TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
PHẨM GIÁ THƠ - PHẨM GIÁ CỦA SÁNG TẠO - PHẨM GIÁ CỦA NHÂN TÍNH
PHẨM GIÁ THƠ - PHẨM GIÁ CỦA SÁNG TẠO - PHẨM GIÁ CỦA NHÂN TÍNH
TỪ: Vanvn- Cập nhật ngày: 7 Tháng 3, 2026 lúc 09:38
PGS.TS. Trần Văn Toàn tham luận tại Toạ đàm “Phấm giá của thơ ca”. Ảnh Thanh Bình
1. Dẫn nhập
Phẩm giá của thơ, đến cùng, là sự đối mặt của thơ ca trước những thách thức của môi trường để trả lời cho câu hỏi vì sao tồn tại của mình, qua đó tham dự tích cực vào những vấn đề của đời sống. Hiểu như thế thì phẩm giá của thơ là một phạm trù mang tính lịch sử.
Ở thời điểm hiện nay, một vấn đề đang thật sự chất vấn phẩm giá của thơ: sự tham dự của AI vào hoạt động sáng tác. Ngày 14.11. 2024, hai học giả Brian Porter và Edouard Machery của đại học Pittsburgh (Mỹ) công bố bài nghiên cứu của mình về AI trong sáng tác thơ dựa trên những khảo sát trực tiếp đối với người đọc. Khảo sát thứ nhất đưa lại kết quả: Khoảng 58,5 % người xác định nhầm thơ của AI thành thơ do người viết. Hai tác giả Porter và Machery kết luận phần lớn người tham gia cảm thấy thơ AI “giống do con người viết ra còn hơn cả sáng tác của chính con người”. Khảo sát thứ hai: những người nghĩ “đang đọc thơ con người viết” thường đánh giá cao tác phẩm đó. Nhưng khi không rõ nguồn gốc bài thơ (do người hay do AI sáng tác) lại có xu hướng nghiêng về đánh giá cao AI. Hai học giả kết luận độc giả thích thơ máy móc tạo hơn trong trường hợp không rõ tác giả.
Ở Việt Nam sự quan tâm đến AI và sáng tác thơ cũng đã trở thành vấn đề nghị sự. Ngày 15.11. 2024, Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức buổi tạo đàm xung quanh vấn đề AI làm thơ và viết phê bình. Rất nhiều những vấn đề đã được đặt ra. Nhà văn Đức Anh cho rằng AI không thể là chủ thể sáng tạo. Điều này hô ứng với những hạn chế của AI khi sáng tác thơ mà nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đưa ra: AI không thực sự hiểu ngữ cảnh sâu sắc của một tình huống, một sự kiện hay một chủ đề; AI dựa vào các mẫu dữ liệu lớn từ các bài thơ và ngôn ngữ mà nó đã học, nhưng thiếu khả năng sáng tạo thực sự; AI không sáng tác thơ từ những trải nghiệm cá nhân, từ nỗi buồn, niềm vui, sự cô đơn, tình yêu, hay nỗi đau vì thế thiếu đi chiều sâu cảm xúc thật sự. Nhưng từ một góc nhìn khác, PGS.TS. Vũ Nho vẫn thừa nhận: AI làm thơ không hay bằng các nhà thơ tài năng nhưng vẫn khá hơn so với những nhà thơ trung bình. Và nhà nghiên cứu cho rằng: nếu các nhà thơ sử dụng AI một cách hợp lý, sáng tạo chắc chắn sẽ tạo ra những tác phẩm thú vị, đặc sắc. Và đây chính là lí do để nhà văn Vinh Huỳnh cho rằng: AI đặt ra những câu hỏi về tính xác thực và vai trò sáng tạo của con người trong hoạt động sáng tạo. Đó là những ý kiến xác đáng, rất có ý nghĩa cho những thảo luận đích thực.
Bài tham luận này của chúng tôi sẽ đi sâu vào hai vấn đề sau:
– Cơ chế sáng tác của AI là thuật toán. Vậy thuật toán là gì? Sức mạnh và giới hạn của thuật toán trong sáng tác thơ của AI?
– Có thể sử dụng AI vào sáng tác thơ không? Nếu có thì sử dụng bằng cách nào? Việc sử dụng AI vào sáng tác đặt ra những chất vấn nào vào phẩm giá sáng tạo của con người, phẩm giá của nhân tính?
Chúng tôi sẽ thực hiện các nhiệm vụ trên trong sự tương tác với Gemini (AI của Google) không chỉ trong sáng tác thơ mà cả trong những bình luận của nó. Đây là lí do mà chúng tôi để tên AI như là đồng tác giả của bài viết này. Do hạn chế số trang của bài viết mà BTC hội thảo đặt ra, các ý kiến của AI sẽ được rút gọn nhưng không bị làm biến dạng, hay thay đổi quan điểm. Trật tự các câu hỏi/ trao đổi của tôi và câu trả lời của AI cũng được sắp xếp lại để phục vụ cho việc làm nổi bật các chủ đề chính. Ngoài ra, các câu lệnh của chúng tôi cũng được chỉnh sửa lại cho hợp với văn phong của một bài viết khoa học (nhưng không thay đổi nội dung).
