mà chỉ những người “thật giỏi tưởng tượng” mới cảm nhận hết được. Xuân Diệu thường ví mặt trăng với mâm vàng, đĩa bạc, còn Bích Khê trong bài “Ngũ Hành Sơn” thì gọi là chén trăng:

“Lò mò đường lên mây

Chén trăng vừa tầm với

Chàng ơi, vàng ròng đây

Kề môi say ân ái”

Chỉ một từ “chén trăng” đã gợi nên cả một thế giới đầy màu sắc lung linh, huyền diệu. Trăng màu vàng nên chén trăng cũng là chén vàng nhưng câu sau lại là “vàng ròng” thì đó là biểu tượng quý giá. (Dẫn theo “Con mắt thơ” – Đỗ Lai Thúy).

Một điều mà chúng ta nhận thấy, Bích Khê đã đi vào khai thác một ngạch riêng của mình về ngôn từ. Đó là sự tương đồng về âm thanh và tạo hẳn ra một lối thơ bình thanh đặc sắc. Hãy đọc hai câu thơ bất hủ trong bài “Tỳ Bà” để cảm nhận điều ấy:

Ô hay! buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! vàng rơi! thu mênh mông.

Bích Khê là nhà ảo thuật ngôn từ, nhiều khi ông sử dụng những từ rất trau chuốt, rất khó hiểu như muốn thách đố độc giả nhưng cũng lắm khi nhà thơ sử dụng ngôn ngữ khá gần với cuộc sống con người. Cũng như các nhà thơ khác, trong thơ Bích Khê cũng xuất hiện các từ ngữ biến thể ngữ âm địa phương dân miền Trung nhưng được tác giả sử dụng khá linh hoạt và có giá trị biểu cảm cao. Với những từ địa phương này đã góp phần thể hiện một con người luôn muốn cảm nhận cuộc sống ở tột đỉnh, thể hiện được cái tôi khao khát sống nhiệt thành của các nhà thơ tượng trưng. Từ địa phương gợi lên được nhiều trạng thái cảm xúc của Bích Khê trong khi tận hưởng cuộc sống.

Tác giả bài viết: Sơn Trần

Ở một khía cạnh khác, Bích Khê sử dụng thuyết tương hợp để đi đến việc thống nhất của các hoạt động nghệ thuật lại với nhau. Bích Khê chủ động mở rộng biên độ của thơ, đưa cả âm nhạc, hội họa, kiến trúc, vũ điệu… vào trong thơ, khiến thơ ông không chỉ là thơ mà còn là nhạc điệu, bức tranh, lâu đài…; ngôn ngữ không chỉ là ngôn ngữ, mà còn là âm thanh, màu sắc đường nét, hình khối v.v… Chẳng hạn:

Âm nhạc:  Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mát

Hội họa:   Hỡi hội họa đến muôn đời nức nở

Kiến trúc:  Đời kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

Của lời thơ lòng đẹp. Hạt châu trong …

Lúc này ngôn ngữ chỉ còn là phương tiện mà đã trở thành một cứu cánh của thơ, làm cơ sở cho việc xây dựng tính liên ngành của các hoạt động nghệ thuật bởi sự  sáng tạo, uyên bác của thi nhân.

Sơn Trần, tác giả bài viết

Có thể nói, Bích Khê là nhà thơ mới tiêu biểu trong việc đưa ngôn ngữ thơ gần với ngôn ngữ đời sống và là nhà thơ có sức ảnh hưởng rộng lớn không chỉ đối với các nhà thơ cùng thời mà còn ảnh hưởng đến các nhà thơ thế hệ sau. Đây chính là đóng góp tích cực của ông đối với tiến trình hiện đại hoá thơ Việt Nam. Thật vậy, nhà thơ Thanh Thảo đã nhận xét: “Cùng với Hàn Mặc Tử, ông đã kích thích sự tìm tòi, sự không thoả mãn cho những nhà thơ lớp sau”. Nói cách khác, Bích Khê là một gạch nối quan trọng không thể thiếu của tiến trình thơ Việt Nam hiện đại. Nói như Chế Lan Viên, nhà thơ nổi tiếng cùng thời trong nhóm “Trường thơ loạn” với ông thì Bích Khê đã “cầm một dúm hạt giống mới trên tay” để gieo mầm cho những mùa thơ Việt Nam giai đoạn sau bội thu, đưa thơ Việt Nam tiến kịp với tiến trình thơ thế giới. Cũng theo tác giả này, Bích Khê thuộc hạng “những nhà thơ vừa làm thơ vừa đẩy lịch sử thơ ca, duy tân thêm một bước”. Và chính cách tư duy tượng trưng này đã giúp ông trở thành nhà thơ “siêu cảm giác, siêu văn hoá, siêu ngôn ngữ” mà trong một bài viết PGS. Hồ Thế Hà đã nói.

