Những đêm trăng đậu trên tán dừa nhiệt đới, ánh bàng bạc trải một vùng mênh mông theo mái chèo nhịp khua sóng nước, nghe tiếng ai nỉ non sáu câu vọng cổ, tôi lại chợt nhớ đến nao lòng tiếng hát Hương Lan: “Về phương Nam lắng nghe cung đàn/ Thao thức vọng dưới trăng mơ màng…” (Điệu buồn phương Nam). Phương Nam là quê hương thứ hai của người nhạc sĩ già, là nơi để bước chân ông tung tẩy mà trót nặng lòng với vầng trăng. Trăng vỡ, con cá tưởng mồi vội vã đớp, ông ôm đàn gảy lên điệu buồn…
Trong tôi, hai chàng trai Quảng Nam này có xuất phát điểm để đến với thơ không giống nhau. Một như “vốn tự có”, một lại “khổ công kiếm tìm”. Vậy mà rồi… càng cuồng si thơ, càng cật lực với thơ, Thái đã tự vượt lên mình, càng làm càng chắc tay để thơ đến cùng độc giả.
Trong vai công chúa Tây Hạ (vở kịch Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan), Nguyễn Tuyết Lộc đã để lại trong lớp học sinh Quốc Học – Huế những năm 1960 một hình ảnh khó quên. Hơn 50 năm sau chị mới trở lại Huế qua hai bài thơ giới thiệu trên Tạp chí Sông Hương số này.
Để hoàn thành nhiệm vụ của một chiến sỹ tình báo cách mạng, suốt thời gian dài, Vũ Bằng âm thầm lặng lẽ chịu tiếng “phản động”, “quay lưng với kháng chiến”. Mãi đến năm 2000, khi Cục Chính trị thuộc Tổng cục II - Bộ Quốc phòng có văn bản xác nhận Vũ Bằng là chiến sỹ quân báo hoạt động từ năm 1952 đến năm 1975, nhà văn, nhà báo Vũ Bằng mới được trả về đúng với chân thân và vị trí của mình.
Giáo sư Lê Đình Kỵ giản dị đến xuềnh xoàng trong sinh hoạt, sâu sắc đến tinh tế trong văn chương và nối liền hai khoảng trời ấy là một tấm lòng nhân hậu, là ngọn lửa nóng của ý tưởng sống: "Ánh trăng đành là quý nhưng ánh mặt trời thì quý hơn" soi tỏ sự nghiệp của ông.
Cuộc chơi của vô tăm tích, của nỗi buồn thắng thế niềm vui. Người tỉnh táo ngại dây dưa vào cuộc chơi này, họ biết rằng “mất nhiều được ít”. Còn Đỗ Phấn, tỉnh táo suốt 50 năm cuộc đời, rồi xế chiều dại dột, anh lại dấn thân vào khu vực “nguy hiểm” này.
Chỉ lướt qua một số bài viết đã đăng báo, cũng thấy các tác giả có những góc nhìn về thơ Nguyễn Hoa khá tinh tế và sâu sắc: “Những mảnh vỡ tiềm thức trong thơ Nguyễn Hoa” – Hồ Thế Hà, “Bâng khuâng mình đấy có yêu được mình” – Trịnh Thanh Sơn, “Nguyễn Hoa, bay mãi những câu thơ tin tưởng”, “Thắp xanh niềm tôi” – Bùi Văn Kha, “Nguyễn Hoa – Những vần thơ không lặng lẽ” – Đoan Trang, “Nguyễn Hoa đằm thắm một tình yêu Tổ quốc” – Nguyễn Ngọc Quế, “Thế giới trẻ con riêng biệt trong thơ Nguyễn Hoa” – Lê Mỹ Ý, “Thơ Nguyễn Hoa tụ gom thành nhuỵ và lặng lẽ toả hương” – Mai Bá Ấn, “Tôi có lòng chân thành không biết sợ” – Hồng Diệu, “Nguyễn Hoa vẫn đốt lòng mình lên” – Trần Hoàng Vy, “Nguyễn Hoa với những suy niệm về thơ” – Trần Hoài Anh, v.v…
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.