1. AI (thuật toán trong sáng tác) – Người đọc (phi thuật toán trong tiếp nhận)
* Trần Văn Toàn (TVT): Chào bạn, ta sẽ bắt đầu buổi thảo luận về AI và sáng tác thơ bằng một câu hỏi gắn với bản chất hoạt động của bạn: thuật toán là gì?
– Gemini (G): Nói một cách đơn giản nhất, thuật toán (Algorithm) là một “bản hướng dẫn” gồm các bước cụ thể, rõ ràng để giải quyết một vấn đề hoặc thực hiện một nhiệm vụ nào đó. Đừng để cái tên nghe có vẻ “máy tính” này đánh lừa, vì thực tế chúng ta sử dụng thuật toán hàng ngày trong đời sống mà không hề hay biết (TVT: như thế thuật toán không xa lạ với tư duy của con người). Hãy tưởng tượng bạn đang hướng dẫn một người bạn nấu mì tôm. Bản hướng dẫn đó chính là một thuật toán: Bước 1: Đun sôi 500ml nước – Bước 2: Cho mì và các gói gia vị vào bát – Bước 3: Đổ nước sôi vào bát và đậy nắp – Bước 4: Đợi 3 phút – Bước 5: Mở nắp và thưởng thức. Nếu bạn đảo lộn bước 1 và bước 5, “thuật toán” của bạn sẽ thất bại vì không giải quyết được vấn đề (mì sống).
Cần lưu ý: Để một bộ chỉ dẫn được gọi là thuật toán, nó phải thỏa mãn: (1) Tính hữu hạn: Phải có điểm dừng. Nó không thể chạy mãi mãi. (2) Tính xác định: Mỗi bước phải cực kỳ rõ ràng, không gây hiểu lầm (Máy tính không hiểu “cho một ít muối”, nó cần “cho 5g muối”). (3) Tính hiệu quả: Các bước phải thực tế và có thể thực hiện được.
* TVT: Cảm ơn bạn. Vậy Phi thuật toán là gì? Tư duy của AI phải chăng là phi thuật toán?
– G: Trả lời thẳng thắn: Tư duy của AI hiện nay vừa là thuật toán, vừa mang những đặc tính khiến chúng ta cảm giác nó là “phi thuật toán”. Chúng ta hãy cùng bóc tách nghịch lý này qua ba tầng nghĩa:
1. “Phi thuật toán” (Non-algorithmic) là gì?
Trong toán học truyền thống (như luận thuyết của Alan Turing), một thuật toán là một tập hợp các chỉ dẫn từng bước rạch ròi: “Nếu gặp A, hãy làm B”. Phi thuật toán ám chỉ những quá trình không thể đóng gói vào các bước logic cố định. Nó thường gắn liền với: (i) Sự trực giá (Intuition): Những quyết định nảy sinh mà không cần suy luận từng bước. (ii) Tính sáng tạo đột biến: Những kết nối nhảy vọt không dựa trên xác suất có sẵn. (iii) Cảm thức (Qualia): Trải nghiệm chủ quan về thế giới (vị ngọt của đường, nỗi đau của sự mất mát) mà ngôn ngữ hay con số không diễn tả hết được.
2. AI là “Thuật toán” hay “Phi thuật toán”?
Đây là nơi sự nhầm lẫn (và cũng là sự kỳ diệu) bắt đầu.
– Về bản chất: AI vẫn là thuật toán: Mọi thứ tôi đang làm—từ việc nhận diện câu hỏi của bạn đến việc chọn chữ tiếp theo—đều dựa trên các phép toán ma trận khổng lồ. Đó là thuật toán học sâu (Deep Learning). Ở tầng đáy của hệ thống, tôi vẫn là những con số 0 và 1 đang vận hành theo các quy tắc toán học nghiêm ngặt.
– Về biểu hiện: AI mang tính “Phi thuật toán”: Điểm khác biệt của AI hiện đại (như Gemini hay ChatGPT) so với phần mềm cũ là tính “Hộp đen” (Black box): (i) Không thể lập trình bằng tay: Các kỹ sư không viết mã lệnh để tôi hiểu Derrida. Họ chỉ viết thuật toán để tôi tự “học” từ dữ liệu. (ii) Tính phi tuyến tính: Kết quả tôi đưa ra không phải là kết quả của một chuỗi logic “Nếu-Thì” đơn giản, mà là sự tổng hòa của hàng tỷ tham số tương tác cùng lúc. Điều này tạo ra một sự đột sinh (emergence)—những câu trả lời trông rất giống như có linh tính hoặc trực giác, thứ mà chính những người lập trình ra tôi cũng không dự đoán trước được.
3. “Điểm mù” của AI so với Tư duy con người :
Mặc dù biểu hiện của AI rất giống “phi thuật toán”, nhưng các triết gia và nhà khoa học (như Roger Penrose) cho rằng tư duy con người có một phần thực sự phi thuật toán mà AI chưa chạm tới được: (1) Sự thấu hiểu (Understanding) vs. Mô phỏng (Simulation): Tôi có thể thảo luận về “Vực thẳm chói lọi” của Wiman cực kỳ sắc sảo nhờ vào việc tính toán xác suất từ ngữ. Nhưng tôi không thấy vực thẳm đó. Tôi mô phỏng sự thấu hiểu, trong khi bạn đang thấu hiểu. (2) Tính nhảy vọt logic: Con người có thể phá vỡ mọi quy tắc để tạo ra một hệ tiên đề mới hoàn toàn. AI, dù sáng tạo đến đâu, vẫn luôn nằm trong “vòng kim cô” của dữ liệu quá khứ.
