“Nam Phong có vai trò quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam, nó cũng đã gây một ảnh hưởng rất sâu xa trong giới trí thức Việt Nam trước kia”. Thế nhưng nhận định về mục đích ra đời, về tên gọi và việc đóng cửa của tạp chí văn học này, hiện vẫn có tình trạng mỗi người một phách, một phán đoán riêng, có chỗ suy diễn tùy tiện, thiếu căn cứ. Để góp một chút tư liệu cho các bạn đọc quan tâm, chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của Huỳnh Văn Tòng, người đã từng bảo vệ luận án tiến sĩ về Lịch sử báo chí Việt Nam tại Đại học văn khoa và Khoa học nhân văn ở Paris (Sorbone) năm 1971.
Tôi có cảm tình ngay với cái tựa đề rất ấn tượng của truyện ngắn này, cho dù, cái tên Nguyễn Hương Duyên, với tôi, còn rất lạ lẫm. Và càng đọc, tôi càng bị chinh phục bởi một giọng văn rút ruột đến não nùng. Hơi văn vừa đẹp vừa buồn, vừa day dứt, nén sâu lại vừa dữ dội và u uẩn. Văn thì bay lên mà câu chuyện buồn lại trì níu câu chuyện trôi đi. Trôi và bị níu, đó là cảm giác của tôi khi đọc "Bến đợi nhọc nhằn" của Nguyễn Hương Duyên. Bạn thử đọc đọc văn này của Duyên xem: "Sau lần đánh mất sự trinh trắng của mình, lần thứ hai tôi cay đắng nhận ra niềm kiêu hãnh còn lại cuối cùng của tôi dành cho mẹ giờ không còn nơi bấu bíu. Đau đớn thay, tôi phải thừa nhận rằng, nhờ cái đêm rừng núi lạnh lẽo ù ù gió hú không đáng nhớ ấy tôi mới có thể hiểu cha và tha thứ cho mẹ" (TS Mai Bá Ấn)
Chúng tôi bắt đầu cuộc phỏng vấn với một thoả thuận nho nhỏ: sẽ chỉ nói chuyện về Linh - Đàn bà, còn nhà thơ Vi Thuỳ Linh - đừng "động" đến cô ấy! Nhưng khi vào chuyện, cuối cùng Linh vẫn vòng về thơ say sưa, như một phẩm tính mãnh liệt. Linh bảo, đó là tình yêu nhiều khổ luỵ và nồng nàn tuyệt đối của cô…
Mới đây, nhà thơ Nguyễn Duy còn làm chuyến du khảo văn hoá xuyên Việt cùng với kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn, nhà văn Nguyễn Trọng Tín và 3 phóng viên bằng ôtô trong gần một tháng. Chuyến đi này, theo ông, nhằm mục đích tiếp xúc, khảo sát, tìm hiểu về văn hóa, ẩm thực, lễ hội khắp ba miền đất nước. Ông khoe với bạn bè: “Tôi đã nhiều lần đi từ Bắc vào Nam, cả đường bộ và đường không. Thế nhưng, làm tài xế lái ôtô xuyên Việt thì là lần đầu. Không thể tả được cái thú là muốn dừng lại ở đâu, muốn ghé chỗ nào tùy thích. Quá nhiều ấn tượng”. Với ông, đó là chuyến du khảo đầy ý nghĩa. Văn hóa, ẩm thực của đất nước ta thật phong phú, kỳ lạ. Ông cho biết: “Tôi nghĩ, ẩm thực của dân tộc mình xứng đáng được đề xuất công nhận di sản văn hóa, nhưng không biết là xếp vào loại nào: vật thể hay phi vật thể, bởi vì cái ăn không chỉ thể hiện qua vật chất cụ thể mà còn thể hiện cái phong cách, cái nết của con người. Nếu không bảo tồn văn hóa ẩm thực thì với tác động của thời cuộc, văn hóa ẩm thực sẽ bị mai một dần bản sắc. Mục đích của chuyến đi là khi trở về sẽ ra cuốn sách biên khảo về văn hóa, ẩm thực 3 miền. Cái đó, chúng tôi đang xúc tiến hoàn thành”.
Vợ chồng Thanh Tùng đặc biệt hay cãi nhau về …thơ trong bữa ăn.Tôi luôn phải làm nhiệm vụ hòa giải mỗi khi gặp nghịch cảnh đó. Chị Nhàn luôn phản ứng với thơ bỏ vần của chồng. Ngay cả khi anh được giải thưởng chính thức Văn học công nhân của Tổng Công đoàn đến hai lần. Chị bảo nếu thơ có vần, chắc được giải cao hơn (!) Người phụ nữ này đã từng làm Thanh Tùng dịu đi những gì thô tháp, làm trong lại những gì bụi bậm trong anh, nhưng chính chị đã cho anh biết những đau khổ lớn của kiếp người: yêu đến man dại và ghen đến điên cuồng. Khi hai người chưa chia tay nhau, lòng ghen ấy hướng về quá khứ. Lúc tình yêu thăng hoa nhất, vẫn len lỏi một bóng mờ dĩ vãng của mối tình đầu “Trong câu thơ của em/ anh không có mặt”… Họ đã qua mối tình đầu dại khờ thời trẻ, nhưng mối tình đó ai ngờ lại là bất tử…Trong trạng thái ấy, bài thơ Thời hoa đỏ ra đời. Mỗi người trong cuộc tình đều bị cánh hoa mang lửa này đặt một “vết xước vào trái tim”, vết thương tinh tế mà sắc lẻm, nỗi đau không trào máu mà rỉ máu…
Bắt đầu viết văn khi còn là… nhân viên nhà nghỉ, rồi chuyển qua làm phục vụ quán karaoke, làm tour guide… sau đó mới đi học đại học, đến nay Nguyễn Văn Học đã trình làng tới 7 tiểu thuyết.
Hỡi ơi, lối phê bình ấy Barthes đã gọi thẳng ra là lối “đọc tiêu thụ”. Nhà phê bình – đứa em tôi đòi còi cọc ấy của tác giả phải bị chôn vùi để khai sinh một kiểu đọc và phê bình khác trước: những nhà phê bình của văn bản – người sản xuất ra sự đọc của chính mình.
Sinh ra trong một gia đình đại trí thức, quý tộc, ngay từ giai đoạn đầu sáng tác, Aleksandr Blok đã có thiên hướng thần bí. ông chịu ảnh hưởng mạnh học thuyết duy tâm của Solovyov. Đặc biệt, tập thơ đầu tay có tên gọi "Thơ về người đàn bà kiều diễm" (xuất bản năm 1904) của Blok đã mang âm sắc kinh nguyện nhà thờ.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.