Như thế giả thiết đặt ra là những biến đổi của quan hệ nhân quả trong hệ thống sự kiện như tính chặt chẽ hay lỏng lẻo, sự tồn tại hay mất đi của nó đều có tác động đến cốt truyện. Từ cách đặt vấn đề đó, chúng tôi nhận thấy trong tự sự đương đại xuất hiện sự phân rã cốt truyện trong nhiều tác phẩm, tiêu biểu là Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu) và Thân phận tình yêu (Bảo Ninh).
Đi suốt Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo - Khối vuông ru-bích - 1985), chân thực và ấn tượng bởi hình tượng nhân vật - trữ tình. Hình như con-người-thực của hình tượng này lại có sự đồng điệu, tràn đầy hứng khởi với con-người-phong cách của Thanh Thảo: phóng túng và suy tư mà cũng rất đỗi chân thành. Cảm xúc và ý tưởng ấy lại hợp hòa với giọng điệu thơ tượng trương - siêu thực - một trường phái thi ca và nghệ thuật ở phương Tây, ở Pháp đầu thế kỷ XX. Có lẽ cũng bởi thế, từ tên bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca cùng lời đề từ của chính nghệ sĩ Tây Ban Nha (Ph.G. Lor-ca), vừa mang tính khách quan của sự phản ánh một con - người, lại vừa chứa đựng sự kí thác tâm tư của một nghệ sĩ đa tài - xứ xở đất bò tót và những cuộc chiến của những dũng sĩ - có từ thời xa xưa...
Báo Bình Định online sáng 25/04/2012 đưa tin về việc thầy Trương Tham – nhà giáo ưu tú, nhà phê bình văn học, Hội viên Hội văn nghệ tỉnh Bình Định vừa từ trần lúc 15 h 53’ ngày 24/04/2012, tức ngày 04/ 04 năm Nhâm Thìn tại bệnh viện Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, viết như sau: “Nhà giáo Ưu tú (NGƯT) Trương Tham đã từ trần vào chiều 24.4. Trong cuộc đời dạy học, ông đã góp phần đào tạo rất nhiều học sinh xuất sắc. Trong thời gian giảng dạy tại Trường THPT Trưng Vương (TP Quy Nhơn), ông đã đào tạo 126 học sinh giỏi cấp tỉnh, 30 học sinh giỏi cấp quốc gia. Là người hiếm hoi làm công tác phê bình văn học ở tỉnh ta, ông đã cho ra đời 2 tập sách “Cảm nhận và Bình thơ” (NXB Văn hóa Thông tin, 2005), “Thơ và Bình thơ” (NXB Hội Nhà văn, 2009)…”
Từ khi còn chưa bén mảng đến cửa văn đàn, tôi đã quen với cái tên Thao Trường. Trong một tác phẩm của ông hình như có tên là Miền đất mặt trời, tôi còn rất thích cái giọng tếu táo đậm đặc chất dân dã của ông. Ông có lối ví von rất hóm và rất…đĩ! Nhưng ấn tượng của tôi về ông hồi đó chỉ như vậy.
Năm 1969, lúc nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên xuất bản tự lực với những tập thơ còn mang nặng nét học trò, tôi và Lưu Nhữ Thụy nhiều phen bay về Biên Hòa tìm thăm, để trả lễ những dịp Nhiên về Sài Gòn thăm tôi. Sự bộc phát hình như là một định mệnh, không thể ngờ trước được, khi tập Thiên Tai ra đời năm 1970 lúc Nguyễn Tất Nhiên vừa 18 tuổi, bỗng nhiên tên tuổi Nguyễn Tất Nhiên bùng vỡ một cách ngoạn mục.
Tác giả Lê Xuân từ Cần Thơ tiếp tục nói về Nguyễn Huy Thiệp trên báo Văn Nghệ TPHCM: “Bây giờ Thiệp chỉ còn lại cái danh “nhà văn” gắn với “nghề viết” kể từ khi được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam (1990). Cái danh ấy đã “vận” vào Thiệp, tôn Thiệp lên đến mức nào mà Thiệp bảo là “cao”. Còn cái “họa” thì Thiệp đã gặp bao nhiêu mà bảo là “nhiều”? Thiệp tuyên bố dõng dạc tự khoe nhưng tỏ vẻ khiêm tốn: “Tôi tự hào là nhà văn gây cảm hứng cho nhiều người viết trong hai mươi năm qua, nhưng tôi cũng biết thân biết phận, danh càng cao thì họa càng nhiều, điều dó chẳng hay ho gì đâu”. Muốn biết cái danh ấy của Thiệp là “chính danh” hay “ngụy danh” thì cứ xét theo lời Thiệp nói và việc Thiệp làm là thấy ngay”.
Người nghệ sĩ tồn tại ngay trong cõi đời này nên “anh cũng là thằng hay nói khoác như ai”. Đời là thế đó nhưng công việc và nhiệm vụ của nó thì đã mấy ai hiểu được, họ “cứ yêu, nói khoác, uống rượu” để tìm ra những nghịch lý, những mâu thuẫn từ đống bụi bặm, rác rưởi của cuộc đời. Họ say mê nghiên cứu, say mê lý giải để không ngừng khám phá mọi giới hạn, mọi biên giới của cái đẹp. Thanh Thảo phát hiện, cái đẹp có trong tất cả, cái đẹp lẫn khuất khắp nơi nơi…
Trong những ca khúc đầy tâm trạng hoài hương, mang nỗi buồn man mác như: Làng tôi (Chung Quân), Hướng về Hà Nội (Hoàng Dương), Quê mẹ (Thu Hồ), Làng tôi (Văn Cao), Ngày về (Hoàng Giác)... thì Thuyền viễn xứ của Phạm Duy dù có buồn nhưng giai điệu khác hẳn: lạ hơn, sang trọng hơn...
Không lệ thuộc hay-dở, mới-cũ, hiện đại-truyền thống, cách tân-cổ điển… Có những tác giả của dòng thơ này không tạo động, cứ lặng lẽ trôi với chân giá trị riêng. Trên văn đàn cũng như giữa công chúng, đó không hẳn là các sáng tác “có vấn đề”. Nhưng với quan niệm mỹ học và nghề nghiệp, đó là những sáng tạo gây ám ảnh và âm ỉ - một trong các nhận dạng của thơ.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.