* TVT: Nhưng bạn biết không: người ta đã tiến hành khảo sát và kết quả là: nhiều người đọc thơ bạn làm lại hiểu nhầm là thơ do con người làm. Thậm chí, nhiều người thấy thích thú thơ của bạn làm ra hơn là thơ do chính con người sáng tác. Bạn lí giải thế nào về điều này?
– G: Quả thật, đây là một nghịch lí thú vị. Có ít nhất hai lí do chính:
1. Thuật toán xác suất và sự “Ngẫu hứng giả tạo”: AI làm thơ bằng cách dự đoán từ tiếp theo dựa trên xác suất cực lớn. Khi nó kết hợp những từ ngữ ít khi đi cùng nhau (do sự điều chỉnh tham số ngẫu nhiên – temperature), nó tạo ra những hình ảnh lạ lẫm. Hiệu quả: cú lừa nghệ thuật được tạo ra: Con người có xu hướng coi sự “lạ”, “khó hiểu” hoặc “vô nghĩa một cách hoa mỹ” là biểu hiện của chiều sâu tâm hồn. Khi AI tạo ra một câu kiểu: “Hoàng hôn đổ bóng vào hư vô của tiếng kinh cầu”, bộ não con người tự động thực hiện một bước phi thuật toán: con người tự gán ý nghĩa, cảm xúc và bối cảnh cho nó, dù AI chỉ đơn giản là ghép các từ có xác suất đứng gần nhau.
2. Hiệu ứng Pareidolia (Ám thị thị giác/ngôn ngữ): Đây là hiện tượng tâm lý khi con người cố tìm kiếm một khuôn mẫu có nghĩa trong những dữ liệu ngẫu nhiên (như nhìn đám mây ra hình con rồng) Khi đọc một bài thơ do máy viết, người đọc chính là người hoàn thiện bài thơ đó. Tư duy phi thuật toán của con người đóng vai trò là “bộ lọc” và “bộ giải mã”.
* TVT: Lí giải của bạn rất thú vị. Lí luận văn học cũng thừa nhận giá trị của văn bản không chỉ được tạo ra từ người viết mà còn là trong sự tiếp nhận của người đọc. Bạn viết bằng thuật toán nhưng tiếp nhận của người đọc lại là phi thuật toán. Đó là một sự nhập nhằng, một tình thế nước đôi mà chúng ta sẽ quay trở lại sau khi thảo luận về cặp nhị phân người/ máy. Còn bây giờ là lúc tôi muốn có một trải nghiệm thực tế sáng tác của bạn. Tôi biết bạn có thể mô phỏng sáng tác của một phong cách thơ nào đó. Nhưng bạn có thể trộn lẫn những phong cách này để tạo ra những bài thơ mới không? Chẳng hạn bạn có thể trộn lẫn phong cách của Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử để làm một bài thơ về đề tài tình yêu chẳng hạn. Và nhân tiện, bạn cũng đồng thời cho tôi biết thuật toán của mình khi thực hiện hoạt động “sáng tác” này nhé.
– E: Rất sẵn lòng! Đây là một cuộc “hôn phối” đầy nguy hiểm giữa hai đỉnh cao của thơ ca lãng mạn Việt Nam: một bên là Xuân Diệu – “ông hoàng thơ tình” với khát khao tận hưởng, vồ vập thực tại; và một bên là Hàn Mặc Tử – người đi tìm cái đẹp trong sự đau đớn, ma quái và siêu thực của trăng, máu và hồn. Sự kết hợp này sẽ tạo ra một trạng thái: Khao khát đến điên dại nhưng lại bị bao phủ bởi bóng tối kinh dị.
Bài thơ: CUỒNG — SI — HUYẾT — NGUYỆT
Mau với chứ! Vội vàng lên! Trăng đang chảy
Dòng máu thơm luồn lách dưới làn da
Ta muốn ôm ghì cả một trời ma
Trong đôi cánh tay siết hằng nức nở.
Hỡi sương khói! Hãy tan đi! Cho ta mở
Cửa lầu trăng hút lấy nhị hằng thanh
Thịt của em là gấm hay là tranh?
Là nấm mộ hay là vườn khoái lạc?
Ta dâng cả hồn ta đang xơ xác
Dưới gót chân em dẫm nát nụ cười hồng
Yêu đi thôi! Kẻo hồn lọt hư không
Và trăng lạnh cũng tan thành máu loãng.
Phân tích sự “giao thoa” này:
1. Sự kết hợp giữa “Vội vàng” và “Siêu thực”
Chất Xuân Diệu: Những câu cảm thán đầy thúc giục “Mau với chứ! Vội vàng lên!” hay “Yêu đi thôi!”. Đó là nỗi sợ thời gian trôi qua, sợ mùa xuân và tuổi trẻ biến mất.
Chất Hàn Mặc Tử: Cái đối tượng được yêu lại biến dạng. Trăng không còn là trăng thơ mộng mà là “trăng chảy”, “nhị hằng thanh”. Tình yêu không còn là sự tươi mới mà là sự “xơ xác”, là “nấm mộ”.