SƠN TRẦN



Tin tức khác

· 110 NĂM NGÀY SINH BÍCH KHÊ - 'ĐỈNH NÚI LẠ' TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI
· VÀI NÉT VỀ NGÔN NGỮ TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ VẪN VỀ TRONG BÓNG NGUYỆT SOI - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
·  BÍCH KHÊ - "HỒN VẪN VỀ TRONG BÓNG NGUYỆT SOI" - tiểu luận MAI BÁ ẤN
· BÍCH KHÊ - ĐỈNH NÚI LẠ
· THƠ BÍCH KHÊ TRONG KHÔNG GIAN SẦU MỘNG - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· THƠ BÍCH KHÊ MỚI HƠN THƠ HÀN MẶC TỬ, VÌ SAO? - Tiểu luận THANH THẢO
· KHUYNH HƯỚNG TÂM LINH TRONG THƠ BÍCH KHÊ - Tiểu luận TRẦN BẢO ĐỊNH
· BÍCH KHÊ - MỘT TRĂM NĂM: TẬP TƯ LIỆU ĐẦY ĐỦ NHÂN KỶ NIỆM 100 NĂM SINH BÍCH KHÊ (1916 - 2016)
· ĐẾN VỚI “TINH HUYẾT” ĐẾN VỚI MỘT THẾ GIỚI THƠ MƠ ẢO
· VÀNG RƠI, VÀNG RƠI, THU MÊNH MÔNG! - Tiểu luận PHẠM HIỀN MÂY
· THƠ CỦA TÂM NHIÊN VIẾT VỀ QUẢNG NGÃI VÀ BÍCH KHÊ
· “TINH HUYẾT – TINH HOA” VÀ ĐIỆU HỒN BÍCH KHÊ
· MẤY CẢM XÚC VỀ BÍCH KHÊ VÀ THƠ BÍCH KHÊ -Tiểu luận TRẦN HOÀI HÀ
· THĂM LẠI VỊNH TIÊN SÀ - QUÊ HƯƠNG THI SĨ BÍCH KHÊ -Tiểu luận NGUYỄN TRUNG HIẾU
· NGÔ VĂN PHÚ HỎI CHUYỆN TẾ HANH VỀ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - HỒN AI SAY BÓNG NGUYỆT
· ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO TRONG THƠ BÍCH KHÊ
· ĐẾN VỚI BÀI THƠ “CÙNG MỘT CÔ ĐÀO HÁT BỘ” - HÀ HUY HOÀNG
· SO SÁNH TU TỪ VỚI SỰ THỂ HIỆN TƯ DUY TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ BÍCH KHÊ

Tin tức mới
♦ 110 NĂM NGÀY SINH BÍCH KHÊ - 'ĐỈNH NÚI LẠ' TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI (28/03/2026)
♦ LÊ VĂN TRƯƠNG VÀ VĂN CHƯƠNG NAM TÍNH (28/03/2026)
♦ NGUYỄN THỊ HỒNG NGÁT - NGƯỜI THẮP NGỌN ĐÈN THƠ GIỮA CƠN GIÓ LỚN - Tiểu luận NGUYỄN ĐÔNG A (28/03/2026)
♦ VÀI NÉT VỀ NGÔN NGỮ TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ BÍCH KHÊ (26/03/2026)
♦ TƯỚNG TRẦN VĂN TRÀ KHIẾN TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH CẢM PHỤC (26/03/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1952790
Trong thang Trong tháng: 223250
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 91873
Truc tuyen Trực tuyến: 4

...

...

Designed by VietNetNam