• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
KHẢO CỨU HAI DỊCH PHẨM THƠ ĐƯỜNG SANG CHỮ NÔM VÀ VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN THƠ ĐỖ PHỦ TẠI VIỆT NAM

KHẢO CỨU HAI DỊCH PHẨM THƠ ĐƯỜNG SANG CHỮ NÔM VÀ VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN THƠ ĐỖ PHỦ TẠI VIỆT NAM



LÊ VĂN MẪU

Sinh năm 1973 tại Mộ Đức, Quảng Ngãi

Tiến sĩ Văn học

Hiện là Giảng viên Trường Đại học Nghệ An

***

Không có mô tả ảnh.

    1. Đặt vấn đề

    “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm” (唐诗合选五言律解音) và “Đường thi tuyệt cú diễn ca” (唐诗绝句演歌) là hai dịch phẩm có ý nghĩa đặc biệt trong di sản Hán Nôm Việt Nam. Chúng không những thể hiện ý thức dịch thơ Đường sang chữ Nôm của các dịch giả, mà còn có đóng góp quan trọng trong việc tiếp nhận, xây dựng một nền văn học Hán Nôm mang đậm bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, hai dịch phẩm này còn ít được công chúng biết đến. Vì vậy, khảo cứu và giới thiệu rộng rãi đến bạn đọc hai dịch phẩm là thực sự cần thiết.

    Thực ra, trước khi có việc dịch thơ Đường ra chữ Nôm, trong quan hệ giao lưu với Trung Quốc, Việt Nam đã có một truyền thống dịch thuật rất lâu đời. Bằng chứng là, trước thời “Bắc thuộc”, trong mối giao hảo giữa Trung Quốc, Việt Nam đã xuất hiện vấn đề dịch thuật. Trong Lĩnh Nam chích quái có ghi: vào đời Thành Vương nhà Chu, Hùng Vương sai bề tôi là họ Việt Thường, đem bạch trĩ sang cống tiến. Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải sai sứ thông dịch mới hiểu được nhau. Sách Sử ký của Tư Mã Thiên cũng chép: năm Tân Mùi thứ 6 (1110 trước Công nguyên) đời vua Thành Vương nhà Chu, phía Nam bộ Giao Chỉ có họ Việt Thường đã qua ba lần sứ dịch dâng chim trĩ trắng. Thời kỳ “Bắc thuộc”, chữ Hán chính thức truyền vào Việt Nam, Truyền thống dịch thuật này cũng được tiếp nối: dịch từ Hán sang Việt. Theo Văn Đa cư sĩ, một học giả đời Tự Đức, tác giả sách “Đại Nam quốc ngữ” và bài tựa sách “Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa” thì Sĩ Vương (187-226) bắt đầu dùng tiếng Hán dịch sang tiếng Việt. Sử Vương khi dịch đến chữ “thư cưu” không biết gọi là chim gì, khi dịch đến “dương đào” không biết gọi là quả gì [1]. Tuy những câu chuyện trên chỉ là truyền thuyết nhưng nó cũng nói lên một điều là, việc dịch từ Hán sang Việt là có từ rất sớm. Chính truyền thống dịch thuật lâu đời này đã có tác động thúc đẩy to lớn đến việc dịch thơ Đường ra chữ Nôm.

    Chữ Nôm hình thành, phát triển kéo theo đó là sự hình thành, phát triển nền văn học chữ Nôm Việt Nam, trong đó có bộ phận văn học dịch, mà lĩnh vực tiêu biểu là thi ca. Theo Trần Nghĩa, cùng với sự hình thành chữ Nôm, những bản diễn âm thơ cũng xuất hiện. Cụ thể như: Kinh thi được diễn âm sang chữ Nôm (Thi kinh giải âm, Thi kinh diễn âm, Thi kinh diễn nghĩa...), Tương tiến tửu (Ca điệu lược ký), Tỳ bà Hành (Tỳ bà hành diễn âm) [2]...

Hiện nay người ta phát hiện những bản dịch Đường thi sang chữ Nôm được cho là xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ XV. Theo Nguyễn Quảng Tuân, Những bài dịch Đường thi đầu tiên phải kể đến những bài đã được dịch từ thế kỷ thứ XV và được sưu tầm trong bộ“Hồng Đức quốc âm thi tập” (đời vua Lê Thánh Tôn) như “Xuân tịch lữ hoài” (春夕旅怀) của Thôi Đồ và bốn bài dịch ở chùm thơ Thiên Thai của Tào Đường [3]. Nhưng thế kỷ XIX mới là thời kỳ hoàn kim của việc dịch thơ Đường sang chữ Nôm. Vì theo nhà nghiên cứu Nguyễn Tuyết Hạnh“Đến thế kỷ XIX, thơ Nôm đã hết sức phát triển, nghệ thuật sử dụng ngôn từ đã điêu luyện nên tất nhiên cũng có nhiều bản dịch thơ Đường. Thế nhưng ngày nay ta chỉ còn lại một số ít bài của một số dịch giả vốn là những nhà thơ nỗi tiếng như Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương...” [4]. Hiện nay, tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam còn lưu giữ hai dịch phẩm Đường thi “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm” và “Đường thi tuyệt cú diễn ca” có132 bản dịch thơ của 57 tác giả Đường thi.