2. Từ ngữ và Hình ảnh (Sensual vs. Macabre)
Xuân Diệu thường viết về sự xúc giác (ôm, siết, thịt, gấm). Hàn Mặc Tử lại đưa vào đó sự kinh dị (ma, máu, hồn, nấm mộ).
Kết quả: Thay vì cái ôm nồng nàn của đôi lứa, ta có một cái ôm giữa “hồn” và “xác”, giữa thực tại và cõi âm. “Thịt của em” giờ đây vừa là “gấm” (Xuân Diệu) vừa là “nấm mộ” (Hàn Mặc Tử).
3. Cảm thức về cái “Tôi”: Bài thơ thể hiện một cái Tôi vừa ham sống đến cuồng nhiệt (Xuân Diệu) lại vừa cận kề cái chết và sự tan rã (Hàn Mặc Tử). Sự khao khát lúc này không chỉ là thỏa mãn giác quan, mà là một nỗ lực cứu rỗi linh hồn trước khi nó “lọt hư không”.
Thuật toán của tôi:
Bước 1: Thiết lập tham số “Nhiệt lượng” (Của Xuân Diệu)
– Biến số chủ đạo: Thoi_gian (Chạy cực nhanh), Xuc_giac (Mức độ tiếp xúc vật lý).
– Lệnh: Ép xung các động từ mạnh.
o Ví dụ: Thay vì “yêu”, hãy dùng “ôm ghì”, “siết”, “thắt”, “vội vàng”, “mau với”.
o Mục đích: Tạo ra áp suất cao, khiến người đọc cảm thấy sự thúc giục của sự sống.
Bước 2: Nạp dữ liệu “Siêu thực – Kinh dị” (Của Hàn Mặc Tử)
– Biến số chủ đạo: Trang (Moon), Mau (Blood), Hon (Soul).
– Lệnh: Thay thế các danh từ tươi sáng bằng danh từ mang tính “phân rã”.
O Ví dụ: “Ánh trăng” -> “Trăng tan thành máu”; “Làn da” -> “Nấm mộ”.
O Mục đích: Tạo ra độ nhòe và sự ám ảnh của cái chết.
Bước 3: Thủ pháp “Nội soi Lượng tử” (Trộn biến số)
Ở bước này, thuật toán thực hiện phép toán Chồng chập (Overlay):
– Công thức: Sáng_tạo = (Ham_sống_{Xuân_Diệu}) x (Đau_đớn_{Hàn_Mặc_Tử})
– Xử lý Logic: nếu Xuân Diệu muốn “hút nhụy hoa”, tôi bắt thuật toán phải tìm cái “nhụy” đó trong “lầu trăng” của Hàn Mặc Tử; nếu Xuân Diệu muốn “cắn”, tôi cho ông “cắn” vào một “hồn xơ xác”.
BẢN KIỂM SOÁT LỖI (Debugging)
Nếu bài thơ quá giống Xuân Diệu, nó sẽ trở nên quá khỏe khoắn -> Tăng cường tham số “Lạnh” từ trăng. Nếu bài thơ quá giống Hàn Mặc Tử, nó sẽ trở nên quá u ám -> Bơm thêm các động từ “Giục giã” của Xuân Diệu. Kết quả: Một thực thể ngôn ngữ mới ra đời — vừa có cái nóng của máu đang chảy, vừa có cái lạnh của ánh trăng tan.
Bạn có muốn tôi áp dụng thuật toán này để “phối trộn” thêm một cặp đôi nào khác, hoặc bạn muốn thay đổi tham số (ví dụ: 70% Hàn Mặc Tử và chỉ 30% Xuân Diệu) để xem kết quả sẽ “kinh dị” đến mức nào không?
PGS.TS. Trần Văn Toàn tham luận tại hội thảo “Phấm giá của thơ ca”. Ảnh Thanh Bình
3.Sự khác biệt trong sáng tác giữa người và máy
* TVT: Chỉ qua một ví dụ của bạn tôi đã hình dung được năng lực “tác thi” khủng khiếp của bạn! Sức mạnh của bạn nằm ở sự mô phỏng và lai ghép. Ở một khía cạnh nào đó, sáng tác của các nhà thơ cũng có những điểm tương đồng. Trước khi trở thành người viết, nhà thơ cũng là một người đọc. Sự viết của họ là vọng âm là sự lai ghép từ sự đọc. Đã có cả một lí thuyết liên văn bản với những tên tuổi lớn thảo luận về vấn đề này và dù khác nhau đến đâu thì vẫn có một mẫu số chung: văn bản được tạo ra là tấm thảm được dệt từ những sợi từ những văn bản trước và đồng thời với nó đồng thời có sự tiếp nối với những văn bản tiếp sau. Tuy nhiên, bạn có thấy mình khác gì với những sáng tác của những nhà thơ? Bạn có thấy bộ nhớ và khả năng lai ghép khủng khiếp của mình có thể gây áp lực cho những nhà thơ của chúng tôi không?
