TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
ĐỌC BÀI THƠ 'VÀO NHÀ NGỤC HUYỆN TĨNH TÂY' CỦA HỒ CHÍ MINH
ĐỌC BÀI THƠ 'VÀO NHÀ NGỤC HUYỆN TĨNH TÂY' CỦA HỒ CHÍ MINH
Đọc bài thơ “ Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây” của Hồ Chí Minh
thanh thảo
KHÁCH TỰ DO
Nguyên tác:
NHẬP TĨNH TÂY HUYỆN NGỤC
Ngục trung cựu phạm nghênh tân phạm
Thiên thượng tình vân trục vũ vân
Tình, vũ phù vân phi khứ liễu
Ngục trung lưu trú tự do nhân
Bản dịch của Nam Trân:
VÀO NHÀ NGỤC HUYỆN TĨNH TÂY
Trong lao tù cũ đón tù mới
Trên trời mây tạnh đuổi mây mưa
Tạnh, mưa mây nổi bay đi hết
Còn lại trong tù khách tự do
Lời bình:
Chuyện trong lao tù cũ đón tù mới là chuyện thường ngày ở…tù. Có thể ở đây Bác Hồ là “tù mới”, nhưng ở nơi khác Bác lại là “tù cũ”, và ngược lại. Cũng như thế, trên trời mây tạnh đuổi mây mưa, hay mây mưa đuổi mây tạnh cũng là chuyện thường ngày trên…trời. Nói cho cùng, dù là “tình” hay “vũ” thì cũng là…phù vân cả thôi, rồi cũng “phi khứ liễu” cả thôi! Bài thơ mở đầu ung dung, trung đoạn ung dung, còn kết đoạn:
“ Còn lại trong tù khách tự do”
Quá ung dung. Nguyên tác “Ngục trung lưu trú tự do nhân”, bản dịch của nhà thơ Nam Trân hay một chữ mà lại yếu một chữ. Chữ hơi bị yếu chính là dùng “Còn lại” để dịch chữ “lưu trú”. Xin lưu ý, “lưu trú” ở đây được Bác Hồ dùng với hàm nghĩa hơi hài hước. Chứ có ai muốn “lưu trú” trong tù! Chợt nhớ câu ca dao thời bao cấp: “Dù cho gió táp mưa sa/ Khách lạ tới nhà phải báo công an/”. “Khách lạ tới nhà” là thuộc diện “tạm trú” còn phải báo cáo cơ quan công quyền, nữa là “khách” (“nhân”) tới…ở tù, hoàn cảnh nó oái oăm lắm, nó dở khóc dở cười lắm, mà dịch “lưu trú” thành “Còn lại” e hơi nhẹ! Nhưng nhà thơ Nam Trân lại có một chữ dùng quá đắt cũng ngay ở câu dịch này, ấy là chữ “khách”. Dịch “tự do nhân” (người tự do) thành “khách tự do” thì quá siêu thoát, quá sang trọng( không phải ở tù sang trọng, mà tâm thế người ở tù sang trọng). Với chữ “khách tự do” nghe cứ như trong câu thơ Lý Bạch, khi nhà thơ thoát tục lên tiên! Nhưng đọc lại nguyên cả câu trong nguyên tác: “ Ngục trung lưu trú tự do nhân” thì lại có cảm giác cái “ngục trung” này đang chứa một…quả bom hẹn giờ, vì “lưu trú” ở đây là một “khách tự do”. Khách tự do mà ở trong tù, khác nào bom hẹn giờ cơ chứ! Sự bùng nổ trong lặng lẽ, trong thanh thoát của câu thơ kết này ẩn trong chính cấu trúc chữ của nó. Như một cảnh báo. Lại như một hứa hẹn. Khách tự do là mãi mãi tự do, dù có lúc phải “lưu trú” trong tù.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.