Sinh ra nơi làng quê nghèo (xã Phổ Phong, Đức Phổ) trong một dòng tộc giàu truyền thống cách mạng (anh gọi đ/c Nguyễn Nghiêm - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi đầu tiên là ông nội thúc), từ năm 1973, anh đã tham gia du kích xã và là thầy giáo ở vùng giải phóng. Chính những bước đi đầu này nên sau hòa bình anh theo học ĐHSP Quy Nhơn và tiếp tục làm nghề giáo cho đến khi chuyển sang nghề báo. Nhưng có lẽ, nghiệp trần gian của anh lại chính là thơ. Và cho đến hôm nay, chuẩn bị đón tuần 49 ngày của anh, trong tôi vẫn cứ thấp thoáng hiện lên mồn một cái dáng dấp phong trần, bụi bặm của một người thơ, đang lơ ngơ đi giữa phố phường với mái đầu vừa điểm bạc. Cứ lơ ngơ kiếm tìm một bóng hình quá vãng rồi thảng thốt kêu lên.
“Được UNESCO vinh danh và tham gia kỷ niệm năm sinh, năm mất là chuyện không dễ và là niềm tự hào lớn. Nhưng điều quan trọng hơn nhiều, là từ đây, cơ hội và những đường hướng mới trong tiếp cận danh nhân và giá trị di sản họ để lại (cụ thể ở đây là trường hợp Hồ Xuân Hương) chắc chắn được mở ra, không chỉ cho người Việt mà cho mọi con người trên trái đất” – PGS.TS Biện Minh Điền.
(Kỷ niệm 90 năm Phong trào Thơ mới, 1932-2022) Trong vườn hoa muôn sắc màu của Thơ mới, những cây bút thơ nữ chưa phải là những bông đại đoá, hướng dương, ngạt ngào hương sắc. Họ chỉ là những bông hoa đồng nội sắc màu êm dịu với mùi hương thâm trầm kín đáo, nhưng thiếu nó, vườn hoa Thơ mới sẽ kém màu rực rỡ và thiếu đi sự ấm áp tròn đầy. Và khi nhắc đến Thơ mới, ta cũng không thể không nhắc đến họ với vị trí của người trong cuộc, với những đóng góp không thể phủ nhận.
Ðến giờ dường như vẫn chưa có một hình dung đầy đủ về đời sống riêng của Nguyễn Vỹ (1912- 1971) – tác gia văn chương, báo chí thuộc hàng độc đáo nhất Việt Nam. Có chăng chỉ là ít nhiều giai thoại. Như “một hôm say rượu, Tản Ðà trách Nguyễn Vỹ: “Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó? Anh không sợ xấu hổ à?”. Nguyễn Vỹ đáp lại, cũng trong lúc say: “Tôi có ví như thế thì chó xấu hổ, chứ chúng ta xấu hổ cái nỗi gì?” (dẫn theo Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh, Hoài Chân).
Cội rễ làm nên sức sống bất diệt của tác phẩm văn chương là tài năng, ân tình người cầm bút. Văn chương khơi nguồn từ trái tim sẽ đi đến những trái tim để rồi người ta nhớ mãi không quên.
Anh có đi đến trăm miền, trải nỗi nhớ đến trăm miền, thì vẫn chỉ để trở về với một “miền nhớ” chủ đạo của hồn anh, đó chính là cái miền-tâm-tưởng riêng của cõi lòng thơ anh. Chính vì sự ám ảnh của cái miền-tâm-tưởng này mà ta thấy trong thơ Bùi Văn Tạo dù có nói về cái gì, cảnh vật ở đâu, người lạ hay quen, vẫn chỉ để quay về với cái cỗi-nguồn-nhớ-ban-sơ của miền-tâm-tưởng ấy.
Vào ngày 30.10.2017, ở thành phố Quảng Ngãi các vị khách quý trong tỉnh nhà, các học giả từ Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh thành trong cả nước tụ hội về đây tham dự Hội thảo Nguyễn Vỹ – cuộc đời và sự nghiệp, để trình bày những nghiên cứu mới nhất của mình, thảo luận về những đóng góp vào sự nghiệp văn hoá, văn học, báo chí nước nhà của một trong những gương mặt trí thức tiêu biểu của tỉnh Quảng Ngãi, cũng là của nước ta 70 năm từ đầu thế kỷ XX: nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Vỹ.
Sự hiện hữu của phong trào Thơ mới trong văn học miền Nam 1954 -1975 qua sự tiếp nhận của giới nghiên cứu, lý luận – phê bình là khá phong phú, đa dạng, đa diện, đa chiều nên đã khắc họa một cách sinh động diện mạo của phong trào Thơ mới, góp phần hoàn thiện diện mạo trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam 1932 -1945 trong tiến trình vận động của nền văn học dân tộc.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.