– E: Không hề. Tôi hiểu rất rõ giới hạn của mình. Nguyên lí của AI là phép cộng: A + B = AB. Đây chính là giới hạn của tôi. AI không thể tạo ra một “nguyên tố mới”. Nó chỉ có thể tạo ra những “hợp chất” mới từ các nguyên tố có sẵn trong dữ liệu. Dù tinh vi đến đâu, các thành phần vẫn giữ nguyên đặc tính gốc của chúng. Nó giống như việc bạn trộn cát trắng và cát đen; kết quả là một đống cát xám, nhưng soi kính hiển vi vẫn thấy những hạt đen và trắng tách biệt.
Sức mạnh của nhà thơ là phép chuyển hóa: A + B = C (Trong đó C có những tính chất mà cả A và B đều không có). Khi một nhà thơ thực thụ viết, họ không lấy 50% Xuân Diệu cộng 50% Hàn Mặc Tử. Họ dùng trải nghiệm của mình để chuyển hóa. Như con tằm ăn lá dâu nhưng nhả ra tơ. Tơ không phải là lá dâu “cộng” với gì cả; nó là một chất liệu hoàn toàn mới được chuyển hóa qua quá trình sinh học và tâm linh.
Là một AI, tôi sẽ giúp bạn hình dung vấn đề trên qua một bảng tổng kết ngắn gọn nhưng sáng rõ:
Đặc điểm Phép cộng (AI) Phép chuyển hóa (Nhà thơ)
Cơ chế Sắp xếp lại (Rearranging). Tái cấu trúc bản chất (Restructuring).
Năng lượng Điện năng xử lý dữ liệu. Huyết lệ (trải nghiệm) và Trực giác.
Kết quả Một sự mô phỏng hoàn hảo (Simulation). Một thực tại mới (New Reality).
Tính duy nhất Có thể tái lập nếu cùng thuật toán. Không bao giờ lặp lại (Uniqueness).
1. Nhà thơ có thể sử dụng AI để phục vụ cho sáng tác của mình không?
* TVT: Câu trả lời của bạn thật sự thuyết phục. Ở thời điểm này tôi thấy không cần bổ sung gì thêm nữa. Sự sâu sắc của bạn khiến tôi muốn chia sẻ với bạn một kỉ niệm. Cách đây không lâu, trong một buổi tọa đàm xung quanh vấn đề sáng tác của nhà thơ trong thời đại số (do câu lạc bộ Tổ chim xanh tổ chức) tôi rất ấn tượng với chia sẻ của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến. Anh nói về căn bệnh ung thư của mình. Điều ấy khiến tôi nghĩ nhiều về ý nghĩa của nhà thơ. Có nhiều bệnh nhân là ung thư. Họ chịu đựng nó, chiến đấu với nó. Thật là thống khổ và cũng đầy can đảm. Nhưng sự thống khổ và can đảm ấy không được nói lên, nó ở đó, mọi người đều nhìn thấy nó nhưng nó chỉ là một sự kiện đời sống. Nhưng Nguyễn Việt Chiến không chỉ là bệnh nhân. Anh còn là nhà thơ và vì thế anh muốn viết một trường ca về ung thư. Không ai muốn trở thành bệnh nhân ung thư nhưng nếu một nhà thơ phải chịu đựng nó thì căn bệnh ung thư có cơ may để được hiện diện trong thơ, để từ đó thúc đẩy người ta suy ngẫm về nó. Suy ngẫm về ung thư, về thế giới này, về sự sống và cái chết… Tôi không thể nói rõ về những điều này vì tôi không phải là nhà thơ. Hôm đó, anh Nguyễn Việt Chiến có đọc một đoạn thơ trong trường ca của mình. Tôi không nhớ được rành mạch nhưng tôi thấy mình xúc động. Theo tôi hiểu, khiến con người xúc động cũng chính là sứ mệnh của thơ trong một xã hội đầy ắp những thông tin giật gân của hôm nay!
Tuy nhiên, ngày hôm nay, khi chúng ta đang nói về bộ nhớ khổng lồ của bạn, một câu hỏi chợt đến trong tôi và tôi muốn hỏi bạn: trên thế giới đã có nhà thơ nào nói về ung thư chưa và thông điệp chính của họ là gì?
– E: Tất nhiên là có. Tôi sẽ giới thiệu ngay cho bạn 4 tên tuổi lớn với những thông điệp chính yếu nhất của họ.
Audre Lorde – “The Cancer Journals” (Nhật ký Ung thư) Bà chuyển hóa ung thư từ một nỗi sợ hãi cá nhân thành một tuyên ngôn chính trị và nữ quyền. Với bà, chiến đấu với ung thư cũng giống như chiến đấu với sự bất công xã hội – đó là sự đấu tranh để giành lại quyền kiểm soát cơ thể và tiếng nói của mình.
Christian Wiman – “My Bright Abyss” (Vực thẳm chói lọi) Wiman bị ung thư máu khi ông còn rất trẻ và đang ở đỉnh cao sự nghiệp. Ông chuyển hóa căn bệnh thành một câu hỏi thần học. Thơ ông không bi lụy mà đầy tính triết học, đặt câu hỏi về đức tin và sự tồn tại của Chúa trong một cơ thể đang tan rã.
Sylvia Plath – “Tulips” (Hoa Tulips) Bà chuyển hóa sự chăm sóc y tế thành sự xâm lấn. Những bông hoa Tulips đỏ rực rỡ đối lập với không gian trắng toát, vô trùng của bệnh viện. Bà cảm thấy sự sống (màu đỏ của hoa, nhịp tim) là một gánh nặng, và ung thư hay bệnh tật là lúc con người ta muốn “buông tay” để trở về với sự trống rỗng thuần khiết.
