Bến Tre vẫn thế, với ông lão nhà văn Trang Thế Hy ngày một già yếu mặc quần xà lỏn ngồi giữa sân lúi húi với mớ dây ống nước bằng nhựa. Ông lão là một thứ đặc sản của Bến Tre, giống như kẹo dừa bà Hai Tỏ. Bến Tre vẫn thế, trong tôi, khi tôi nhận từ lão nhà văn Trang Thế Hy tập thơ mỏng in song ngữ Việt-Anh. Bài thơ này bắt đầu từ tập thơ ấy và tác giả của nó.
Sau ngày Hội Nhà văn Việt Nam trao giải cuộc thi tiểu thuyết (2006-2009), nhà văn Hoàng Minh Tường đã công bố trên trang trannhuong.com một bài viết vui vẻ, trong đó có nhắc đến tôi. Trước hết, xin cảm ơn nhà văn Hoàng Minh Tường quá ưu ái cuốn tiểu thuyết “Biết đâu địa ngục thiên đường” của tôi nên đã “phóng” từ giải C (nữ sĩ Y Ban thì gọi là giải “Cờ”!) thành hạng “Thám Hoa” (tức là sau Trạng Nguyên và Bảng Nhãn).
Hàn Mạc Tử, một con người tài hoa, một thanh niên Việt Nam đang trong lứa tuổi tràn đầy sung mãn về sinh lực, công danh, sự nghiệp và tình yêu, đã mau mắn lắng nghe lời mời gọi của Thiên Chúa trước nghịch cảnh của cuộc đời và sẵn sàng bẻ quặt đời mình theo một lộ trình mới. Một con đường mà chàng đã xác tín đó là lộ trình mà Thiên Chúa mời gọi và cùng đồng hành với chàng, niềm xác tín này được thể hiện rất rõ rệt trong các tuyển tập thơ mà chàng đã để lại.
Bùi Giáng chỉ có thể đến nương náu nơi cửa chùa, vì Ðức Phật chẳng những không cấm đoán mà còn khuyến khích cái quyền ngờ vực chân lý có sẵn. Thơ Bùi Giáng bay lượn giữa thực và ảo, nghiêm chỉnh và bông đùa, phóng túng và cổ điển nhờ ông tận hưởng được cái quyền tự do tìm kiếm chân lý và chọn kiểu sống theo ý mình. Ngược lại, thơ Hàn Mặc Tử có giá trị trường cửu nhờ Ðức Tin nhiệt thành của ông. Hai con đường vào thơ cũng là hai cách chọn chỗ an trú. Hai cách chọn khởi điểm để sống trọn đời mình: biết ngờ, và biết tin.
Trong cuốn “The importance of Living” của Lâm Ngữ Đường có nhắc lại về 33 lúc khoái của Kim Thánh Thán, đây cũng là bài tản văn nổi tiếng suốt kim cổ của Trung Quốc, được ghi chung trong bài phê bình tuồng Tây Sương kí. 33 đoạn văn nhỏ này cho thấy triết lý sống duy khoái của Kim Thánh Thán. Ông khám phá cho chúng ta thấy rằng trong cuộc sống này có thể tìm thấy những lúc khoái qua những chuyện thật đơn giản.
Nếu so sánh với các hình tượng văn học trước đó, Chí Phèo không giống các tướng lĩnh, các hiệp sĩ, các anh hùng hảo hán theo kiểu Lục Vân Tiên hay Từ Hải trong văn học cổ; các nho sĩ, thư sinh trong truyện nôm khuyết danh; hay các cậu ấm cô chiêu trong dòng văn học lãng mạn những năm đầu thế kỷ. Tất cả các hình tượng trên là sự minh họa cho những mẫu người sống theo những tôn chỉ chính trị và đạo đức nho giáo. Hay nói đúng hơn họ là những phương tiện để chở cái đạo theo quan niệm của nhà nho. Trong văn học đương đại Chí Phèo càng xa lạ với hình tượng những người cán bộ kháng chiến, cán bộ phong trào trong Tầm nhìn xa, Hãy đi xa hơn nữa... Những người chiến sĩ năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt; máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn... Chí Phèo cũng không sống như một Dáng đứng Việt Nam, mà chỉ là một con người lừng lững đi giữa cuộc đời, không mong cầu, không oán trách, luôn luôn say mềm trong cái bản ngã vô can của chính mình.
Trong cuộc đời ngắn ngủi, hào hoa và bi thảm của mình, Sergey Esenin đã từng dấn thân vào vô số những mối quan hệ tình cảm nam nữ nhưng chỉ có ba người vợ chính thức. Nữ nghệ sĩ sân khấu Zinayda Raikh, vũ nữ Aysedora Duncan và Sofia Tolstaya.
Zinaida Raikh chỉ sống với Sergey Esenin một khoảng thời gian ngắn ngủi vài ba năm. Thế nhưng, hơn 10 năm sau khi thisĩ đã qua đời, trên một bức ảnh tặng bạn, nàng đã viết: “Như một kỷ niệm về điều chính yếu nhất và khủng khiếp nhất trong đời tôi – về Esenin!”. Cho tới ngày sau cuốicủa cuộc đời mình, Zinaida Raikh vẫn không sao nguôi ngoai những niềm đau về Esenin, mặc dù lúc này nàng đang là vợ của vị đạo diễn lừng danh nhất Liên bang Xôviết, Meyerkhold.
Góc đường Phan Chu Trinh, Phan Đình Phùng có một ngôi nhà nhỏ khá khiêm nhường. Ít ai biết rằng nơi đây là mái ấm của nhà văn Phan Tứ (tức Lê Khâm) giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000, tác giả của “Mẫn và tôi” làm lay động hàng triệu trái tim bạn đọc. 14 năm sau ngày ông ra đi, chúng tôi về thăm lại ngôi nhà lặng lẽ ấy.
Tôi đã ngồi với Nguyễn Xuân Hoàng đêm cuối tại quán Dân Dã bên bờ sông An Cựu và... sáng ra Hoàng vĩnh viễn không thực hiện lời hứa cùng tôi là xuống nhà Nguyễn Khoa Điềm. Giai đoạn đó và cả ngay trong cái đêm cuối ấy, tôi biết Hoàng mới vừa hoàn thành bản thảo phần 1 một cuốn sách về Trịnh Công Sơn. Nay nhân đọc Sông Hương, thấy giới thiệu bài viết của Hoàng về Trịnh, xin được đăng tải lại cùng bạn đọc để cảm nhận thêm một nhà văn tài hoa mà bạc mệnh thời nay của quê hương Quảng Ngãi (TS Mai Bá Ấn)
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.