TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
NGUYỄN ANH NÔNG - NỒNG NÀN MỘT TIẾNG THƠ
NGUYỄN ANH NÔNG - NỒNG NÀN MỘT TIẾNG THƠ
Hoàng Quảng Uyên
Nguyễn Anh Nông có thơ in chưa nhiều, những bài thơ hay còn hiếm, nhưng chỉ với những bài thơ được in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, tuần báo Văn nghệ, báo Tiền phong, tạp chí Thanh niên, báo Người Hà Nội...đã cho thấy dấu hiệu của một giọng thơ riêng. Những người yêu thơ đón nhận thơ anh với tình cảm nồng hậu, ấm áp - tình cảm dành cho những người lính chiến xa nhà, xa quê hương:
Cùng đồng đội làm thanh gươm sắc
Cùng đồng đội làm lá chắn bên cột mốc.
Chính từ vị trí ấy, anh viết về mình, về đồng đội- những anh binh nhì trực tiếp cầm súng nơi chiến hào Tổ quốc.
Viết về cuộc sống và chiến tranh, nhưng thật lạ, trong thơ anh không hề có dù là hình bóng tiếng ùng oàng của bom rơi, đạn nổ, hoặc những câu thơ khẩu hiệu, nghe như tiếng thét xung phong? mà chỉ thấy tiếng anh và em, hoa và trái, trăng và gió...
Ước gì em ở bên anh nhỉ
Tay nắm trong tay dạo khắp chiều
Cùng ngắm hoa rừng và có thể
Thầm thì môi nói những lời yêu...
(Mây xanh thác bạc)
Và anh đã gặp sắc trắng hoa ban như là một tình yêu tinh khiết:
Sao em cứ trắng như không
Màu hoa tinh khiết - tận cùng sắc hương
Đam mê con bướm tha hương
Gặp hoa quên cả quê hương, lối về
Giêng hai hoa nói điều chi
Lắng trong sương giá thầm thì... hoa ban.
Và ngay cả thơ viết trong dịp lễ tết dễ sa vào ca ngợi, hô hào, anh vẫn nói những lời yêu:
Em ơi, sắc hương hoa cúc
Vấn vương đôi cánh bướm vàng
Nắng trời buông tơ, giăng mắc
Se se ngọn gió hồng hoang...
Không chỉ tình yêu đôi lứa mới là đề tài Nguyễn Anh Nông đắm say, chân tình, gắn bó với mảnh đất để lại cho anh bao kỷ niệm:
Sáu năm rồi đấy Thạch An ơi
Mây bảng lảng suối đèo Bắc Quảng
Vui, sướng, buồn, đau, ngọt, bùi, cay, đắng
Ta chân tình như chooc rượu đầy
Mắt em men gì chưa uống đã say
Anh như gã sơn tràng đễnh đoãng
Cứ có rượu có hoa là chếnh choáng
Lạc bước lên non quên nẻo đường về.
Đắm say nhưng vẫn tỉnh táo, chếnh choáng nhưng vẫn cân bằng, giữ được như thế không dễ. Đi trên con đường khó khăn đó, Nguyễn Anh Nông đã miệt mài lao động sáng tạo, anh luôn trăn trở tìm cho mình một tiếng nói riêng.
Có thể coi bài thơ Nếu là tuyên ngôn thơ của anh:
Nếu trăm cây nở một màu hoa
Trăm thứ trái độc hương vị ngọt
Trăm loài chim giống nhau giọng hót
Đời ơi, nhàm tẻ biết bao nhiêu.
Luôn hướng theo tuyên ngôn ấy, anh trắc nghiệm cuộc sống bằng chiều sâu tư duy và từ đó làm bật lên những tứ thơ vừa rất thực vừa rất thơ:
Những tháng năm ở rừng
Ăn trong nắng ngủ trong sương
Ngày: mấy bận ngóng thư
Đêm: bầu bạn với trăng trời mây gió
(Những tháng năm ở rừng)
:
Sáu năm rồi đấy - Thạch An ơi!