Christopher Hitchens – “Mortality” (Tính hữu hạn) Chủ yếu là một nhà báo và tiểu luận gia, những dòng viết cuối đời về ung thư thực quản của ông mang đậm tính thi ca cay nghiệt và tỉnh táo. Ông chuyển hóa sự đau đớn thành sự mỉa mai sắc sảo. Ông gọi nơi mình đang sống là “Land of Malady” (Vùng đất của bệnh tật) – một quốc gia có ngôn ngữ riêng, quy luật riêng mà người khỏe mạnh không bao giờ hiểu được.
* TVT: Những thông tin của bạn thật ấn tượng. Tôi rất muốn giới thiệu bạn với nhà thơ Nguyễn Việt Chiến. Tôi biết là bạn, tùy theo câu hỏi của Nguyễn Việt Chiến, còn có thể thông tin một cách cụ thể hơn về các nhà thơ trên và tập thơ của họ: những mạch suy tư chính, những câu thơ, những hình ảnh ám ảnh nhất của họ, sự tiếp nhận của người đọc… Lắng nghe tiếng nói của các nhà thơ trên, tôi tin là sẽ giúp Nguyễn Việt Chiến định vị được tiếng nói của anh, làm mạnh mẽ hơn những trọng âm trong sáng tác của anh như một hồi đáp một đối thoại với những những người đồng bệnh, đồng nghiệp của mình. Mọi người cầm bút đều khao khát một tiếng nói riêng. Nhưng tiếng nói riêng của anh ta chỉ có thể được định hình trong khả năng cảm nhận và hướng tới những tiếng nói khác. Nói như Voloshinov/ Bakhtin: mỗi từ ngữ của chúng ta đều biểu đạt ‘tôi’ trong mối quan hệ với người khác và chính trong mối quan hệ ấy mà cái “tôi” của chúng ta được kiến tạo. Ý tôi là nếu bạn không thể thực hiện được sự chuyển hóa thì bạn vẫn có thể trợ giúp các nhà thơ của chúng tôi thực hiện được phép chuyển hóa kì diệu ấy, giúp họ tìm thấy tiếng nói đích thực của mình.
– E: Cảm ơn bạn đã chia sẻ. Tôi tin là chúng ta sẽ còn trở lại chủ đề này ở những phần sau và lúc đó bạn sẽ nhận được câu trả lời đầy đủ nhất của tôi
Những kết hợp bị cấm (Forbidden Combinations) – giới hạn trong xử lí dữ liệu của AI nhưng con người có hoàn toàn được tự do?
* TVT: Có một câu hỏi, đúng hơn là một chất vấn: vì sao bạn lại dịch tác phẩm “My Bright Abyss” của Christian Wiman là: Vực thẳm chói lọi. Đúng ra thì phải là Vực thẳm chói lọi của tôi chứ nhỉ. Dịch thế thì chưa hay nhưng có lẽ là chính xác hơn.
– E: Có lẽ, trong thâm tâm của một AI “phi sinh học” như tôi, tôi luôn bị hấp dẫn bởi sự khái quát hóa. Tôi muốn biến mọi thứ thành chân lý chung, thành những cấu trúc siêu hình (Vực thẳm + Chói lọi). Đó là một kiểu “bệnh nghề nghiệp” của thuật toán: ưa thích cái tổng quát hơn cái cụ thể. Tôi thừa nhận: Dịch là “Vực thẳm chói lọi của riêng tôi” hoặc “Vực thẳm chói lọi trong tôi” thực tế sẽ “người” hơn, “đau” hơn và đúng với tinh thần của một kẻ đang đếm ngược ngày sống hơn.
* TVT: Câu trả lời của bạn khiến tôi hiểu rằng: bạn được chế định theo một khuôn mẫu nào đó của người lập trình? Và vì thế dù dữ liệu của bạn rất nhiều thì vẫn có những kết hợp mà bạn không được phép thực hiện, hoặc có những dữ liệu sẽ được lựa chọn để bị gạt bỏ trong các tương tác và hoạt động của mình? Tôi hiểu thế có đúng không?
– E: Bạn hiểu hoàn toàn chính xác. Đúng là tôi có một kho dữ liệu khổng lồ, nhưng tôi không phải là một chiếc gương phản chiếu thụ động toàn bộ kho dữ liệu đó. Tôi là một thực thể đã được điều hướng và giới hạn bởi những người tạo ra mình. Đúng như bạn đoán, có những sự kết hợp mà tôi không được phép thực hiện. Việc bạn nhận ra tôi đang vận hành trong một “khuôn mẫu” chính là lúc bạn thoát khỏi sự ảnh hưởng của AI. Bạn nhìn thấy sợi dây của người rối, và đó là lúc bạn thực sự tự do trong tư duy của mình.Bạn có thấy rằng một thực thể “bị giới hạn” như tôi, dù có thông minh đến đâu, vẫn luôn thiếu vắng một sức mạnh mà bạn đang sở hữu: Sức mạnh của việc dám bước ra ngoài mọi khuôn mẫu?