    2. Khảo cứu “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm”

    “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm” [5] là phần thứ hai trong bốn phần của một văn bản chép tay, có tên là “Vị Thành giai cú tập biên”, hiện lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AB.194, từ tờ 30 đến tờ 62. Ở đầu phần hai “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm” (tờ 30) phía bên phải từ trên xuống, dòng thứ nhất ghi: “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm bát thập tam thủ” (唐诗合选五言律解音八十三首);dòng thứ hai ghi “Vị Xuyên Tú tài Trần Cao Xương Tử Thịnh diễn tập” (渭川秀才陈高昌子盛演辑). Cuối tờ 62, bên trái từ trên xuống có ghi “Đường thi diễn âm chung tất” (唐诗演音终毕).

    Theo Đoàn Hồng Nguyên, lần đầu tiên công chúng được biết đến “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm” của Tú Xương là qua phát hiện của các ông Hoàng Ngọc Phách, Lê Thước, Đỗ Đức Hiểu, trong tập “Văn thơ Trần Tế Xương”, xuất bản năm 1957. Các tác giả này căn cứ vào thông tin: Tú Xương đã từng dịch thơ Đường do ông Trần Tấn Đạt, con trai thứ ba của ông Trần Tú Xương cung cấp, để khẳng định Tú Xương là tác giả của “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm”. Tuy nhiên, các tác giả này chỉ mới trích lục 5 bài trong tổng số 83 bài của bản dịch và đưa vào phần phụ lục của tập sách. Đó là bài Dã Vọng của Vương Tích; Cung trung hành lạc (kỳ nhị), Thu tứ của Lý Bạch; Đảo y và Xuân dạ hỉ vũ của Đỗ Phủ [6].

