Tôi nghĩ, hình như đã có một sự thiếu sót khi văn học sử Việt Nam chưa đặt nhà thơ Nguyễn Viết Lãm ở một vị trí xứng đáng hơn với tài năng, nhân cách và công lao của ông. Chúng ta đều biết có những tác giả được tôn vinh chỉ với một bài thơ, thậm chí chỉ với một câu thơ…
Lâm Thị Mỹ Dạ là một nhà thơ trưởng thành trong phong trào chống Mỹ. Nhắc đến thơ chị, người ta thường nhớ đến những bài thơ mang đậm âm hưởng sử thi như Khoảng trời, hố bom, hoặc dịu dàng, nữ tính nhưng không kém phần thẳng thắn như Anh đừng khen em, hoặc nồng cháy yêu đương như Không đề…
Cùng với tuyệt tác Truyện Kiều và một số tác phẩm chữ Nôm, Đại thi hào Nguyễn Du còn để lại 250 bài thơ chữ Hán trong ba tập “Thanh Hiên thi tập”, “Nam Trung tạp ngâm” và “Bắc hành tạp lục”. “Thanh Hiên thi tập” với 78 bài thơ ông viết trong mười năm gió bụi ở quê vợ Quỳnh Phụ (Thái Bình), sáu năm dưới chân núi Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) và năm đầu ra làm quan dưới triều Gia Long, kéo dài khoảng 17 năm từ 1786 đến 1803. “Nam Trung tạp ngâm” với 40 bài viết ở Phú Xuân, Quảng Bình trong khoảng thời gian 10 năm từ 1804 đến 1813. Riêng với “Bắc hành tạp lục”, chỉ trong 14 tháng đi sứ Trung Quốc từ tháng 2 năm 1813 đến tháng 4 năm 1814, có tất cả 132 bài, chiếm quá một nửa số tác phẩm thơ chữ Hán.
Khởi thủy là sự lặng im, bóng tối và khoảng trống. Lạnh như một thuộc tính ban đầu của sự đông cứng và tiếng khóc của hài nhi đã khiến mọi vật chuyển động, như thi sĩ Ngô Kha đã cảm nhận “sự sống từng giờ lay động bằng tiếng khóc trẻ thơ”, và giọt nước mắt đầu tiên đã hóa thành mặt trời.
Đang ngồi dự đám cưới thì điện thoại reo lên, bên kia là của nhà văn Nguyễn Đặng Mừng, anh báo là có anh Nguyễn Đức Tùng đang ngồi ở Rất Huế, em thu xếp ghé Rất Huế để anh em gặp nhau tý nhé … Tôi nói sẽ cố gắng ghé, vì đang ngồi ở tiệc cưới.
Dường như trong mỗi thời kì xã hội có sự biến động mạnh mẽ thì vấn đề “trung tâm – ngoại biên” lại được đặt ra. Hiện tượng văn hóa văn học chiếm vị trí trung tâm là hiện tượng được phần lớn xã hội ủng hộ, đông đảo người sáng tạo lẫn người tiếp nhận hưởng ứng, trở thành một thứ “quyền lực” có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng không chỉ đến công chúng, xã hội, mà còn ảnh đến các hiện tượng khác trong một hệ thống, có thể đại diện tiêu biểu cho diện mạo của văn hóa, văn học trong một thời kì lịch sử nhất định.
Với nỗ lực hoàn thiện và phát triển, văn học đương đại, đặc biệt giai đoạn từ 1986 đến nay, đã chuyển mình mạnh mẽ để tham gia vào diễn trình hiện đại và hậu hiện đại của văn học thế giới với những gương mặt tiêu biểu, trong đó có Hồ Anh Thái. Bài viết này phác thảo một Hồ Anh Thái qua những biểu hiện của văn học hậu hiện đại trong truyện ngắn trên một số phương diện chính: hệ thống đề tài, nhân vật và ngôn từ nghệ thuật.
Lịch sử phát triển của văn học xét cho cùng cũng là lịch sử phát triển của thể loại. Qua mỗi chặng đường phát triển, văn học sẽ hình thành nên những thể loại mới. Kí là một thể loại tiêu biểu, xuất hiện khá mới nhưng cũng khá phức tạp trong văn học Việt Nam hiện đại. Được xem là một thể loại rất cơ động, linh hoạt, nhạy bén, kí ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống con người và xã hội ở cái thế trực tiếp và tươi mới nhất.
Một buổi sáng cuối thu Hà Nội, có một người nhỏ thó đến tìm gặp tôi. Đó là ông Khúc Ngọc Chân, từng chơi cello ở Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Ông nói rằng ông có bài thơ về tổ tiên được khắc trên bia đá tại đền thờ họ Khúc ở quê. Dần dà, ông bắt đầu kể cho tôi nghe về hoàn cảnh ra đời của ca khúc Nỗi lòng người đi mà chính ông là tác giả với cái tên đầu tiên là Tôi xa Hà Nội.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.