Những ai cầm bút phê bình một thời gian, nhất định hẳn sẽ có lúc tự nghiệm thấy điều này: không phải ngay từ những bài viết đầu tay, người ta đã có thể cầm chắc trở thành nhà phê bình.
Đó là cuộc bùng nổ của lý thuyết văn học trong suốt thế kỷ XX mà những người cách mạng đầu tiên là các đại biểu của chủ nghĩa hình thức Nga, sau đó là những nhà cấu trúc luận, ký hiệu học, và hậu cấu trúc luận.
Trong các tài liệu giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam hoặc một số công trình khác, khi viết về vấn đề cải cách thôn quê của nhóm Tự lực văn đoàn hầu hết đều chung nhận định rằng đó là chương trình mang tính cải lương, không tưởng. Thậm chí, có ý kiến phê phán nặng nề, cho rằng Tự lực văn đoàn đã bị lợi dụng để “đánh lạc hướng quần chúng”... Ngày hôm nay những cái nhìn phê phán như vậy cần phải được nhìn nhận lại.
Những bài thơ đầu tiên đọc được của Lê Đạt đã chẳng gây ấn tượng gì lắm cho tôi. Đến khi đọc mấy bài của Lê Đạt trênGiai phẩm mùa xuân1956 với những câu thơ đại khái nhưxã hội chủ nghĩa không thể vác ba lô đi bộ, tôi chỉ thấy hơi lạ mà không cảm thấy thích. “Lạ” là rất cần, nhưng chưa phải là tiêu chí số một của thơ. Nói như Nguyễn Văn Siêu, thơ trước hết phải làm xúc động lòng người.
Khi phát hiện ra, Văn Công Hùng như đứa trẻ hồn nhiên đầy vui sướng và hạnh phúc, mắt chàng sáng rực như lần đầu tiên nhìn thấy trời xanh, chim hót trong mây đưa và gió nhẹ. Thi sĩ hào hứng khoe khoang từng báu vật và luôn hãnh diện về nó: đây là “mái nhà”, đây là “tình yêu”, đây là “phú quý”, “niềm tin”, đây là “bao dung ”, “nhân hậu”…
Thời trung đại, con người chủ yếu sống bằng nông nghiệp. Thế nên con người thường dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để sống. Do vậy con người trung đại tin ở sự thống nhất trong thế giới. Thiên nhiên là bạn tri âm tri kỷ của con người.
Đọc thơ Tuyền, tôi ngạc nhiên về những rung cảm của em trước muôn mặt cuộc đời, trước những tình cảm chân thành, trong đó có tình thầy trò và kể cả tình yêu…
Mặc dù có nêu thêm tên Trần Mạnh Hảo và Đỗ Hoàng nhưng nội dung bài viết này chủ yếu xoay quanh vấn đề Nguyễn Hoài Nhơn, Lê Anh Phong hận và đấu tố thơ Hoàng Vũ Thuật. Câu chuyện giữa những người làm thơ Quảng Bình với nhau đang gây sóng gió thi đàn. Chúng tôi cảm ơn nhà thơ Ngô Minh từ cố đô Huế đã gửi bài viết này cho NVTPHCM nhằm rộng đường dư luận trước một vấn đề văn học đáng lưu tâm. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc và mong nhận được phản hồi từ những người trong cuộc.
Tính đến giữa tháng 10/2008 này, đã chẵn 20 năm từ ngày chúng ta mất nhà thơ Quang Dũng (1921-1988); nhân dịp này xin giới thiệu lại bài thơ “Lính râu ria” của ông, đồng thời cũng có vài điều nói thêm về nhà thơ tài hoa mà phía sau các tác phẩm còn không ít điều nên tìm hiểu thêm, nhất là về những chặng đường đời của một nhà văn, một con người…
Năm 2002, sau buổi thi học sinh giỏi cấp tỉnh, tôi đưa đoàn ghé hiệu sách Đồng Nai (Biên Hòa). Trường ở tận vùng sâu được dịp các em ríu rít túa đến những quầy hàng, sản phẩm đầy hấp dẫn. Lang thang ở quầy sách tầng hai, tôi lại gặp bài "Bài thơ bắt đầu” của anh trong tuyển thơ văn thời chống Mỹ. Bút danh vẫn đề tên Nguyễn Ngàn Xưa. Thật thú vị và thoảng một chút bồi hồi…
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.