TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
AI LÀ TÁC GIẢ? -Tiểu luận TRẦN VĂN THẬN
AI LÀ TÁC GIẢ? -Tiểu luận TRẦN VĂN THẬN
TRẦN VĂN THẬN
(1927 - 2008 )
Quê quán: Hành Thịnh, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi
Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi
Nguyên Giảng viên đại học
***
Núi Ấn sông Trà (Nguồn: Internet)
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số tác phẩm văn học không để tên tác giả. Thời gian lại vô tình phủ thêm lớp bụi mờ khiến cho tình trạng “râu ông cắm cằm bà” xảy ra không ít trong lịch sử văn học Việt Nam. Không xa lắm, một số tác phẩm ra đời vào đầu thế kỷ XX này cũng ở trong tình trạng trên. Thiết tưởng đã đến lúc các nhà nghiên cứu phải lên tiếng để xóa dần những “tranh chấp” không đáng có. Tôi xin nêu một trường hợp: Ai là tác giả đôi câu đối tạm mệnh danh là “Ông” và “Tôi”?
Trong tác phẩm “Chuyện các ông hoàng triều Nguyễn” do Nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế, tái bản lẩn thứ ba - 1995, trang 21; chuyện “Ông” và “Tôi” tác giả Nguyễn Đắc Xuân kể lại chuyện Khải Định, một ông vua bù nhìn, qua đời năm 1925 lúc mới hơn 40 tuổi. Trong dịp này có rất nhiểu trướng liễn gửi đến phúng điếu trong đó có một bức làm cho cả hoàng gia và quan lại Nam triểu sững sốt vì như tác giả đã biết: thủ tiêu thì không được mà treo lên thì xấu mặt cho người quá cố vô cùng! Nội dung bức trướng được tác giả viết lại đầy đủ như sau:
“Ông vội bỏ đi đâu; bỏ bạc, bỏ tiền, bỏ vợ, bỏ con, bỏ hát bội thầy tu, bỏ hết trần duyên trong một lúc”.
“Tôi nay còn lại đó, còn trời, còn đất, còn nước, còn non, còn anh hùng hào kiệt,còn nhiều vận hội giữa năm châu”.
Về tác giả của đôi câu đối, anh Nguyễn Đắc Xuân viết tiếp: “căn cứ vào nội dung, triều đình đã tìm ra được tên tuổi người gửi. Người đó không ai khác là vua Duy Tân đang bị đày ở đảo Ré-uy-ni-ong”.
Chắc độc giả đều thấy băn khoăn trựớc hai chữ “người gửi” không rõ anh Nguyễn Đắc Xuân có dụng ý hay không, vì “người gửi” có thể là tác giả, nhưng cũng có thể chỉ là người nêu ra ý hướng rồi nhờ người khác sáng tác, mình chỉ còn làm việc chuyển gửi.
Ngược lại với một thái độ khẳng định hoàn toàn, Lê Hồng Khánh trong tập “Thơ ca yêu nước cách mạng Quảng Ngãi (1885 - 1945)” do Phòng Văn hóa - Thông tin thị xā Quảng Ngāi xuất bản 1996; ở phẩn tác giả Lê Đình Cẩn đã tuyển chọn và in 3 bài “Tâm sự”, “Tư than" và câu đối “Điếu Nguyễn Thân” . Trong “Điếu Nguyễn Thân”, Lê Hồng Khánh đã chép lại nguyên văn câu đối:
“Tôi còn ở lại, còn trời, còn đất, còn nước, còn non, còn kẻ tài, còn người trí,còn anh hùng, còn hào kiệt, còn nhiều sự nghiệp với muôn thu”.