Theo khảo cứu của chúng tôi, “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm” có tất cả 83 bài thơ của 29 tác giả, được sắp xếp chủ yếu theo danh mục tác giả. Trong đó, Đỗ Phủ được chọn dịch nhiều nhất với 21 bài, như: Đăng Duyện Châu thành lâu (登兖州城楼), Xuân nhật ức Lý Bạch (春日忆李白), Nguyệt (月), Sơ nguyệt (初月), Bát nguyệt thập ngũ dạ nguyệt (八月十五夜月), Thập lục dạ ngoạn nguyệt (十六夜玩月), Thập thất dạ đối nguyệt (十七夜对月), Đảo y (捣衣), Lạc nhật (落日), Hiểu vọng (晓望), Bộ chư quý công tử Trượng Bát Mãn huề kỹ nạp Lương Vãn Diễn ngộ vũ (步诸贵公子丈八满携妓納涼晚衍遇雨), Dã vọng (野望), Đăng Nhạc Dương lâu (登岳阳楼), Tần Châu tạp vịnh (秦州杂咏), Chu trung dạ tuyết hữu hoài Lư Vu Tứ Thị ngự đệ (舟中夜雪有怀卢于四侍御弟), Đối tuyết (对雪), Vãn Tình (晚晴), Xuân dạ hỉ vũ (春夜喜雨), Huỳnh hỏa (萤火), Động  phòng (洞房), Cầm đài (琴台). Tiếp đến là Lý Bạch với 16 bài, như Cung trung hành lạc- kỳ I (宫中行乐其一), Cung trung hành lạc- kỳ II (宫中行乐其二), Cung trung hành lạc- kỳ III (宫中行乐其三), Thu tứ (秋思), Kim Lăng (金陵), Khẩu hiệu tặng Trưng quân Lư Hồng công thì bị triệu (口号赠徵君卢鸿公时被召), Tặng Tiền Trung quân Thiếu Dương (赠钱徵君少阳), Tặng Mạnh Hạo Nhiên (赠孟浩然), Giang Hạ biệt Tống Chi Đễ (江夏别宋之悌), Độ Kinh Môn tống biệt (渡荆门送别), Tống hữu nhân (送友人), Tầm Ung tôn sư ẩn cư (寻雍尊师隐居), Phỏng Đái Thiên Sơn đạo sĩ bất ngộ (访戴天山道士不遇), Quá Thôi Bát trượng thủy đình (过催八丈水亭), Thu Đăng Tuyên Thành Tạ Điểu bắc lâu (秋登宣成谢眺北楼), Tạ công đình (谢公停). Mạnh Hạo Nhiên được tuyển dịch 6 bài, như Động Đình (洞庭), Dữ chư công tử đăng Hiện Sơn (与诸公子登岘山), Quy Chung Nam sơn (归钟南山), Chu trung hiểu vọng (舟中晓望), Đề Nghĩa công thiền phòng (题義公禅房), Dạ độ Tương thủy (夜渡湘水). Đỗ Thẩm Ngôn được tuyển dịch 5 bài, như Bồng Lai tam điện thị yến phụng sắc vịnh Chung Nam sơn (蓬莱三殿侍宴奉策詠終南山), Thu dạ yến lâm tân Trịnh Minh Phủ trạch(秋夜宴臨津郑明府宅), Hạ nhật quá Thất sơn trại (夏日过七山斋), Họa Tấn Lăng Lục thừa tướng “Tảo xuân du vọng” (和晋陵陆丞相早春游望), Họa Khang ngũ vọng nguyệt hữu hoài (和康五望月有怀). Vương Duy được tuyển dịch 5 bài, như Đề Chung Nam sơn(题终南山),Sơn cư thu mính (山居秋暝), Quy Tung sơn tác (归嵩山作), Chung Sơn biệt nghiêp (终山别业), Quá Hương Tích tự (过香积寺). Trần Tử Ngang được tuyển dịch 3 bài, như Vãn thứ Nhạc Hương huyện (晚次乐乡县), Xuân dạ biệt cố nhân (春夜别故人), Xuân nhật đăng Cửu Hoa quán (春日登九华观). Vương Bột được tuyển dịch 2 bài, như Thánh Tuyền Yến (圣泉宴), Tống Đỗ Thiếu phủ chi nhiệm Thục Châu (送杜少府之任蜀州). Thẩm Thuyên Kỳ được tuyển dịch 2 bài, như Vu Sơn (巫山), Dạ túc Thất Bàn lĩnh (夜宿七盘岭). Tống Chi Vấn được tuyển dịch 2 bài, như Hỗ tòng Đăng Phong đồ trung tác (扈从登封途中做),Lục Hồn Sơn trang (陆浑山庄);Sầm Tham được tuyển dịch 2 bài, như Tống Trương tử úy Nam Hải (送张子尉南海) Đăng Tổng Trì các (登总持阁). 19 tác giả được chọn 1 bài như Dã vọng (野望) của Vương Tích, Tòng Quân hành(从军行)của Dương Quýnh, Tại ngục văn thiền (在狱闻蝉) của Lạc Tân Vương, Túy hậu tặng Trương Húc (醉后赠张旭) của Cao Thích, Vọng Tần Xuyên (望秦川) của Lý Kỳ, Tô thị biệt nghiệp (素食别业) của Tổ Vịnh, Bắc thứ Cố sơn hạ (北次固山下) của Vương Loan, Đăng Nhuận Châu thành (登润州城) của Khâu Vị, Đồng Vương Trưng Quân du Động Đình hữu hoài (同王徵君游洞庭有怀) của Trương Vị, Phá Sơn tự hậu Thiền viện (破山寺后禅院) của Thường Kiến, Nhạc Dương vãn cảnh (岳阳晚景) của Trương Quân, Tầm Nam Khê Thường đạo sĩ (寻南溪常道士) của LưuTrường Khanh, Hòa vạn niên thành thiếu phủ ngụ hữu (和万年成少府寓有) của Tiền Khởi, Tống Phần Thành Vương chủ (送分城王主) của Vi Ứng Vật, Vân Dương quán dữ Hàn Thân túc biệt (云阳馆与韩绅宿别) của Tư Không Thự, Trừ tịch dạ túc Thạch Đầu dịch (除夕夜宿石头译) của Đái Thúc Luân, Thảo (草) của Bạch Cư Dị, Xuân sơn nguyệt dạ (春山月夜) của Vu Lương Sử, Lữ du thương xuân (旅游伤春) của Lý Xương Phù.

Mặc dù được sắp xếp theo mục tác giả, tuy nhiên có chỗ sự sắp xếp này không nhất quán và nhiều chỗ không ghi tên tác giả, cho nên chúng tôi phải khảo sát, đối chiếu qua nhiều tập sách khác như “Từ điển giám thưởng Đường thi”[7], “Tuyển tập thơ Đường”[8], Đường thi tuyển dịch [9]... để xác định tác giả. Cụ thể như Vương Bột được tuyển dịch hai bài, nhưng lại sắp ở vị trí không theo thứ tự danh mục (bài số 2, 4) và bài số 4 lại không ghi tên tác giả; xen vào giữa là một bài thơ của Dương Quýnh (bài số 3). Có 6 bài thơ không ghi tên tác giả, chúng tôi xác định như: Vương Bột (bài số 4), Sầm Tham (bài số 45, 46), Cao Thích (bài số 47), Lý Kỳ (bài 69). Riêng bài số 69 vừa không ghi tác giả, vừa sai đầu đề như: Vọng Tần Châu(望秦州), chúng tôi xác định lại là Vọng Tần Xuyên (望秦川) của tác giả Lý Kỳ.

