TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Thi hữu
NHÌN CÂY XANH THÀNH PHỐ VẮNG TRÚC THÔNG
NHÌN CÂY XANH THÀNH PHỐ VẮNG TRÚC THÔNG
thanh thảo
Vào 6g33p sáng ngày 26 tháng 12 năm 2021, nhà thơ Trúc Thông đã lặng lẽ vĩnh biệt những hàng cây xanh, vĩnh biệt “Bờ sông vẫn gió” mà anh thương yêu gần như suốt cả đời mình. Anh vĩnh biệt người vợ tần tảo đã chăm nuôi mình bao nhiêu năm và những đứa con yêu dấu của mình. Vĩnh biệt cả những người bạn thơ đã yêu quí mình cả tuổi trẻ từ chiến tranh sang hòa bình.
Nhà thơ Trúc Thông
Nhà thơ Thanh Thảo
Tôi còn nhớ, ngày chúng tôi học ở Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội sơ tán tận suối Đôi, xã Vạn Thọ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Trúc Thông học trên tôi một lớp, nhưng anh là bộ đội phục viên, nên hơn bọn học sinh chúng tôi nhiều tuổi. Và hơn chúng tôi khi thơ anh đã được đăng trên báo Văn Nghệ. Có cảm giác, anh đã là nhà thơ ngay từ hồi còn ngồi trên ghế nhà trường. Chúng tôi ở gần nhau sát chân núi, nên hàng ngày, vẫn gặp Trúc Thông đi ngang qua nhà, vừa đi vừa lẩm nhẩm đọc thơ. Sau này, khi may mắn tôi thành bạn của Trúc Thông, chơi cùng nhau mới hiểu, với Trúc Thông, Thơ là một cõi thiêng liêng nhất. Đó là người sùng bái Thơ suốt cuộc đời mình. Và mỗi khi Trúc Thông làm thơ, có cảm giác anh đang hành lễ.
Ngày ấy, khoảng năm 1967, tôi vẫn nhớ bài thơ Trúc Thông từ nơi sơ tán viết về Hà Nội:
“Hà Nội ơi tôi yêu dưới đáy hồ lưỡi kiếm
Những thế hệ cầm soi không thẹn với cha ông
Yêu một sớm mưa người đi thưa thớt
Nhìn cây xanh thành phố bỗng đông hơn”
Ngày ấy, người Hà Nội chủ yếu đi bộ, thỉnh thoảng có đi xe đạp. Trong buổi sáng mưa nhẹ, người đi ít, tự nhiên Trúc Thông viết câu thơ xuất thần: “Nhìn cây xanh thành phố bỗng đông hơn”. Bỗng chốc ấy, cây xanh Hà Nội đã hóa thành người, khiến đông đúc hơn cho một thành phố sơ tán, khi công dân thành phố chỉ chờ nghe còi báo động.
Trúc Thông là nhà thơ yêu tha thiết những hàng cây trên các phố Hà Nội, mỗi phố lại trồng một loại cây, mà loại cây nào cũng đẹp, cũng đáng yêu, như những con người. Anh với tôi đã từng đạp xe tới 12 giờ đêm qua các phố Hà Nội vắng người, chỉ để gặp lại những hàng cây cơm nguội, cây sữa, cây bàng, cây sấu và nhiều loại cây khác. Chúng tôi giống nhau ở chỗ cùng yêu cây xanh, coi cây xanh như bạn.
Sau này, khi thân mẫu Trúc Thông qua đời, anh đã công bố một bài thơ khóc mẹ không thể giản dị hơn. Nhưng bài thơ ấy là chắt chiu cả đời thơ Trúc Thông yêu thương mẹ mình, và tự nhiên, đó là một bài thơ cổ điển.
Trúc Thông là người cực kỳ yêu thơ tới mức như khó tính. Đó là một tình yêu hoàn toàn dâng hiến, một tình yêu nên tốt. Anh không muốn mình lặp lại dù một câu thơ đã viết, kể cả đó là câu thơ hay. Tự khó tính với sáng tạo của mình, Trúc Thông đã trở thành một nhà thơ cổ điển ngay khi còn đang sống và sáng tác. Nhưng từ nhiều năm nay, anh đã phải ngừng sáng tác sau lần đột quị rất nặng. Từ lúc ấy, thơ chỉ còn là bạn của anh trong vô thức. Khóc anh, tôi muốn đưa lại chính bài thơ anh đã viết để khóc mẹ mình, bài “Bờ sông vẫn gió”:
BỜ SÔNG VẪN GIÓ
Lá ngô lay ở bờ sông Bờ sông vẫn gió Người không thấy về Xin người hãy trở về quê Một lần cuối... một lần về cuối thôi Về thương lại bến sông trôi Về buồn lại đã một thời tóc xanh Lệ xin giọt cuối để dành Trên phần mộ mẹ vương hình bóng cha Cây cau cũ, giại hiên nhà Còn nghe gió thổi sông xa một lần Con xin ngắn lại đường gần Một lần... rồi mẹ hãy dần dần đi
Hôm nay, mưa gió mùa vẫn lướt nhẹ trên những hàng cây Hà Nội, và bờ sông vẫn gió, Trúc Thông ơi! Xin vĩnh biệt một người bạn hơn tôi 6 tuổi, một người bạn đã cùng tôi đạp xe qua nhiều đêm Hà Nội chỉ để tâm sự về Thơ, chỉ để uống với nhau mấy chén nước chè vỉa hè. Chúng tôi đã có với nhau một quá khứ yêu Thơ như sùng kính. Đó là thời đẹp nhất của chúng tôi.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.