Sau đó Lê Hồng Khánh viết tiếp như một lời ghi chú: Nghe Nguyễn Thân chết, ông nói: “Đáng tiếc, con sâu đó nó lại chết trước mình, chưa kịp lấy máu nó mà rữa nhục cho non sông nòi giống” (trang 15 - 18). Không rõ khi sưu tầm tuyển chọn Lê Hồng Khánh có dựa vào “câu đối phúng” của Thế Kỷ - Hà Thanh trong tập “Quảng Ngāi giai thoại truyển thuyết”(1) hay không? Nhưng nội dung câu đối ở hai tác phẩm nói trên giống nhau hoàn toàn, trong từng lời, từng chữ. Tuy trong “Quàng Ngãi giai thoại, truyền thuyết" có vẻ thận trọng hơn trong việc khẳng định ai là tác giả đôi câu đối, khi viết dưới dạng truyền thuyết: “Các cụ nho học truyền với nhau...” rồi các cụ khẳng định: “Khí văn đó là khí văn của cử Cẩn”. Thế là dù đã khẳng định hay chưa hoàn toàn khẳng định nhưng đã có ít nhất hai tác giả và hai tác phẩm được in ấn, xuất bản hẳn hoi cho đôi câu đối đó là của ông Lê Đình Cẩn(2) - một chí sī yêu nước của tỉnh Quảng Ngãi. Nhưng trong khoa học không có chuyện hai người đúng hơn một người, vấn đề quyết định là ở chỗ phải đủ bằng chứng hoàn toàn tin cậy. Thế thì ai là tác giả đích thực của đôi câu đối đó?
Trước tiên cần nói rằng Nguyễn Đắc Xuân cũng như Lê Hồng Khánh đều có cơ sở khi cho tác giả câu đối là của vua Duy Tân hay của Lê Đình Cẩn - những người yêu nước được nhân dân ta kính trọng - làm ra nhằm mục đích phúng thích, châm biếm, mỉa mai đối với Khải Định hoặc Nguyễn Thân - những tên bù nhìn, bán nước đáng vạch tội và lên án. Chính chỗ tương đồng này đã tạo nên sự lầm lẫn khó tránh khỏi của những người nghiên cứu.
Để từng bước đi đến chân lý, chúng ta thử nêu một vài giả thuyết: - Có phải chăng đó là hai câu đối khác nhau, do hai người sáng tác hoàn toàn không có liên quan gì với nhau, bằng chứng là giữa hai câu dài ngắn có khác nhau, có vài chi tiết khác nhau (“bỏ hưu bổng, bỏ lộc điển” và vế sau “còn anh hùng, còn hào kiệt”), đặċ biệt là mức độ phúng thích rõ ràng khác nhau (“bỏ hết trần duyên trong một lúc”: nhẹ nhàng) còn “bỏ hết trần duyên rồi một kiếp”: sâu cay như một lời chửi). Quả thật giữa hai câu có những khác biệt đó nhưng đó cũng chỉ là hiện tượng “đại đồng tiểu dị”'. Trong lịch sử văn học nước ta cũng như thế giới, có sự giống nhau về đề tài, và cả chủ đề tư tưởng, nhưng chưa bao giờ lại có sự giống nhau cả vể bố cục, cách diễn đạt và cả khí văn đến như thế. Một giả thuyết khác, có phải người sau đã lấy ý người trước sửa đổi ít nhiều và xem là của mình? Càng không thể có. Điều cấm kỵ lớn đối với nhà nho khi sáng tác là phạm phải “lục mê” (dī thác dụng ý nhi vị độc thiên: lấy ý dùng hay của người làm ý tâm đắc của mình). Nguyễn Thân loạn trí và ốm chết năm 1914, còn Khải Định māi đến 1925 mới qua đời, nếu lấy ý người khác làm của mình thì người đó là vua Duy Tây ư? Không thể có việc đó đối với một người có bản tính khá khẳng thái như vua Duy Tân.
Về nội dung, chưa nói đến mức độ phúng thích gần như một lời chửi như trên kia đã nói, người ta thấy nhân vật “ông” trong vế thứ nhất câu đối không ai khác ngoài Nguyễn Thân - một con người hiếu danh, hiếu sắc, hiếu tài (tiền của) và qua việc đàn áp phong trào Cần Vương ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Nghệ Tīnh (1885 - 1894) hắn còn bộc lộ bản tính giết người không gớm tay được nhân dân gán thêm cho hắn cái hiếu thứ tư - hiếu sát. Dưới mắt của nhân dân, những hành động của Nguyễn Thân không phải do hoàn cảnh bắt buộc mà do sự ham thích (hiếu) đã trở thành bản chất của hắn. Nhưng cuối đời khi trở về hưu dưỡng thật mỉa mai, bèn việc không bỏ được niềm ham mê hát bội (tuồng) tự lập gánh hát riêng, hắn còn lập chùa tụng niệm, mong đức Phật từ bi hỉ xả cho mọi tội ác của hắn. Một con người ham mê đã trở thành bản chất, bây giờ phải “bỏ” tất cả mà “đi”. Từ “bỏ” được sử dụng rất tài tình và được láy đi láy lại đến 9 lần tạo nên sự mỉa mai chua cay đến cực điểm. Còn nếu nói nhân vật “ông” là Khải Định thì ta thấy chẳng mấy phù hợp, trong lúc không hề nói đến chiếc ngai vàng mà Khải Định suốt đời ôm khư khư lấy nó, nay đành phải “bỏ”. Về ngôn ngữ cũng thế, ta không thấy chút dấu vết nào của ngôn ngữ Huế, ngôn ngữ nhiều kiểu cách của hoàng tộc họ Nguyễn, các đại từ nhân xưng “ông”, “tôi” là đại từ nhân xưng của người bình dân. “Ngài ngự”, “mệ” mới là những đại từ mà những người trong hoàng tộc dùng để xưng hô với nhau.