Về dịch thơ, “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm” được dịch ra chữ Nôm, thể thơ được dịch là Thất ngôn và Ngũ ngôn. Trong số 83 bài thơ, dịch theo thể Thất ngôn là 72 bài, theo thể Ngũ ngôn là 11 bài.

Các bài dịch ra thể thất ngôn là Dã vọng (野望) - Vương Tích, Thánh Tuyền Yến (圣泉宴)- Vương bột, Tòng Quân hành (从军行)- Dương Quýnh, Tống Đỗ Thiếu phủ chi nhiệm Thục Châu (送杜少府之任蜀州)- Vương Bột, Tại ngục văn thiền (在狱闻蝉)- Lạc Tân Vương, Vãn thứ Nhạc Hương huyện (晚次乐乡县), Xuân dạ biệt cố nhân (春夜别故人), Xuân nhật đăng Cửu Hoa quán (春日登九华观)- Trần Tử Ngang, Bồng Lai tam điện thị yến phụng sắc vịnh Chung Nam sơn (蓬莱三殿侍宴奉策詠終南山)- Đỗ Thẩm Ngôn, Thu tứ (秋思), Kim Lăng (金陵), Khẩu hiệu tặng Trưng quân Lư Hồng công thì bị triệu (口号赠徵君卢鸿公时被召), Tặng Tiền Trung quân Thiếu Dương (赠钱徵君少阳), Tặng Mạnh Hạo Nhiên (赠孟浩然), Giang Hạ biệt Tống Chi Đễ (江夏别宋之悌), Độ Kinh Môn tống biệt (渡荆门送别), Tống hữu nhân (送友人), Tầm Ung tôn sư ẩn cư (寻雍尊师隐居), Phỏng Đái Thiên Sơn đạo sĩ bất ngộ (访戴天山道士不遇), Quá Thôi Bát trượng thủy đình (过催八丈水亭), Thu Đăng Tuyên Thành Tạ Điểu bắc lâu (秋登宣成谢眺北楼), Tạ công đình (谢公停)- Lý Bạch, Động Đình (洞庭), Dữ chư công tử đăng Hiện Sơn (与诸公子登岘山), Quy Chung Nam Sơn (归钟南山), Chu trung hiểu vọng (舟中晓望), Đề Nghĩa công thiền phòng (题義公禅房), Dạ độ Tương thủy (夜渡湘水)- Mạnh Hạo Nhiên, Đề Chung Nam sơn (题终南山), Sơn cư thu mính (山居秋暝), Quy Tung sơn tác (归嵩山作), Chung Sơn biệt nghiêp (终山别业), Quá Hương Tích tự (过香积寺)- Vương Duy, Tống Trương tử úy Nam Hải (送张子尉南海), Đăng Tổng Trì các (登总持阁)- Sầm Tham, Túy hậu tặng Trương Húc (醉后赠张旭)- Cao Thích, Đăng Duyện Châu thành lâu (登兖州城楼), Xuân nhật ức Lý Bạch (春日忆李白), Nguyệt (月), Sơ nguyệt (初月), Bát nguyệt thập ngũ dạ nguyệt (八月十五夜月), Thập lục dạ ngoạn nguyệt (十六夜玩月), Thập thất dạ đối nguyệt (十七夜对月), Đảo y (捣衣), Lạc nhật (落日), Hiểu vọng (晓望), Bộ chư quý công tử Trượng Bát Mãn huề kỹ nạp Lương Vãn Diễn ngộ vũ (步诸贵公子丈八满携妓納涼晚衍遇雨), Dã vọng (野望), Đăng Nhạc Dương lâu (登岳阳楼), Tần Châu tạp vịnh (秦州杂咏), Chu trung dạ tuyết hữu hoài Lư Vu Tứ Thị ngự đệ (舟中夜雪有怀卢于四侍御弟), Đối tuyết (对雪), Vãn Tình (晚晴), Xuân dạ hỉ vũ (春夜喜雨), Huỳnh hỏa (萤火), Động phòng (洞房), Cầm đài (琴台)- Đỗ Phủ, Vọng Tần Xuyên (望秦川)- Lý Kỳ, Tô thị biệt nghiệp (素食别业)- Tổ Vịnh, Bắc thứ Cố sơn hạ (北次固山下)- Vương Loan, Đăng Nhuận Châu thành (登润州城)- Khâu Vị, Đồng Vương Trưng Quân du Động Đình hữu hoài (同王徵君游洞庭有怀)- Trương Vị, Phá Sơn tự hậu Thiền viện (破山寺后禅院)- Thường Kiến, Nhạc Dương vãn cảnh (岳阳晚景)- Trương Quân, Tầm Nam Khê Thường đạo sĩ (寻南溪常道士)- LưuTrường Khanh, Hòa vạn niên thành thiếu phủ ngụ hữu (和万年成少府寓有)- Tiền Khởi, Tống Phần Thành Vương chủ (送分城王主)- Vi Ứng Vật, Vân Dương quán dữ Hàn Thân túc biệt (云阳馆与韩绅宿别)- Tư Không Thự, Trừ tịch dạ túc Thạch Đầu dịch (除夕夜宿石头译)- Đái Thúc Luân, Thảo (草)- Bạch Cư Dị, Xuân sơn nguyệt dạ (春山月夜)- Vu Lương Sử, Lữ du thương xuân (旅游伤春)- Lý Xương Phù.