Mây bảng lảng suối đèo Bắc Quảng
Vui, sướng, buồn, đau, ngọt bùi, cay, đắng
Ta chân thành như choóc rượu đầy
Mắt em men gì mà lắm kẻ say
Anh như gã sơn tràng đễnh đoãng
Cứ có rượu có hoa là chếnh choáng
Lạc bước lên non quên nẻo đường về...
(Tình tự với Thạch An)
Quan sát tinh tế, diễn đạt tự nhiên đó là bước mạnh của thơ Nguyễn Anh Nông, nếu không thế, không thể viết được câu “ăn trong nắng, ngủ trong sương” như vừa dẫn ở trên. Và đây nữa:
Vô tình trời đỏ tiếng ve
Vòm xanh phượng vĩ lập lòe lửa hoa
Trong một câu thơ 6/8 có cả âm thanh, màu sắc, tiếng ca hòa quện để thành thơ. Anh luôn tìm tòi và sáng tạo. ở bài “ Cây lúa và giọt mưa” sự sáng tạo không phải ở thể thơ mà ở cách lập tứ:
Em như cây lúa đồng khô cạn
Khao khát mưa anh đến cháy lòng.
Anh mang lụt đến mang bão đến
Lúa đồng em ngập trắng mênh mông.
Em héo rũ sau chiều nước rút
Anh thành mây ở phía thinh không.
Lúa em phơ phất thì con gái
Anh hóa mưa cho lúa trổ đòng...
Qua giọng đọc thơ của Linh Nhâm, mời các bạn nghe bài thơ Mây xanh thác bạc:
Tung toả
Chiều buông xoã tóc xanh
Cây cỏ man mác.Thác bên ghềnh
Thả hồn theo gió, mơ theo gió
Đâu dáng hình quen - em của anh?
Thiên nhiên tinh khiết hoang sơ quá
Mây núi đơn côi vắng bóng người
Giá như thêm có em nên nữa
Vạn vật cùng anh bớt lẻ loi.
Ước gì em ở bên anh nhỉ?
Tay nắm trong tay dạo khắp chiều
Cùng ngắm hoa rừng và có thể
Thầm thì môi nói những lời yêu.
Ước gì được ngắm em cười, khóc
Bên đá xanh rêu cát úa vàng?
Ước gì tóc được xoà trong tóc
Anh vén vầng mây - ngó bóng trăng
Nguyễn Anh Nông trăn trở với cuộc đời, một cuộc đời đẹp và nhiều ước mơ: Có thấy hồn rung tận cõi người?/ Lớp lớp sóng duềnh chân núi/ Ngàn cây vỗ nắng lao xao.
Sau đây, mời các bạn nghemột bài thơ nữa của Nguyễn Anh Nông Đêm ở rừng nghe tiếng chim quyên quý:
- Queng quý giót...
- Queng quý giót...
Tiếng chim trong đêm
Làm tôi giật thót
Tiếng chim hay em
Gọi tôi trong mơ?
- Queng quý giót...
- Queng quý giót...
Rừng khuya trăng mờ
Lũ nguồn tuôn réo
Nằm lắng chim kêu
Trong lòng ruột héo.
Riêng mình dư chăn
Dư màn, dư chiếu
Mà vẫn băn khoăn
Đời như còn thiếu
“Một hơi thở ấm
Thoảng hương hoa chanh
Một làn tóc rối
Xõa xanh vai mình
Một lời thủ thỉ
Đêm dài qua nhanh”
*
- Queng quý giót...
- Queng quý giót...
*
Thế là chim hót
Thế là tôi nghe
Thế là thao thức
Thế là canh khuya...
H.Q.U
(Trích trong Chương trình của Đài PT-TH Cao Bằng, Tết 1989)
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.