TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ - VỊ QUAN THANH LIÊM KIÊN QUYẾT CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ - VỊ QUAN THANH LIÊM KIÊN QUYẾT CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
TỪ: Vanvn- Cập nhật ngày: 27 Tháng tư, 2025 lúc 10:45
Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, danh thần Trương Đăng Quế sinh ngày 1.11.1793, nổi tiếng là vị quan thanh liêm, chính trực, được các đời vua nhà Nguyễn trọng dụng.
Trương Đăng Quế có tên chữ là Diên Phương, hiệu là Đoan Trai, biệt hiệu là Quảng Khê. Ông là danh thần trải 4 triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Trong 43 năm làm quan, có 20 năm ông giữ trọng trách lớn (có hai lần nhận di chiếu tôn phò vua mới). Ngoài ra, ông còn là nhà thơ, nhà sử học, là thầy học của vua Thiệu Trị và một số quý tộc nổi tiếng khác, trong đó có Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương.
Trương Đăng Quế là người làng Mỹ Khê, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Tổ tiên của ông ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, theo Nguyễn Hoàng vào cư trú tại Quảng Ngãi năm 1624. Năm lên 9 tuổi, ông mồ côi cha, vì là cậu bé chăm chỉ, thông minh, hiền lành nên được anh chị em thương yêu đùm bọc. Năm Gia Long thứ 18 (Kỷ Mão – 1819), ông đỗ hương tiến (tức cử nhân, đây là học vị cao nhất lúc bấy giờ). Theo sử sách triều Nguyễn thì ông chính là người “đầu tiên” ở Quảng Ngãi đạt được học vị này. Tuy chỉ đỗ cử nhân nhưng ông thông suốt kinh sách, có tài thơ văn.
Trương Đăng Quế được bổ chức Hành tẩu bộ Lễ, một chức quan nhỏ chuyên về văn thư. Năm 1820, đời vua Minh Mạng, sau 1 năm tập sự ở bộ Lễ, vì có tiếng học hành và được 1 quan đại thần tiến cử, Trương Đăng Quế được bổ làm Đông cung bạn độc, tức là cùng học với các hoàng tử. Đó là cách nói khác của công việc dạy các hoàng tử học. Trong thời kỳ này, ông được gặp và gần gũi hoàng tử Miên Tông, sau này lên làm vua (tức là vua Thiệu Trị). Sau một thời gian, ông được bổ chức Thượng bảo thiếu khanh với phẩm trật tòng tứ phẩm.
Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), ông được bổ chức Tả thị lang bộ Công làm ở Nội các, tức văn phòng của vua, được gần vua, cùng vua bàn bạc và đề ra những quyết sách liên quan đến cả nước. Cũng trong thời gian này Trương Đăng Quế được đổi bổ làm Tả thị lang bộ Lễ, vẫn làm việc ở Nội các. Tháng 12.1831, ông được thăng chức và điều chuyển từ Tả thị lang bộ Lễ sang làm Tả tham tri bộ Hộ, rồi sau đó lại được điều động về coi việc ở Võ Khố là kho quân sự nhà nước, quản lý phần lớn tài sản nhà nước.
Mùa xuân năm 1832, nhà vua lại điều ông về giữ quyền án triện bộ Hộ, chính thức là Tả tham tri bộ Hộ. Chức Tả tham tri chỉ đứng sau Thượng thư. Cũng năm này, Trương Đăng Quế được thăng chức Thượng thư bộ Binh kiêm lãnh ấn triện viện Đô sát. Đến mùa đông thì ông chính thức làm Thượng thư bộ Binh kiêm trông coi tài chính. Năm 1841 niên hiệu Thiệu Trị thứ nhất, Trương Đăng Quế là cố mệnh đại thần được thăng làm Phụ chính đại thần, Văn minh Viện Đại học sĩ, phẩm hàm chánh nhất phẩm. Tháng 12 cùng năm, ông lại được vua Thiệu Trị sung chức Ngự tiền đại thần. Đến năm 1847, vua Tự Đức cho Trương Đăng Quế thăng chức Cần chánh đại học sĩ, tấn phong tước Tuy Thạch quận công.
Trương Đăng Quế là vị quan thanh liêm, trung thành giúp vua Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883) và là người tận tâm, tận lực với công việc của triều đình. Về việc chống thực dân Pháp, Trương Đăng Quế đã đứng về phe chống đối hòa ước Nhâm Tuất (ngày 5.8.1862). Chính ông là người đã bác bỏ đề nghị của khâm sai Nguyễn Bá Nghi. Ông kiên quyết chống thực dân Pháp dù khi đó có tin rằng đồn Chí Hòa và thành Mỹ Tho bị thất thủ. Đầu năm Tân Dậu (1861), ông đã gián tiếp ủng hộ các lực lượng kháng chiến chống thực dân Pháp do Bình Tây Đại nguyên soái Trương Công Định cầm đầu.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.