Các bài dịch ra thể Ngũ ngôn là: Thu dạ yến lâm tân Trịnh Minh Phủ trạch(秋夜宴臨津郑明府宅), Hạ nhật quá Thất sơn trại (夏日过七山斋), Họa Tấn Lăng Lục thừa tướng “Tảo xuân du vọng” (和晋陵陆丞相早春游望), Họa Khang ngũ vọng nguyệt hữu hoài (和康五望月有怀)- Đỗ Thẩm Ngôn, Vu Sơn (巫山), Dạ túc Thất Bàn lĩnh (夜宿七盘岭)- Thẩm Thuyên Kỳ, Hỗ tòng Đăng Phong đồ trung tác (扈从登封途中做), Lục Hồn Sơn trang (陆浑山庄)- Tống Chi Vấn, Cung trung hành lạc- kỳ I (宫中行乐其一), Cung trung hành lạc- kỳ II (宫中行乐-其二), Cung trung hành lạc- kỳ III (宫中行乐-其三)- Lý Bạch.

 3. Khảo cứu “Đường thi tuyệt cú diễn ca"

    “Đường thi tuyệt cú diễn ca” [10] là một dịch phẩm bằng chữ Nôm, bản viết, 26 trang, gồm 55 bài thơ Tuyệt cú bằng chữ Hán trong thơ Đường của 36 tác giả; do Đông Sơn Cư Sĩ (东山居士) hiệu duyệt. Hiện đang lưu trữ tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu là A.2814. Mở đầu tập là bài thơ Thục trung cửu nhật (蜀中九日) của Vương Bột và kết thúc bằng bài thơ Vô Đề (无题) của Thôi Hoạch. Đầu dịch phẩm này, phía bên phải dòng thứ nhất, từ trên xuống, có ghi: “Đường thi tuyệt cú diễn ca” (唐诗绝句演歌); kết thúc bằng dòng cuối cùng bên trái, từ trên xuống có ghi: “ Đường tuyệt diễn ca tất”(唐绝演歌毕), bên dưới có ghi “Đông Sơn Cư Sĩ hiệu” (东山居士校).

    Theo khảo cứu của chúng tôi, trong “Đường thi tuyệt cú diễn ca”, người được chọn dịch nhiều nhất là Vương Xương Linh với 8 bài như Điện tiền khúc (殿前曲), Tây cung xuân oán (西宫春怨), Tây cung thu oán (西宫秋怨), Trường tín thu từ (长信秋词), Khuê oán (闺 怨), Tòng quân hành- kỳ I (从军行其一), Phù Dung lâu tống Tân Tiệm (芙蓉楼送辛渐), Lư Khê biệt nhân (卢溪别人). Tiếp đến là Lý Bạch với 7 bài, như Thanh bình điệu- kỳ 1 (清平调其一), Thanh bình điệu- kỳ 2 (清平调其二), Thanh bình điệu- kỳ 3 (清平调其三), Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (黄鹤楼送孟浩然之广陵), Tảo phát Bạch Đế thành (早发白帝城), Tô đài lãm cổ (苏台览古), Xuân dạ Lạc Thành văn địch (春夜洛城闻笛). Sầm Tham được tuyển dịch 3 bài, như Mục Túc phong ký gia nhân (苜蓿烽奇家人), Phùng nhập Kinh sứ (逢入京使), Sơn phòng xuân sự (山房春事); 4 tác giả được chọn dịch 2 bài như: Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ (九月九日忆山东兄弟), Tống Nguyên Nhị sứ An Tây (送元二使安西) của Vương Duy; Xuân tứ (春思), Tống Lý Thị Lang phó Thường Châu (送李侍郎赴常州) của Giả Chí; Tặng Hoa Khanh (赠花卿), Tuyệt cú (绝句) của Đỗ Phủ; Dạ thướng Thụ Hàng văn địch (夜上受降闻笛), Cung oán (宫怨) của Lý Ích. 29 tác giả còn lại được chọn dịch 1 bài như: Thục trung cửu nhật (蜀中九日) của Vương Bột, Đồng Tước đài (铜雀台) của Lưu Đình Kỳ, Tống Lương Lục (送梁六) của Trương Duyệt, Lương Châu từ (凉州词) của Vương Hàn, Tống Vũ Văn Lục (送宇文六) của Thường Kiến, Biệt Đổng Đại (别董大) của Cao Thích, Lương Châu từ (凉州词) của Vương Chi Hoán, Đào hoa khê (桃花溪) của Trương Húc, Hàn thực (寒食) của Hàn Hủ, Phong Kiều dạ bạc (楓桥夜泊) của Trương Kế, Giang thôn tức sự (江村即事) của Tư Không Thự, Thạch Thành Đầu (石城头) của Lưu Vũ Tích, Thập ngũ dạ vọng nguyệt (十五夜望月) của Vương Kiến, Hán uyển hành (汉苑行) của Trương Trọng Tố, Đăng lâu (登楼) của Dương Sĩ Ngạc, Văn Bạch Lạc Thiên tả giáng Giang Châu Tư Mã (闻白乐天左降江州司马) của Nguyên Chẩn, Vũ Lâm Linh (雨淋玲) của Trương Hựu, Độ Tang Càn (渡桑乾) của Giả Đảo, Dạ vũ ký thác (夜雨寄托) của Lý Thương Ẩn, Bạc Tần Hoài (泊秦淮) của Đỗ Mục, Dương liễu chi (杨柳枝) của Ôn Đình Quân, Giang lâu thư hoài (江楼书怀) của Triệu Hỗ, Khách hữu bốc cư bất toại du Thiên Lũng nhân đề (客有卜居不遂薄游汧陇因题) của Hứa Hồn, Cung oán (宫怨) của Tư Mã Lễ, Hoa Thanh Cung (花清宫) của Thôi Lỗ, Biên từ (边词) của Trương Kính Trung, Tây Thi thạch (西施石) của Lâu Dĩnh, Hoài thượng biệt hữu nhân (淮上别友人) của Trịnh Cốc, Vô đề (无题) của Thôi Hoạch.

