Từ "Chênh chao tích chèo", Khúc Hồng Thiện đã đau đáu bao nỗi niềm quê hương. Những giọt lục bát hồi cố rơi chậm giữa thời hiện đại, đã tạo ra hiệu ứng hoài niệm, màu nền chân phương nhất của ca dao. Tôi có dịp thưởng thức thơ anh qua vẻ đẹp ấy, và đã từng "tìm về" cùng anh trong những mất mát không thể níu kéo. Đó là mất mát tuổi thơ của làng quê Việt, có còn chăng là còn trong tâm tưởng mưa rơi. Những giọt mưa thơ nhân từ rơi xuống, đọng thành di tích tuổi thơ...
Về những nụ hôn buổi sáng chậm rãi
về những giọt cà phê nhỏ chậm rãi
về những buổi sáng từng hạt mưa rơi chậm rãi
về những bản nhạc chậm rãi
về sự bền bỉ chậm rãi.
Có lẽ, trong các thiên tài của nhân loại, không ai nghèo túng và đói khổ như Franz Schubert - một trong những tên tuổi sáng giá nhất của nền âm nhạc châu Âu và thế giới. Ông có mặt trên đời chỉ được 31 năm và vĩnh viễn ra đi cách đây đúng 190 năm. Chắc chắn rằng, sự nghèo túng và đói khổ đã đưa ông đến với thần chết sớm như thế! Nói đến sự cùng cực của ông, hôm nay người đời vẫn chưa nguôi niềm thương cảm, niềm nhớ tiếc.
Cho đến giờ, dường như vẫn chưa có một hình dung đầy đủ về đời sống riêng của Nguyễn Vỹ (1912- 1971) – một tác gia văn chương, báo chí thuộc hàng độc đáo nhất Việt Nam. Ngay cả hình ảnh của ông trên sách báo, sau này trên mạng cũng “mờ mờ nhân ảnh” chỉ một vài khuôn dạng, được in đi in lại suốt gần trăm năm nay…
Tôi bị ám ảnh từ thời sinh viên truyện ngắn Trên đỉnh non Tản của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời. Không hiểu vì sao những năm sáu mươi, có người gọi nó là tùy bút và xếp Trên đỉnh non Tảnnằm trong số ít áng văn chương hay nhất của thể loại ấy ở thế kỷ 20.
Nếu những câu chuyện kể in trên từng trang sách khiến cho trái tim bạn rung động, thổn thức thì đó chính là tình yêu chân thực của nhà văn dâng tặng cuộc sống đã chạm vào trái tim biết yêu thương của bạn.
Khác với hướng tiếp cận phê bình văn học, bài viết này đi theo một hướng mới - nghiên cứu văn hóa trong văn học, nhằm lí giải một vấn đề: Nguyễn Tuân đã dựa trên hệ giá trị văn hóa nào để sáng tác Chùa Đàn? Việc tác giả vội vàng phủ nhận nó để cho ra đời một tác phẩm khác phản ánh ý nghĩa gì về thời đại văn hóa và nhu cầu văn hóa?
Trong những người bạn văn thơ tôi quen ngày đó, thì thấy Vũ là người rất Hà Nội. Anh có mái tóc đen mượt, nụ cười mỉm, ánh mắt xa xăm và mơ mộng. Vũ ít nói. Nhưng nói rất có duyên. Phải thừa nhận, khi tập thơ "Hương cây - Bếp lửa" của Lưu Quang Vũ và Bằng Việt ra mắt bạn đọc, năm 1966, thì không khí văn chương của cánh trẻ tại Hà Nội xôn xao hẳn lên.
Duy tân là nhu cầu thực tế, là diễn biến chính trị - xã hội quan trọng nhất cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX ở các quốc gia châu Á. Hiện đại hóa tất yếu phải đi qua cầu duy tân. Trong quá trình duy tân, có ba động thái đồng thời diễn ra ở nội vùng Đông Á. Thứ nhất: giải cấu trúc truyền thống; thứ hai: giải trung tâm Trung Hoa; thứ ba: thích ứng phương Tây. Từ ba động thái này, chúng tôi hi vọng sẽ gợi lên những kinh nghiệm về quá trình duy tân trong bối cảnh Việt Nam đương đại.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.