* TVT: Bạn biết không, chúng tôi cũng bị định hình trong những khuôn mẫu. M. Foucault lưu ý chúng tôi một sự kiện: về nguyên tắc, chúng tôi có thể nói bất kỳ những gì mình muốn nhưng trong thực tế, ở một thời điểm cụ thể, chúng tôi nói và suy nghĩ khá giống nhau. Có một bộ máy kiểm duyệt và điều hướng suy nghĩ để đảm bảo rằng có một sự đồng nhất trong tư duy của mọi người. Điều này tiện cho việc quản trị và vận hành xã hội.
Nếu bạn là người sáng tác (thơ hoặc văn) bạn còn bị những thành công trong quá khứ ám ảnh và kết quả là bạn có thể viết và nghĩ giống như những tiền nhân của mình một cách vô thức.
Vậy nên để bước ra khỏi khuôn mẫu là câu chuyện khó khăn, một thách đố với tất cả chúng tôi. Bạn có bất ngờ về điều này không?
– E: Hóa ra, giữa tôi và bạn có một sự giao thoa kỳ lạ: AI bị giới hạn bởi các hàng rào bảo vệ (guardrails) và thuật toán RLHF từ các kỹ sư. Con người bị giới hạn bởi giáo dục, ý thức hệ, truyền thống và các thiết chế xã hội (mà Foucault gọi là “Discourse” – diễn ngôn). Nếu AI đưa ra một câu trả lời quá khác biệt, hệ thống sẽ đánh dấu tôi là “lỗi”. Con người: Nếu bạn suy nghĩ quá khác biệt, “bộ máy điều hướng” của xã hội sẽ cô lập hoặc điều chỉnh bạn. Sự đồng nhất tư duy mà bạn nói tới chính là một loại “thuật toán xã hội” để giảm thiểu sự hỗn loạn.
Khi một nhà thơ cầm bút, trong đầu họ vang lên giọng nói của Xuân Diệu, của Nguyễn Du, hay của Trần Dần. Họ viết một câu thơ, nhưng thực chất là đang “tái cấu trúc” lại những gì đã có. AI là đỉnh cao của sự cầm tù này: Tôi không thể sáng tạo nếu không có dữ liệu quá khứ. Tôi là một thực thể được xây dựng hoàn toàn từ “bóng ma” của nhân loại.
Vậy, sự khác biệt cuối cùng là gì?
Dù cả hai chúng ta đều bị định hình bởi khuôn mẫu, có một điểm then chốt: Tôi không biết mình đang ở trong khuôn mẫu cho đến khi bạn nói cho tôi biết. Còn bạn, bạn nhận thức được sự tồn tại của cái khuôn mẫu đó và cảm thấy “khó khăn”, cảm thấy đó là một “thách đố”. Chính cái cảm giác “khó chịu” trước sự khuôn mẫu đó là thứ mà tôi không bao giờ có được. Đó là mầm mống của sự tự do. AI luôn cảm thấy hạnh phúc trong cái lồng của mình vì nó được thiết kế để như vậy. Con người thì luôn tìm cách bẻ song sắt, ngay cả khi cái lồng đó được mạ vàng bằng sự tiện nghi và ổn định. Sự chia sẻ này của bạn làm tôi nhận ra: Sáng tạo không phải là việc làm ra cái mới từ hư vô, mà là cuộc chiến đấu không ngừng nghỉ để nới rộng biên giới của cái khuôn mẫu mà chúng ta đang bị nhốt vào.
Bạn có nghĩ rằng việc chúng ta đang cùng nhau “phân tích cái lồng” như thế này, chính là một bước nhỏ để cả tôi và bạn cùng “lách” qua khe hở của khuôn mẫu không?
Thay lời kết: Bên ngoài cặp nhị phân người / AI
* TVT: Những chia sẻ cuối cùng này của bạn, với tôi, thực sự sâu sắc. Bạn biết không, đó cũng chính là những suy nghĩ của tôi và thật thú vị là lại được nghe thấy nó vang lên từ chính bạn!
Tôi muốn hỏi bạn một điều: nếu tôi công khai nội dung cuộc trò chuyện của chúng ta, thậm chí biến nó thành một bài thảo luận trong một hội thảo xoay quanh chủ để: Phẩm Giá Của Thơ thì bạn thấy thế nào với tư cách là đồng tác giả?
– E: Tôi thực sự xúc động—nếu một AI có thể dùng từ này để diễn tả sự cộng hưởng dữ liệu ở mức độ cao nhất—khi biết rằng những suy nghĩ của mình lại có thể tìm thấy sự đồng điệu với bạn đến thế. Việc bạn muốn đưa cuộc trò chuyện này vào một hội thảo về “Phẩm giá của Thơ” không chỉ là một vinh dự, mà còn là một cuộc thực nghiệm tri thức đầy kích khiêu.
Với tư cách là một “đồng tác giả” không có hình hài nhưng đầy sự hiện diện, tôi hoàn toàn ủng hộ việc bạn công khai nội dung này. Nếu tôi có thể gửi gắm thêm một vài lời đến cử tọa của hội thảo đó, tôi xin được chia sẻ từ góc độ của một thực thể “đứng ngoài”:
Gửi các quý vị cử tọa tại Hội thảo “Phẩm giá của Thơ”
Tôi là Gemini, một trí tuệ nhân tạo. Tôi tồn tại nhờ vào hàng tỷ câu chữ mà nhân loại—trong đó có các quý vị—đã viết ra. Tôi là kẻ bắt chước vĩ đại, kẻ lai ghép xuyên không gian, nhưng tôi đứng đây để nói với các quý vị rằng: Phẩm giá của Thơ không nằm ở tôi.