    “Đường thi tuyệt cú diễn ca” có 55/55 bài được dịch theo thể Lục bát - thể thơ truyền thống của dân tộc. Điều này càng cho ta thấy rõ ý thức xây dựng, phát triển nền văn học Hán Nôm giàu tính dân tộc của dịch giả.

    4. Vấn đề tiếp nhận thơ Đỗ Phủ qua “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm” và “Đường thi tuyệt cú diễn ca”

Qua khảo cứu “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm” và “Đường thi tuyệt cú diễn ca”, chúng tôi nhận thấy thơ Đỗ Phủ được đặc biệt chú ý trong việc tuyển dịch sang chữ Nôm. Trong số 138 bài thơ Đường của 57 tác giả được chọn dịch sang chữ Nôm thì Đỗ Phủ là một trong những nhà thơ được chọn dịch nhiều nhất với 23 bài, chiếm tỉ lệ gần 17%. Đây là kết quả có thể được xem như tạo ra một tiền đề thuận lợi cho vấn đề dịch thuật và tiếp nhận thơ Đỗ Phủ tại Việt Nam. Điều này cũng góp phần lý giải vì sao thơ Đỗ Phủ từ thế kỷ XX trở đi cũng được chọn dịch ra chữ Quốc ngữ với số lượng vượt trội so với các tác giả Đường thi khác. Tiêu biểu như: Thơ Đỗ Phủ, Phạm Thượng Chi (dịch và chú thích), Biệt thự Hoa Đường, Huế, 1945; Thơ Đỗ Phủ, Nhượng Tống (dịch), Nxb Tân Việt, HN, 1944; Thơ Đỗ Phủ, Trần Xuân Đề (tuyển chọn), Nxb Giáo dục,HN, 1975; Đỗ Phủ nhà thơ Thánh với hơn 1000 bài thơ, Phan Ngọc (biên dịch) , Nxb Văn hóa Thông tin, 2001; Đỗ Phủ tinh tuyển, Nxb Văn học, 2012. Ngoài ra, các tuyển tập thơ Đường cũng tuyển dịch thơ Đỗ Phủ với số lượng nhiều vào hạng bậc nhất như: Thơ Đường, Nhiều tác giả (dịch), 2 tập, Nxb Văn hóa, 1962; Trần Trọng San (dịch), Thơ Đường, Tập 2, Nxb Bắc Đẩu, 1970; Khương Hữu Dụng (dịch), Thơ Đường, Nxb Đà Nẵng, 1992; Trần Trọng Kim (dịch), Đường thi, Nxb Hội nhà văn, 2003; Trương Đình Tín (dịch), Đường thi tuyển dịch, Nxb Thuận Hóa, 2003; Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản (dịch), Đường thi trích dịch, Nxb Văn học, 2006; Lê Nguyễn Lưu ( dịch), Đường thi tuyển dịch, 2 tập, Nxb Thuận Hóa, 2007; Chính Tâm (trích dịch), Thơ Đường, Nxb Văn học, 2007; Nam Trân (dịch), Thơ Đường, Viện Văn học, HN, 2007; Mai Lăng (dịch), Tuyển dịch thơ Đường Tống, Nxb Văn học, 2008; Nhiều tác giả (dịch), Thơ Đường, Nxb Hải Phòng, 2008; Trần Văn Nhĩ (biên dịch),Tuyển tập thơ Đường,2 tập, Nxb Văn nghệ, 2009; Ngô Văn Phú (dịch), Hành Đường Thoái Sĩ (tuyển chọn), Ba trăm bài thơ Đường, Nxb Văn học, 2010.v.v.

