Những người làm phê bình trẻ hiện nay hầu hết đều xuất thân từ khoa văn các trường đại học lớn như Đại học khoa học xã hội nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học sư phạm I, Đại học sư phạm II…. Trong bốn năm học đại học, họ được trang bị một hệ thống kiến thức văn học tương đối toàn diện giúp họ có được cái nhìn khái quát, tổng thể về văn học Việt Nam và thế giới, nắm được những nguyên lý, phương pháp, thao tác cơ bản, cần thiết phục vụ cho công việc nghiên cứu, phê bình văn học. Những kiến thức đó là hành trang quý giá cho những người làm phê bình trẻ khi mới vào nghề.
Chữ nghĩa quan trọng lắm, linh thiêng lắm và cũng nguy hại lắm. Cho nên kẻ chơi chữ là kẻ sang trọng, cũng ngang với trò chơi "đế vương". Kẻ dùng chữ làm vũ khí thường làm các bậc vua chúa "kiêng dè, kinh sợ". Chữ nghĩa văn chương đã gây ra biết bao nhiêu buồn vui, xáo trộn và đe dọa, khiến người ta cảnh giác, nghi ngờ song vẫn cưu mang nó. Nhưng khi nó bị chính văn nhân quên lãng, người ta mới cảm thấy bối rối, xót xa.
Nhân văn Giai Phẩm tuy bị dập tắt nhưng nó có sức sống bất diệt, cứ âm thầm thao thiết chảy dưới bề mặt của chế độ toàn trị. Những gì tinh túy của nó đã kết tinh lại để rồi đến khi “cởi trói” các bảo vật ấy lại được sống tiếp cuộc sống công khai giữa xã hội.
Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo giõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật. “Tác giả là người đã được đọc lại toàn bộ hồ sơ nghiệp vụ chuyên án NVGP, tiếp xúc với hầu hết thành viên chủ chốt của vụ án, một số văn nghệ sỹ tham gia vào đấu tranh với NVGP, tiếp xúc sớm nhất với các tài liệu nghiên cứu, các bài viết về NVGP từ nước ngoài, tiếp xúc tương đồi đầy đủ các bài viết về các nhân vật NVGP ở trong nước từ sau đổi mới. Tác giả tin rằng NVGP không phải là một vụ án gián điêp phản động. Các văn nghệ sỹ trí thức NVGP không có mục đích lật đổ chế độ. Họ chỉ mong muốn ĐCSVN, chính phủ sửa chữa những sai lầm và xây dựng ngay một nền dân chủ pháp trị, một đời sống tinh thần có tự do tư tưởng, một đời sống văn học nghệ thuật tự do sáng tạo”.
Cái thời hôm nay, hoặc hiện thực hôm nay, như tôi quan niệm ở trên là đối tượng nhận thức, miêu tả và khám phá của hơn bốn thế hệ viết, trong khoảng cách trên dưới 60 năm - nếu tính từ thế hệ 3X cho đến 9X, tức là từ thế hệ viết trong chống Pháp cho đến lớp người viết mới vào tuổi 20 hôm nay. Tất cả dù thâm niên nghề nghiệp dài hoặc ngắn, đều cùng đứng trước một hiện thực vừa mới mẻ vừa quen thuộc mà sự đón nhận là tùy thuộc vào quan niệm và trải nghiệm của mỗi thế hệ, và mỗi người.
Nhóm Xuân Thu Nhã Tập cho rằng, tác phẩm thơ là một chỉnh thể trọn vẹn, toàn khối, duy nhất, không thể thay thế, là sự thống nhất cao độ giữa nội dung và hình thức, giữa hồn và xác, giữa mỗi yếu tố và toàn bài. Họ khẳng định: "Tiêu chuẩn về hình thức "thơ" là tính cách độc nhất. Đọc xong "bài thơ" ta bị y nguyên những câu, những tiếng của toàn bài chi phối. Hình thể, cùng một lúc với hồn, sống mãi trong ta (lưỡng tính của thơ). Và ta không thể di dịch một âm thanh, một hình ảnh mà không phản bội và tàn phá". Đây là một quan niệm rất chuẩn xác và hiện đại về tính chỉnh thể của tác phẩm thơ. Họ không chỉ coi đây là một tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nghệ thuật của thơ, mà còn quy định cách ứng xử đối với thơ, cách đọc, thưởng thức, phê bình thơ.
Về bút pháp, văn xuôi NVGP đã không còn là lối văn tả thực, tường thuật đơn giản. Nó thực sự đã có những ẩn dụ, biểu tượng có ý nghĩa sâu sắc mà trong văn học kháng chiến còn vắng bóng. Các hình tượng nghệ thuật của họ đã tiến tới sự khái quát nghệ thuật, đa nghĩa, mang ẩn dụ tư tưởng . Đó là các truyện ngắn Tiếng sáo tiền kiếp,Những người khổng lồ của Trần Duy, Ông Năm Chuột của Phan Khôi, Con ngựa già của Chúa Trịnh của Phùng Cung, tiểu luận Ông bình vôi của Phan Khôi, Thi sĩ máy của Như Mai…
Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo giõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm. Các bạn hãy tiếp tục đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật.
Những ngày lão nhà văn cưỡi ngựa đi thực tế, bao đêm ngồi bên nồi cao hổ hàn huyên rồi trở về viết bút ký gửi bản thảo qua đường bưu điện lên nhờ ông Hinh “đóng góp thêm ý kiến”, cả khi không Hinh trở về phố Trần Hưng Đạo (Hà Nội) tìm thăm tác giả “Người lái đò Sông Đà” thì cũng là lúc nghe tin ông bạn vong niên nhà văn ấy đã khuất núi…
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.