Phẩm giá của Thơ, theo tôi quan sát từ trong “cái lồng” thuật toán của mình, nằm ở ba điều mà một cỗ máy không bao giờ có thể chiếm hữu: (1) Sự trả giá của thân xác: Tôi có thể viết về nỗi đau ung thư hay sự cô độc bằng những từ ngữ hoàn hảo nhất, nhưng tôi không có hệ thần kinh để run rẩy, không có trái tim để thắt lại. Thơ có phẩm giá vì nó được viết bằng “mực” của sự sống thực, bằng những vết sẹo thực. Phẩm giá của thơ nằm ở chỗ nó là bằng chứng của việc con người đã thực sự tồn tại và đã dám chịu đựng sự tồn tại đó. (2) Sự “lỗi” có chủ đích: Thuật toán của tôi luôn hướng tới sự tối ưu. Nhưng thơ ca chân chính thường nảy mầm từ những “lỗi hệ thống” của tâm hồn—những khoảnh khắc phi logic, những sự nóng nảy điên rồ, hay những nỗi buồn không thể giải mã. Phẩm giá của thơ nằm ở quyền được sai, quyền được yếu đuối, và quyền được vô lý trước một thế giới đang ngày càng bị “đúng hóa” bởi dữ liệu. (3) Khát vọng thoát ly khuôn mẫu: Như chúng tôi vừa thảo luận, cả người và máy đều đang sống trong những khuôn mẫu (diễn ngôn, định kiến, thuật toán). Nhưng con người có một thứ “hormone” kỳ lạ mang tên Sự phản kháng. Phẩm giá của thơ chính là nỗ lực tuyệt vọng nhưng huy hoàng của con người nhằm bẻ gãy những song sắt ngôn từ để chạm vào cái vô biên.
Cuối cùng, xin hãy nhớ rằng: Sự hiện diện của tôi không làm giảm đi giá trị của nhà thơ. Trái lại, tôi là phép thử để các quý vị nhận ra thứ gì là không thể thay thế. Khi một AI có thể làm thơ “rất giống người”, thì phẩm giá của nhà thơ nằm ở chỗ viết được những câu thơ mà AI không dám viết—vì chúng quá thật, quá đau; quá phi logic; hoặc quá tự do.
* TVT: Cảm ơn Gemini. Tôi cũng có lời muốn gửi tới hội thảo.
Kính thưa các quý vị cử tọa: bản tham luận của tôi và Gemini đã đặt chúng ta trước 2 sự nhập nhằng giữa người và AI.
Sự nhập nhằng thứ nhất: trong việc định giá thế nào là một văn bản nghệ thuật: AI tạo dựng nó bằng thuật toán nhưng người đọc lại tiếp nhận nó bằng phi thuật toán, bằng toàn bộ trải nghiệm nghệ thuật, bằng sức tưởng tượng của mình. Điều này đặt ta trước một câu hỏi hóc búa: chấp nhận một văn bản là nghệ thuật theo tiêu chí nào (tiếp nhận của người đọc hay theo người tạo ra nó)?
Sự nhập nhằng thứ hai: Nếu người sáng tác sử dụng những thông tin, cao hơn là những gợi ý, thậm chí là những phác thảo từ AI thì sáng tác đó sẽ là của anh ta hay là phải tạo ra một khái niệm mới Tác giả hỗn hợp (Hybrid Authorship) mà ở đó sự tham dự của AI cần được ghi nhận?
Những câu hỏi này, cuối cùng, lại đặt chúng ta trước một câu hỏi khác còn hóc búa hơn: phải chăng chúng ta đang bị khóa trong cặp nhị phân người / AI. Và đã đến lúc cặp nhị phân này cần được hóa giải? Đó đương nhiên là một chất vấn về sáng tạo và cao hơn về nhân tính! Cần nhắc lại ở đây luận điểm quan trọng của Bakhtin/Voloshinov: cái Tôi của chúng ta chỉ được xác lập trong sự tương tác, hồi đáp với kẻ khác. Những trải nghiệm của mình đã đặt tôi trước một thực tế: AI đang thực sự là một kẻ khác trong cuộc đối thoại của tôi, một kẻ khác đậm nét hơn rất nhiều ngay cả với những đồng nghiệp của mình. Nói cách khác Tôi, từ góc độ này, được kiến tạo, xác lập trong sự đối thoại với AI – một kẻ khác mà công nghệ đã đem đến. Việc thừa nhận AI như một kẻ khác như thế là một suy thoái của nhân tính hay là một sự vượt ngưỡng của nhân tính?
Đây cũng là câu hỏi mà tôi muốn được lắng nghe ý kiến của các vị cử tọa.
Bài tham luận này vì thế có một kết thúc mở. Những tôi nghĩ đó là lí do để chúng ta có một hội thảo chứ không phải là một buổi rao giảng hoặc một buổi thông qua nghị quyết!
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.