Vậy ai là tác giả đích thực?
Cho đến giờ phút này, người viết bài này và cũng chính là người đã viết bài “câu đối phúng” in trong Quảng Ngãi giai thoại, truyền thuyết vẫn chưa dám khẳng định hoàn toàn là của cụ Lê Đình Cẩn. Nhưng bảo Lê Đình Cẩn là tác giả của câu đối đó chắc cūng không sai, như các luận cứ đã trình bày trên kia. Bên đó, còn những cǎn cứ khác cũng có nhiều sức thuyết phục:
- Từ những năm 1937, 1938, lúc 11, 12 tuổi, tôi đã được ông thân tôi - ông Trần Bạt Tụy, một nhà nho uyên thâm, yêu nước, sinh năm 1896 ở An Ba (xã Hành Thịnh - Nghīa Hành hiện nay) - dạy cho học thuộc vài bài thơ của Thượng dân Thị thác lời vợ vua Thành Thái khóc chồng khóc con, một số văn thơ Phan Bội Châu và cả câu đối nói trên. Tôi cũng đã từng nghe các cụ tú, cụ cử trong vùng (Mộ Đức và Nghīa Hành) đến nhà cùng ông thân tôi bình phẩm, khen ngợi tài hoa xuất thần của Lê Đình Cẩn thể hiện trong câu đối trên. Chắc các cụ không có sự lầm lẫn, vì nhà tôi chỉ cách nhà cụ Lê Đình Cẩn ở Hòa Vinh khoảng 4 km đường chim bay, và khoảng cách từ năm 1914 lúc Nguyễn Thân chết, cụ Lê Đình Cẩn làm câu đối phúng đến những cuộc bình phẩm trên chưa quá 25 năm.
- Cụ Lê Đình Cẩn một nhà yêu nước nổi tiếng trong phong trào Duy Tân ở Quång Ngāi (1904 - 1908) còn để lại nhiều thơ văn, câu đối như “xin đúc một chữ đồng”, “cố quốc sơn hà trọng”... có cùng phong cách và khí lực như “câu đối phúng” mà chính các cụ ngày trước bảo đó là “Khí văn của cử Cẩn".
Tuy vậy, với tinh thẩn nghiêm túc, khoa học tôi vẫn mong các thức giả trong tỉnh, trong nước cùng nhau bàn luận, cung cấp tư liệu, bằng cứ để có được tiếng nói cuối cùng chính xác vể tác giả đích thực của đôi câu đối.
10/1998
----------------
CHÚ THÍCH:
(1) Quảng Ngãi giai thoại, truyền thuyết, Sở Văn hóa và Thông tin Quảng Ngãi, 1994, tr. 225, 226.
(2) Lê Đình Cẩn (1870 - 1914) ở Hòa Vinh (Hành Phước - Nghīa Hành - Quảng Ngãi) đỗ cử nhân năm 1903 được cử làm Huấn đạo Mộ Đức, một thời gian bỏ quan về nhà dạy học tham gia và chủ trì hội Duy Tân Quảng Ngãi. Bọn thống trị tìm cách kết tội bắt giam từ 1907, trong tù ông vẫn làm thơ và gửi ra ngoài. Năm 1914, ông qua đời sau Nguyễn Thân 6 tháng, lúc ông mới 44 tuổi.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.