Sáng 3/9/2010, nhà văn Băng Sơn đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng 66 Lê Văn Hưu, Hà Nội, sau 7 tháng bị tai biến mạch máu não, hưởng thọ 79 tuổi. Nhà văn Băng Sơn tên thật là Trần Quang Bốn, sinh ngày 18/12/1932, quê ở Bình Lục – Hà Nam, nhưng ông sinh ra và lớn lên ở Cẩm Giàng -Hải Dương.. Ông làm thơ và viết văn từ năm 1949 và nhanh chóng trở thành một cây bút chuyên viết về Hà Nội…
Sở dĩ chúng tôi chỉ nói đến ý nghĩa của chữ “dân” trong di cảo của Nguyễn Trãi, mà không bàn về tư tưởng của cá nhân Nguyễn Trãi khi nói đến chữ “dân”, là vì, có hai lý do. Một là - những trước tác được xem là của Nguyễn Trãi còn lại với chúng ta không phải là toàn bộ trước tác của ông. Hai là - chữ “dân” được Nguyễn Trãi nói đến nhiều nhất trong Quân trung từ mệnh tập, mà Quân trung từ mệnh tập thực ra là những thư từ, chiếu mệnh mà Nguyễn Trãi thừa lệnh chủ tướng và nhà vua sau này là Lê Lợi thảo ra, chứ không phải là những sáng tác hoàn toàn riêng tư của ông...Cho dù Lê Lợi đóng góp nhiều hay ít vào những tư tưởng chính trị - xã hội trong Quân trung từ mệnh tập, chúng ta cũng không thể xem tư tưởng chính trị thể hiện trong đó chỉ là tư tưởng chính trị của riêng Nguyễn Trãi.
Kiều Mâylà tập thơ mang đến cho người yêu thơ sự thích thú, khoái cảm thực sự. Người đọc bị hút hồn bởi cái tình thơ nồng đượm, sâu thẳm được thể hiện trong những hình tượng thơ đẹp với những câu thơ, chữ thơ rất “quê mùa” mà mới mẻ, hiện đại. Tôi nghĩ, có lẽ đến Huỳnh Thúy Kiều, chất thơ vùng châu thổ Miền Tây mới được gọi tên chăng ?.
“Đời tôi là một trò đùa điên rồ và xấu xa mà ai đó đã đùa với tôi”. Và: “Tôi hiểu rằng câu hỏi của tôi: “Đời tôi là gì?” và câu trả lời: “Một tội ác” là phù hợp với sự thật của tình hình”. (Lời thú tội của tôi). Tuyệt nhiên không phải là những “lời thú tội” những “tự bạch” hơi có chút làm dáng của một số nhà văn nổi tiếng khác, những lời của Tônxtôi ở đây chân thành đến đau đớn, đến tuyệt đối, đến mức rơi vào một cực đoan vô phương tháo gỡ.
Tập “Bão táp triều Trần” xong, tưởng nhà văn Hoàng Quốc Hải có thể xoa tay, nghỉ ngơi, nhưng “Tám triều vua Lý” đã đem lại cho anh quá nhiều hấp dẫn, nên anh không thể dừng. Gần hai mươi năm nay anh dành cho cuốn tiểu thuyết. Bộ sách có độ dày trên dưới 3000 trang. Anh chỉ viết bằng bút máy. Không máy chữ, không vi tính. Tính lại cẩn thận, kỹ càng nên cứ sửa đi sửa lại. Có khi chỉ một chi tiết, cảm thấy chưa yên tâm, anh buộc phải dừng lại tìm sách tra cứu. Thậm chí lặn lội tận nơi đã xảy ra sự kiện. Không viết dựa, viết bừa, viết ẩu. Nên vất vả. Để chồng yên tâm, mọi việc khác Nguyễn Thị Hồng gánh hết. Từng là trưởng ban biên tập sách văn học Nhà xuất bản Phụ Nữ nhiều năm, giờ chị lại là người biên tập ngay từ những trang bản thảo của chồng
Tên thì ngắn người thì dài / Thuốc lào thuốc lá chị sài như anh/ Bây giờ núi đỏ rừng xanh/ Tam Đường một góc nổi danh văn gừng / Sữa đá mới thật lạ lùng/ Những người mẹ núi nửa mừng nửa lo/ Cuộc đời bao nỗi cam go/ Một mình một lái một đò một sông/ Đã qua mắt thắm môi hồng/ Lai Châu là mẹ, là chồng, là ai...? Giỏi ! cái bác Trần Nhương khéo miệng ứng khẩu thành “thơ tếu”, chỉ với mười câu lục bát là đã vẽ được chân dung một nhà thơ nữ tài hoa trứ danh của vùng Tây Bắc khi nêu được cả tên 2 tập thơ khá nổi tiếng của chị là “Sữa đá” (Giải thưởng văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2000) và “Những người mẹ núi” (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2002).
Đọc Bùi Giáng thi thoảng thấy có câu lạ, thi thoảng lại thấy có câu hay, chứ bài hay thì quả tình quá hiếm hoi. Rất nhiều những câu thơ “dở hơi”, lằng nhằng khó gặm. Lại còn nhiều câu lục bát lạc vần, như thể cố tình chống lại các quy tắc của thể thơ này…Nhìn chung là đọc không vào, thành ra không thích. Hỏi một số bạn bè, họ cũng nghĩ tương tự như thế! Vậy mà tại sao một thi sỹ có nhiều ý kiến trái chiều, đến nay lại được nhắc nhiều trên mặt báo, như một “kỳ nhân”, như một vị khách vãng lai ở cõi người, mà chưa rõ tung tích? Bài thơ “Mắt buồn” của Bùi Giáng được chọn tuyển vào tập “Ngàn năm thơ Việt” (NXB Văn Học-2010), có lẽ là một trong những bài thơ tiêu biểu cho vẻ thơ độc đáo của ông chăng? Bài thơ lục bát không mấy ngọt ngào, tựa đề “Mắt buồn”, mà chỉ có hai câu kết là nói về mắt, nói về “còn hai con mắt khóc người một con”... Đó chính là hai câu khép lại tứ thơ, vu vơ mà tận cùng sâu thẳm nỗi niềm, khiến người ta phải cúi đầu ngẫm nghĩ!
Liệu có thể có sự đột phá, đổi mới cho văn chương nước nhà sau khi nhà thơ Hữu Thỉnh tái đắc cử Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam? TPCN có cuộc trao đổi với nhà thơ Hữu Thỉnh.
NTT: Tôi được quen biết mấy người vợ của các nhà văn trong nhóm Nhân văn Giai phẩm, đó là bà Băng vợ Văn Cao, bà Yến vợ Hoàng Cầm, bà Khuê vợ Trần Dần và bà Bội Trâm vợ Phùng Quán. Có điều thật đáng kính phục các bà là mấy chục năm chồng bị hoạn nạn, bà nào cũng yêu thương chăm sóc chồng con và bảo vệ chồng đến kỳ lạ. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tụng xưng các bà là “những hộ pháp” của văn tài. Bà Yến đã mất năm 1985, giờ bà Bội Trâm cũng đã theo chồng về cõi khác. Tôi có thăm bà Trâm trước khi mất 1 tháng, và đến viếng tiễn đưa bà. Giờ đọc bài của Ngô Minh viết về bà mà rưng rưng cảm động. Một cảnh ngộ thật đặc biệt. Một mối tình thật vĩ đại. Một bài viết thật trân trọng và đắng đót…
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.