Ngực rỗng như cánh đồng hút gió/ con đường đất hanh hao chớm đông/ mùa đã chạy dài trên sông/ chỉ mình tôi ở lại/ tôi sẽ gom những bông lúa nặng hạt cúi đầu rụng vào khoảng tối/ gom những ngày ăn đong/ cởi áo quần lội giữa dòng sông/vẫn không tìm được bóng mình/ năm ấy/ chuông chùa buồn khan như lời hẹn cài then vào gió/ ni cô bỏ mõ/ đeo khăn von/lấy chồng.
Có nhiều giai thoại kể về sức mạnh mà thơ của Phạm Tiến Duật mang lại cho người lính nơi tuyến lửa, đặc biệt là những người lính đang hành quân trên dãy Trường Sơn để vào chi viện cho miền nam, tuyến đường mà ông cũng từng tham gia với tư cách một người lính vận tải.
Buốt dưới bàn chân là đá biên thùy/ Xòa trên tóc là mây ải Bắc/ Người ta muốn quên đã không trở lại/ Người đâu thể nhớ cũng đã thiên di/ Tiếng đàn bước qua tàu lá chuối non/ Khuya khoắt/ lạnh lùng trinh bạch.
Con cheo, con hoẵng đi về hút sâu đáy vực/ con dúi, con trăn đã ngủ trong nhà của nó/ rao rảo chiều bầy vẹt/ ngô hạt rơi rơi lưa thưa dọc suối/ tán cây vô hình mờ hiện/ một đường cong/ rũ xuống vai rượi mát năm nào…
Ngày 23/11/2022 là kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người luôn được gọi với tên thân mật, thân thiết là bác Sáu Dân. Một con người đã suốt đời vì dân, vì nước, đúng như bí danh hoạt động cách mạng của mình.
Truyện, phim, thậm chí kịch có thể viễn tưởng. Thì thơ cũng vậy. Không chỉ ở Việt Nam loại thơ này mới xa lạ mà ở Úc hay New Zealand cách đây chưa lâu, vẫn có người không tin nó tồn tại. Được nhà thơ Úc Joe Dolce cho xem hai sáng tác viễn tưởng của ông, tôi nhận ra mình cũng từng viết kiểu đó.
Vẫn nguyên vẹn trong tôi khoảng trời man dại ấy/ Có ve kêu, phượng cháy bập bùng/ Có cô Tấm, có mẹ con nhà Cám/ Có Thạch Sanh và cũng có Lý Thông…// Tuổi bốn mươi, đời không là trang sách/ Trong khổ đau, Bụt chưa hiện bao giờ/ Chẳng vì thế ta hoài nghi cổ tích/ Và phàn nàn rằng đã trót yêu thơ.
Mỗi lần đi sai không đủ thời gian quay lại// Ngã tư đèn đỏ bật lên/ Già trẻ, lạ quen, sang hèn… đều dừng// Đường đời không có đèn tín hiệu/ Biển chỉ dẫn chẳng ghi dòng cảnh báo/ Mình tự nhắc mình đến ga cuối mới dừng chân
Chẳng đi về đâu thiên thu cũng đến mùa thay lá/ Chẳng mang theo dấu chiều hôm hẹn buổi tái sinh/ Lặng lẽ người trong trăm năm hòa quên lãng/ Lặng lẽ trần gian rót cạn cốc rượu cay/ Khoát lên người cái nhớ đem giữ bàng bạc nào xa lắc/ Tìm đắp cho một vầng trăng lỡ chuyến bể dâu.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.