Ai gặp cũng nghĩ chị Đoàn Lê là người nhẹ nhàng dịu dàng. Nói năng dịu dàng đi đứng khoan thai, đầy nữ tính. Nhưng đấy cũng là một người tính cách rất đàn ông. Bản lĩnh và quyết đoán, dường như mọi quyết định trong nhà là ở chị. Làm đạo diễn phải quản lý cả một đoàn phim, không phải là chuyện nữ nhi liễu yếu đào tơ mà làm được.
Mượn câu thơ Nguyễn Khoa Điềm, chỉ thay chữ em bằng chữ THƠ, tôi đã có một nhận định đầu tiên về Nguyễn Trọng Tạo và thế hệ thơ của anh mà người ta hay gọi là “thế hệ thơ chống Mỹ”.
Điều gì khiến một cuốn tạp bút có độ dày trên 400 trang, với quá nhiều bài nho nhỏ, đôi khi chạy theo sự kiện cách đây cả chục năm, lại chỉ xuất hiện chủ yếu trên một tờ báo không phải thật nổi bật, mà vẫn khiến độc giả, ít nhất là tôi, đọc lại và đọc liền mạch say sưa như thể bị cuốn vào lực hút khó cưỡng?
So sánh những người phụ nữ khác cùng hoàn cảnh như nàng, đạt được chữ công là cả vấn đề phức tạp và khó khăn, đòi hỏi một sự hy sinh rất lớn, thậm chí cả tính mạng của mình.
Nhà văn nổi danh thường cậy vào truyện ngắn và tiểu thuyết, nhưng khi được văn đàn ghi nhận thì tiểu luận sẽ khẳng định thêm phông nền văn hóa, tầm nhìn và tính chuyên sâu của họ. Thể loại tiểu luận, để viết cho thật cuốn hút, thâm thúy mà vẫn giữ được kết cấu của văn bản tác phẩm, là một thử thách.
Cuối năm 1972, Phùng Quán (PQ) báo cho tôi, Phùng Cung (PC) được tha và đã về đến Hà Nội, hiện đang có mặt ở nhà, chúng mình đến thăm anh ấy ngay đi. Hôm ấy tôi bận họp chưa đi được. Quán và tôi có nhiều kỷ niệm với Phùng Cung, tôi nhớ nhất kỷ niệm này: chỉ sau mười lăm phút Phùng Cung bị bắt, tôi và Quán có mặt ở nhà anh ấy.
Những bài thơ gần đây của Nguyễn Đức Tùng như những ngẫu hứng hiện tiền, và tôi cũng bất chợt ngỡ mình biến thành đứa trẻ chạy theo đồng tiền kẽm/ xưa lăn ngoài ánh trăng (Xin lỗi, em yêu), hay ngồi đếm những hòn bi ăn được/ trước căn nhà vắng lạnh (Tuổi thơ).
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.