Trương Đăng Quế là người làng Mỹ Khê, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Tổ tiên của ông ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, theo Nguyễn Hoàng vào cư trú tại Quảng Ngãi năm 1624.
Cuộc đời mỏng mà ước vọng thì đầy, khao khát hiến dâng mà cô đơn trống trải, có lúc nhà thơ không tránh khỏi mặc cảm bị ruồng bỏ: Anh chẳng mang cho đời những tiệc vui ảo ảnh/ Nỗi buồn chân thành đời chẳng nhận hay sao? (Anh đã mất chi, anh đã được gì? - tập Hương cây).
Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 làm bùng nổ mọi nguồn cảm hứng, mọi tâm tư tình cảm, mọi dồn nén cảm xúc, mọi khát vọng, mọi trông ngóng, chờ đợi. Nó như một hiện tượng động đất cực lớn tạo nên những cơn địa chấn, sóng thần, giông bão cho văn học nói chung, thơ ca nói riêng.
Nhìn về cuộc kháng chiến chống Mỹ của toàn dân tộc, các nhà thơ – chiến sĩ của thơ ca cách mạng, kháng chiến phản ánh rất rõ nỗi đau thương do kẻ thù gây ra, đi liền với lòng căm thù giặc và một lý tưởng chiến đấu bất di bất dịch. Ở phía ngược lại, các nhà thơ vùng đô thị miền Nam thể hiện nỗi đau chiến tranh qua nỗi buồn thế cuộc cùng với cái nhìn chán chường, bế tắc.
Hình như cụm từ “tứ tuyệt Chế Lan Viên “trở thành một định ngữ khó thay đổi, bởi thơ ông đơm hoa kết trái ở thể tứ tuyệt”. Không một ai cùng thời sánh bằng, trên cả hai mặt số lượng và chất lượng. “Cái lớn của một nhà thơ là khả năng tự mình trở thành đối tượng”, câu nói của Johan Becher vận vào Chế Lan Viên rất đúng.
Nhà văn Phùng Văn Khai quả là quá táo gan và thừa dũng cảm khi bước chân vào một vùng đất trống. Ấy là khi anh quyết định tái hiện các cuộc chống ngoại xâm trong thời kỳ Bắc thuộc bằng văn học. Gánh lấy sứ mệnh vô cùng khó khăn ấy, anh tự xem mình là nhà thám hiểm lịch sử hay một đấng phiêu lưu văn học? Không ai trả lời được câu hỏi ấy, ngoài anh.
Thơ ca cách mạng viết về mẹ rất phong phú, mỗi bài nói lên cảm xúc, tâm trạng, nỗi niềm ở góc nhìn và mức độ khác nhau, tất cả đều góp phần làm nên bức chân dung đa dạng và cao đẹp về người mẹ Việt Nam.
Sức thuyết phục đó toát lên từ cuốn nhật kí có số phận kì lạ nhất, cuốn nhật kí mà người con gái Hà Nội cương nghị, thủy chung, trong sáng đến thánh thiện đã viết với bao buồn vui, cay đắng, đớn đau và nước mắt; cuốn nhật kí mà đang được viết dở dang thì tác giả của nó hai ngày sau bị địch bắn chết. Đó chính là Nhật kí Đặng Thùy Trâm.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.