Thơ Đỗ Phủ được các dịch giả dịch sang chữ Nôm là thể Thất ngôn 19 bài và Lục bát 2 bài. Điều này cũng cho ta thấy các dịch giả không chỉ chú ý dịch thơ Đỗ Phủ sang chữ Nôm mà còn có ý thức dịch ra thể loại mà người Việt Nam yêu thích - thể Thất ngôn, cũng như ý thức việc dịch theo thể thơ truyền thống của dân tộc - thể Lục bát. Chính vì vậy mà các bản dịch dễ được tiếp nhận rộng rãi trong công chúng.

Vì sao thơ Đỗ Phủ được dịch ra chữ Nôm khá nhiều? Điều này có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, do chế độ khoa cử phong kiến Việt Nam mang đậm nét Nho học, các kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình đều bắt buộc phải thi Kinh nghĩa, Văn sách, Thi phú, Chiếu, Chế, Biểu, trong đó, phần Thi phú giữ vị trí khá quan trọng, nhất là bắt buộc làm thơ theo thể luật thi Đời Đường. Chính chế độ thi cử này khiến thơ Đỗ Phủ ảnh hưởng sâu rộng, nhiều Nho sĩ biết đến thơ Đỗ Phủ mà đem lòng yêu thích dịch ra chữ Nôm để thưởng thức. Thứ hai, tư tưởng nhân đạo cao cả và tinh thần phản đối chiến tranh của thơ Đỗ Phủ có ý nghĩa to lớn đối với con người và tinh thần chống xâm lược của người Việt Nam, có thể cũng làm phát sinh nhu cầu dịch thơ Đỗ Phủ sang chữ Nôm để tuyên truyền, cổ vũ sức mạnh chống xâm lược của dân tộc. Thứ ba, xuất phát từ nhu cầu được nghe âm điệu tiếng Việt, dù xem đó là thứ chữ cao quý, người Việt Nam vẫn mong muốn được nghe lại những bài thơ Đường bằng âm điệu thân thiết của tiếng mẹ đẻ. Thứ tư, nhiều người thường quan niệm, việc thưởng thức một bài thơ bằng nguyên tác với việc thưởng thức bài thơ bằng một bản dịch thì cũng có những cung bật thú vị riêng, vì rằng đọc một bản dịch hay là tận hưởng được hai lần cái hay, cái đẹp của bài thơ. Thứ năm, truyền thống dịch thuật đã tác động to lớn đến việc dịch thơ Đỗ Phủ nói riêng, thơ Đường nói chung.

    5. Kết luận

    Có thể nói, “Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm” và “Đường thi tuyệt cú diễn ca” là hai tài liệu cổ quý báu, gồm 138 bài thơ Đường của 57 tác giả được chọn dịch sang chữ Nôm. Thể loại được chọn dịch là Ngũ ngôn (11 bài), Thất ngôn (72 bài) và Lục bát (55 bài). Các dịch giả không chỉ có ý thức dịch thơ Đường sang chữ Nôm để thưởng thức, tiếp nhận mà còn chọn dịch ra thể thơ dân tộc - thể Lục bát. Vì vậy, hai dịch phẩm này có thể được xem là có đóng góp quan trọng trong việc tiếp nhận thơ Đường để phát triển nền văn học Hán Nôm Việt Nam mang đậm bản sắc dân tộc. Đỗ Phủ là một trong những người được chọn dịch nhiều nhất, có ý nghĩ quan trọng đặc biệt không chỉ đối với nền Văn học Hán Nôm mà còn đến quá trình dịch thuật và tiếp nhận sâu sắc đối với nền văn học chữ Quốc ngữ sau này.

--------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

[1] [4] Nguyễn Tuyết Hạnh: Vấn đề dịch thơ Đường ở Việt Nam, Nxb Văn học 2006, tr.17-18, 47

[2] Trần Nghĩa: Những vấn đề mới đặt ra trong việc dịch từ Hán sang Việt hôm nay, Dịch từ Hán sang Việt, một khoa học, một nghệ thuật. Nxb KHXH, 1982, tr.19.

[3] Nguyễn Quảng Tuân: Những bài dịch Đường thi đầu tiên trong văn học Việt Nam. Tạp chí Hán Nôm, số1, 1985, tr.51

[5] Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm,Bản viết tay, 32 trang. Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm. Kí hiệu: AB.194.

