Hồi nhỏ, đã được đọc qua cuốn Những bước lang thang trên hè phố của Gã Bình - Nguyên Lộc (Nhà xuất bản Thịnh Ký, 1966), tôi chưa thấy hết giá trị của tấm lòng dành cho Sài Gòn của nhà văn này. Sau 1975, tới lui khu vực Đồng Tiến - Mã Lạng khá nhiều như một sinh viên rồi người đi dạy ở khu vực đó, đột nhiên thường trở về trong trí tôi những dòng ông viết về Sài Gòn, cái thành phố mà nhà văn Bình - Nguyên Lộc đã trưởng thành và sáng tác sung sức nhứt trong suốt 36 năm.
Trời ngả về chiều, bỗng tôi nghe thấy một giọng hát trầm ấm, nhừa nhựa vang lên ở đầu ngõ Hà Hồi, hát rất to một bài hát bằng tiếng Pháp: "J'ai deux amours/ Mon pays et Paris/ Par eux toujours/ Mon coeur est ravi". Giọng hát nghe quen quen, chưa kịp nhận ra ai thì tiếng hát lại cất lên, lặp lại đúng câu lúc nãy: "J'ai deux amours/ Mon pays et Paris….". Đúng là bác Nguyên Hồng rồi, tôi vội chạy ra ngõ…
Tôi muốn đi sâu vào mối quan hệ giữa văn chương và chính trị vốn là một vấn đề lý luận căn cốt mà nhạy cảm nhiều khi đến mức nóng bỏng qua cuốn tiểu thuyết Chân mây khép mở (*) của nhà văn Hoàng Yến được hoàn thành trong thời kỳ Đổi mới và chính thức ra mắt vào năm 1991.
Tôi nghĩ, hình như đã có một sự thiếu sót khi văn học sử Việt Nam chưa đặt nhà thơ Nguyễn Viết Lãm ở một vị trí xứng đáng hơn với tài năng, nhân cách và công lao của ông. Chúng ta đều biết có những tác giả được tôn vinh chỉ với một bài thơ, thậm chí chỉ với một câu thơ…
Lâm Thị Mỹ Dạ là một nhà thơ trưởng thành trong phong trào chống Mỹ. Nhắc đến thơ chị, người ta thường nhớ đến những bài thơ mang đậm âm hưởng sử thi như Khoảng trời, hố bom, hoặc dịu dàng, nữ tính nhưng không kém phần thẳng thắn như Anh đừng khen em, hoặc nồng cháy yêu đương như Không đề…
Cùng với tuyệt tác Truyện Kiều và một số tác phẩm chữ Nôm, Đại thi hào Nguyễn Du còn để lại 250 bài thơ chữ Hán trong ba tập “Thanh Hiên thi tập”, “Nam Trung tạp ngâm” và “Bắc hành tạp lục”. “Thanh Hiên thi tập” với 78 bài thơ ông viết trong mười năm gió bụi ở quê vợ Quỳnh Phụ (Thái Bình), sáu năm dưới chân núi Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) và năm đầu ra làm quan dưới triều Gia Long, kéo dài khoảng 17 năm từ 1786 đến 1803. “Nam Trung tạp ngâm” với 40 bài viết ở Phú Xuân, Quảng Bình trong khoảng thời gian 10 năm từ 1804 đến 1813. Riêng với “Bắc hành tạp lục”, chỉ trong 14 tháng đi sứ Trung Quốc từ tháng 2 năm 1813 đến tháng 4 năm 1814, có tất cả 132 bài, chiếm quá một nửa số tác phẩm thơ chữ Hán.
Khởi thủy là sự lặng im, bóng tối và khoảng trống. Lạnh như một thuộc tính ban đầu của sự đông cứng và tiếng khóc của hài nhi đã khiến mọi vật chuyển động, như thi sĩ Ngô Kha đã cảm nhận “sự sống từng giờ lay động bằng tiếng khóc trẻ thơ”, và giọt nước mắt đầu tiên đã hóa thành mặt trời.
Đang ngồi dự đám cưới thì điện thoại reo lên, bên kia là của nhà văn Nguyễn Đặng Mừng, anh báo là có anh Nguyễn Đức Tùng đang ngồi ở Rất Huế, em thu xếp ghé Rất Huế để anh em gặp nhau tý nhé … Tôi nói sẽ cố gắng ghé, vì đang ngồi ở tiệc cưới.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.