Nhà thơ Trúc Thông là người tôi yêu mến và khâm phục về tài thơ của ông. Bài thơ Bờ sông vẫn gió của ông viết năm 1983 cho đến nay vẫn được xem là một thi phẩm xuất sắc viết về tình mẹ - con.
Thanh Tâm Tuyền là một hiện tuợng thơ đặc biệt góp phần cách tân thơ ca ở miền Nam sau 1954, nhưng thơ ông không dễ đọc.Người ta ca ngợi, người ta khẳng định tài năng Thanh Tâm Tuyền, và đòi phải xác lập vị trí của ông trong thơ ca Việt Nam hiện đại, thế nhưng dường như chưa có ai thực sư thâm nhập được vùng đất đai thơ Thanh Tâm Tuyền. "Người đọc theo dõi, tìm hiểu, chứ thật sự yêu thích thì không nhiều; cũng có người, có bài báo chê trách là thơ lập dị, bí hiểm, hũ nút" .
Lang thang dạo facebook, tôi “gặp” “Quê Trong Phố” của nhà thơ Nguyễn Xuân Môn. Bài thơ chỉ sau vài ngày “xuất xưởng” đã nhận được lời tán thưởng và chia sẻ của nhiều bạn đọc trên facebook: 892 lượt thích, 166 bình luận (hầu hết là lời ngợi khen) và 8 lượt chia sẻ. Những con số thật ấn tượng.
Nữ sỹ Vân Đài (1903-1964) không phải người Hà Nội gốc. Cha bà từ quê hương Nông Cống, Thanh Hóa ra định cư ở Hà Nội. Bà sinh ra và lớn lên ở Thủ đô. Nhà bà rất gần Hồ Hoàn kiếm, một biểu tượng của Dân tộc Việt Nam bất khuất anh hùng.
Nhà thơ LTMD được số lượng đông đảo độc giả biết đến bởi những vần thơ với những rung cảm đầy nữ tính; bởi sự tinh tế, giản dị, và tài hoa. Đặc biệt, chị có bài thơ Chuyện cổ nước mình được đưa vào giảng dạy ở Chương trình Tiểu học.
Là nhà thơ lớn của dân tộc, ngoài di sản thơ bằng chữ Hán và chữ Nôm đồ sộ ít người sánh kịp, Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) còn nổi tiếng với tư cách là một nhà lý học uyên thâm, hiểu biết sâu sắc bản chất Kinh Dịch qua các triết thuyết về Lý học hay Đạo học thời Tống, mà ông tiếp thu từ các học giả Thiệu Ung (1011-1077), Trình Hạo (1032-1085), Trình Di (1033-1107), hay qua Châu Đôn Di (1017-1073), Trương Tài (1020-1077) và Chu Hy (1130-1200).
Elena Pucillo Truong sinh ở Napoli thuộc miền Nam nước Ý, nhưng từ 3 tuổi chị cùng gia đình chuyển sang sống ở thành phố Milano thuộc miền Bắc nước Ý và học đại học tại đây.
Ông cố tôi là Phổ Khởi, quê ở đất tổ Phú Thọ đi phu đồn điền vào tận Đồng Nai. Cố cùng với hàng ngàn phu khác bị vắt kiệt sức hoặc bỏ mạng bởi lao động nặng nhọc, ăn uống kham khổ và đòn roi, bệnh tật giữa rừng thiêng nước độc.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.