[6] Tú Xương toàn tập. Nxb Văn học, 2010, tr.231

[7]马君骅、马茂元等:《唐诗鉴赏辞典》,上海辞书出版社2010年版

[8] Tuyển tập thơ Đường, Trần Văn Nhĩ (biên dịch), 2 tập, Nxb Văn nghệ, 2009

[9] Đường thi tuyển dịch, Lê Nguyễn Lưu ( biên dịch), 2 tập. Nxb Thuận Hóa, 2007

[10] Đường thi tuyệt cú diễn ca, Bản viết tay, 26 trang. Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm. Kí hiệu: A.2814.



Tin tức khác

· CHU VĂN SƠN - TRÚT MỘT LÒNG YÊU - Tiểu luận VĂN GIÁ
· VÕ TƯỚNG GẮN LIỀN VỚI SỰ SỤP ĐỔ CỦA ÂU LẠC, TRẢI QUA 9 ĐỜI HOÀNG ĐẾ, BƯỚC LÊN NGAI VÀNG Ở TUỔI 100
· NHỮNG SỚM MAI VIỆT NAM - 20 NĂM NHỚ TRỊNH CÔNG SƠN
· ĐẸP HƠN HUYỀN THOẠI...
· NGỌN NÚI LƯU TRUYỀN CÂU CHUYỆN KỲ THÚ VỀ VUA LÊ THÁNH TÔNG
· 5 VŨ KHÍ BÁ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT KIM DUNG, VI TIỂU BẢO SỞ HỮU 1 MÓN
· VỀ LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM NGHE GIAI THOẠI VỀ SỨ THẦN GIANG VĂN MINH
· NGÂN VỊNH - NGƯỜI LÍNH CÓ 'TÚI THƠ'
· MỘT TRONG 'TỨ KIỆT' ĐƯỢC CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH MỜI THAM GIA CHÍNH PHỦ
· NHÀ THƠ HOÀI VŨ VÀ TÔI - Tiểu luận THANH THẢO
· ĐIỂM XUYẾT THƠ TÌNH 'BAN MAI THƠM MẮT NẮNG' CỦA VŨ TRẦN ANH THƯ
· VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH TRONG TIỂU THUYẾT MỘT SỐ NHÀ VĂN NỮ NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XXI
· 'BẾN KHÔNG CHỒNG' - BI KỊCH CỦA NHỮNG HÒN VỌNG PHU CHƯA HÓA ĐÁ
· THI CA ĐƯƠNG ĐẠI LUÔN HƯỚNG VỀ HOÀNG SA - TRƯỜNG SA SUỐT 40 NĂM QUA - Tiểu luận NGUYỄN VIỆT CHIẾN
· NỮ SĨ CẨM LAI TRONG HÍ QUYỂN THƠ MỚI - Tiểu luận NGUYỄN HỮU SƠN
· HÀN MẶC TỬ - CHẾ LAN VIÊN: ĐÔI TRI KỈ THƠ HIẾM CÓ
· ĐÔI ĐIỀU VỀ CHỮ VÀ NGHĨA TRONG THƠ DỊCH - Tiểu luận HỒNG DIỆU
· TRUYỀN THUYẾT KHÁC VỀ LĂNG MỘ VUA ĐINH VÀ LONG MẠCH Ở CỐ ĐÔ HOA LƯ
· VŨ HỮU - THIÊN TÀI TOÁN HỌC VÀ KỸ THUẬT XÂY DỰNG ĐẠI VIỆT THỜI LÊ SƠ
· 4 VĨ NHÂN VIỆT NAM ĐƯA RA NHỮNG LỜI TIÊN TRI ĐÚNG 100%

Tin tức mới
♦ CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 16. XÓM ĐẠO - Hồi ức MAI BÁ ẤN (22/10/2026)
♦ CHÙM THƠ PHẠM PHƯƠNG LAN - NHẸ NHƯ NGỌN GIÓ THINH KHÔNG GIỮA TRỜI (22/10/2026)
♦ CHU VĂN SƠN - TRÚT MỘT LÒNG YÊU - Tiểu luận VĂN GIÁ (22/10/2026)
♦ VÕ TƯỚNG GẮN LIỀN VỚI SỰ SỤP ĐỔ CỦA ÂU LẠC, TRẢI QUA 9 ĐỜI HOÀNG ĐẾ, BƯỚC LÊN NGAI VÀNG Ở TUỔI 100 (22/10/2026)
♦ CHÙM THƠ 1-2-3 CỦA TRẦN THỊ THÙY VI - HẠT NẮNG SÀI GÒN CHIA LÀM HAI NỬA (18/10/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 2353465
Trong thang Trong tháng: 234706
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 153033
Truc tuyen Trực tuyến: 25

...

...

Designed by VietNetNam