Thanh Thảo thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhưng đã tạo được giọng điệu riêng ngay từ khi trình làng thi phẩm đầu tiên "Dấu chân qua trảng cỏ". Và chỉ trong vòng 02 năm sau ngày toàn thắng anh tiếp tục gây được sự chú ý trên thi đàn với trường ca "Những người đi tới biển" dài ngót 1.250 câu, góp phần lý giải một cách khái quát cội nguồn sâu xa dẫn đến kết thúc thắng lợi 30 năm chiến tranh Vệ quốc.
Từ dạo quay về làm dân ở Huế, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm - nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo T.Ư, sống rất lặng lẽ và kín tiếng. “Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ”, ông nói thế khi bị thắc mắc.
Phóng viên (PV): Người đọc luôn thấy ở nhà thơ Thanh Thảo một tinh thần nhiệt huyết và bền bỉ với đề tài LLVT và chiến tranh cách mạng. Thưa nhà thơ, ông có thể chia sẻ điều này?
Xin nói thêm hai việc nhỏ nữa: Thứ nhất: Khi tôi nhờ một bạn trong giới nghiên cứu soát lại và bổ sung giúp các đoạn chữ Hán trong bài này, bạn ấy giúp cho rồi bảo nhỏ với tôi: Thế mà hồi trước ở Viện văn có người nói ông Tr.Th. Mại không biết chữ Hán (!?); nhưng chắc đây là thói quen dèm pha nhau của công chức cùng nhiệm sở mà thôi. Thứ hai: Chắc hẳn bài này và nhiều bài báo khác, không có trong ba tập “Trần Thanh Mại Toàn tập” (Nxb. Văn học, H., 2004) đâu; bởi vậy, có thể đây là lần đầu bạn đọc nó.
Về Quảng Ngãi lần này, trong những anh tài xứ sở, tôi muốn nói tới trường hợp Nguyễn Vỹ, như là một phát hiện của mình và cho mình. Trước đây, tôi chỉ biết Nguyễn Vỹ qua vài dòng tiểu sử ngắn ngủi và hai bài thơ lạ lùng Sương rơi và Gửi Trương Tửu của ông trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân. Bây giờ chính trên quê hương ông, tôi mới biết Nguyễn Vỹ còn có một nhân cách, một sự nghiệp văn chương và báo chí tương xứng với hai bài thơ trên.
Cứ thế, có lúc tôi đã cùng bật cười và suýt nữa cùng khóc với Nguyên Hồng. Chẳng hạn, khi ông hỏi tôi có thích thơ Huy Cận không? Thay vì trả lời ông, tôi liền đọc:Nắng chia nửa bãi chiều rồi/ Vườn hoang trinh nữ khép đôi lá rầu…
Nói đến Hoài Thanh, người ta không thể nào quên “Thi nhân Việt Nam”, một tuyệt phẩm của ông và Hoài Chân viết vào những năm trước Cách mạng tháng Tám và đã đưa ông lên đến đỉnh vinh quang. Mặc dù trong cuộc đời hoạt động văn chương của mình, ông đã để lại một khối lượng tác phẩm tương đối lớn, chủ yếu là thể loại Lý luận- Phê bình văn học, nhưng không một tác phẩm nào lại có sức sống bền lâu và sự lan tỏa rộng lớn đến như thế. Vậy mà…
Phàm đã là người yêu văn chương thì ai cũng biết đến Tản Đà. Thế nhưng, không nhiều người biết, người được coi là con cả của thi sĩ Tản Đà lại đang sống ở thành phố ngã ba sông Việt Trì. Với những người sống ở Phú Thọ, hầu hết đều biết Nguyễn Khắc Xương với tư cách một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, một nhà Tản Đà học và cũng là người con trai cả của thi sĩ Tản Đà.
Ném mình vào cuộc thơ này, ViLi mang theo một tâm niệm: Đỉnh cao sự sống là hợp linh nghệ thuật và tình yêu. Tất nhiên, để có thể lên đỉnh ấy, không thể thiếu một hợp linh khác: nội lực và cật lực. Nội lực một Eva bạo chữ và cật lực kiểu dệt tầm gai liệu có giúp được ViLi?
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.