Tôi yêu Baudelaire đắm đuối, say sưa Hồ Xuân Hương sôi nổi, thì Bích Khê tuông ra những lời nóng hổi, mê man nhủ cùng tôi chung một tâm tình thơ ngây ngất.
công chúng ngày nay đã cách xa thời Bích Khê sống và sáng tác trên nửa thế kỷ; họ có nhu cầu được các nhà nghiên cứu, sưu tầm cho biết ít nhiều về sự ra mắt, sự “trình làng” của nhà thơ này.
Công trình chính trong khu lưu niệm đó là vườn thơ, đã được gia tộc và nhà thiết kế gửi gắm những tâm tư, tình cảm và dấu ấn cuộc đời thi sĩ vào “ một vườn thơ – một đời người”.
Thời còn học Trung học Trần Quốc Tuấn – Quảng Ngãi, lũ học trò chúng tôi vẫn thường hay ghé xem và mua sách ở Thư quán Bích Khê - đường Quang Trung, nghe nói là của người bà con Bích Khê, lấy tên ông làm hiệu sách như nhắc cho người dân Quảng mình biết ở quê mình cũng có một “nhà thơ lớn” mà tự hào!
Đọc thơ Bích Khê, ta như đắm mình trong thế giới của màu sắc, mùi hương, hình ảnh, âm thanh... Người đọc như được tác giả dẫn vào thế giới tĩnh lặng và ở đó chỉ âm vang hư thực, mờ ảo của tiếng đàn truyền thống.
Trong Thi nhân Việt Nam, thi sĩ Bích Khê được Hoài Thanh và Hoài Chân chọn đăng hai bài: Duy tân và Xuân tượng trưng. Đặc biệt, dưới bài Xuân tượng trưng, tác giả Thi nhân Việt Nam có ghi chú: “Chúng tôi trích bài này vì chiều theo yêu cầu của ông Bích Khê”.
Người đời thường lầm tưởng mộng và mơ là thuộc tính của thi sĩ, nhưng kỳ thật cái mộng mơ của thi sĩ Bích Khê đã vượt lên cả sự thật trần truồng mà thất tình, nhục dục của con người thường nói chính là cái bản năng con của loài người. Bích Khê đã chiêm ngắm thế giới bằng chính sự rung động, bằng trái tim tinh huyết, bằng cả thần trí và ánh sáng của mặt trời.
Sự ra đời của thơ mới làm thay đổi toàn bộ diện mạo của đời sống văn học. Đó là sự đổi mới về câu từ, giọng điệu, cấu trúc, thể thơ... mà cái chính là ở cảm xúc và tư duy. Từ những thay đổi về cảm xúc đưa đến những thay đổi tư duy, mở ra một thời đại mới trong thi ca, với những tên tuổi rạng rỡ như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương v.v; trong đó không thể không kể đến một nhóm, một trường phái, một dòng thơ, mà ở đó cái gì cũng dữ dội, cũng tha thiết, cũng đắm say, cũng muốn đi đến tận cùng, cái tận cùng đầy tuyệt vọng, đã xuất hiện trên thi đàn như một “niềm kinh dị” đó là trường thơ Loạn, nơi quy tụ những tên tuổi như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Quách Tấn, Yến Lan, Hoàng Diệp. Mỗi người đều thống nhất với nhau một nguồn chung, nhưng đều có một thi pháp biểu hiện riêng và đã đạt được những thành tựu khác nhau, còn sống mãi trong thi đàn dân tộc. Đã có nhiều công trình đánh giá tương đối đầy đủ về những đóng góp của từng người, trong bài viết ngắn này tôi chỉ xin rẽ bóng thời gian nhìn lại vị trí của Bích Khê trong trường thơ Loạn.
Khi đọc thơ Bích Khê, chúng ta không thể đọc như một bài thơ cổ điển hoặc thơ mới, vì Bích Khê không làm thơ theo logique truyền thống, nghiã là thơ phải có mạch lạch có nghiã, mà nên đọc thơ ông như xem những bức tranh, khi ấn tượng, khi lập thể, khi siêu thực, khi trừu tượng... có thêm phần nhạc đệm.
Hình ảnh trong thơ Bích Khê là sự cát dán lắp ghép, hình ảnh trong thơ Hàn Mặc Tử là tưởng tượng, vì vậy khi nhìn bề ngoài có vẻ giống nhau nhưng thật ra rất khác : thơ Bích Khê «mới» hơn Hàn Mặc Tử, vì Bích Khê tiếp nhận thêm được những kiến thức siêu thực, mà Hàn Mặc Tử chưa kịp tiếp thu, đã mất. Nhưng cùng trong hoàn cảnh bệnh hoạn, Bích Khê không cô đơn, tuyệt vọng như Hàn, nên thơ Bích Khê không đạt được mức đớn đau tuyệt tác như thơ Hàn Mặc Tử.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.