Nhiều nhân sĩ Tây Ban Nha yêu nước đã kêu gọi các nghệ sĩ đừng “sùng ngoại” thái quá mà phải biết giữ gìn bản sắc thi ca dân tộc. Nhờ đó, đã xuất hiện nhóm nghệ sĩ tân tiến kết hợp những cách tân của Siêu thực với nguồn mạch thi ca dân tộc, với các làn điệu dân ca. Lorca là một trong số đó. Con đường Lorca đi, ở Thanh Thảo cũng đâu khác. Những dấu ấn văn hóa, tinh thần Việt vẫn luôn hiện diện trong dáng vẻ Siêu thực của Thanh Thảo. Vậy nên bài thơ viết về Lorca của ông đã đạt đến mức nhuần nhị của một áng thơ đậm hương vị Siêu thực Việt. Qua đó, người đọc có thể nhận thấy cả Siêu thực của Breton, Siêu thực của Lorca lẫn Siêu thực của Thanh Thảo. Đây là đóng góp rất đáng trân trọng của Thanh Thảo cho nền thơ hậu hiện đại Việt Nam.
Có một thi sĩ quá chán với ba thứ thơ mây hoa trăng gió. Anh ta nghĩ rằng làm thơ về ruồi cũng dễ thương chứ sao. Anh ta ghét kiểu mỉa mai của Aziz Nesin đối với ruồi. Anh nghĩ đó là thứ khệnh khạng của mấy người đắc đạo học đòi. Anh ta yêu mến những con ruồi thật sự. Thế là ruồi hiện lên trong thơ anh thật đẹp và dễ thương chưa từng có. Từ ánh mắt lồi lên như một gương cầu, lấp lánh phản chiếu còn hơn cả cầu vồng. Những chiếc chân li ti rung như lông mày nàng Huyền Trân chớp mắt. Từ hai cánh mảnh mai bay thành những giai điệu vi vu mà chưa chắc tiếng sáo chàng Trương Chi so nổi... Ai cũng thấy nhờ anh mà ruồi có một vị trí trong lòng người yêu thơ, không chỉ lơ ngơ bên toa lét.
Với thơ Hoàng Nhuận Cầm, nhiều chỗ ta chẳng cần phải giải thích dài dòng mà chỉ đơn thuần đọc lên thôi - đọc đúng như giai điệu tác giả quy ước trong bài thơ của anh, là bạn đọc có thể cảm được cái hay, cái đẹp của nó. Với nội dung bay bướm, hướng về tuổi trẻ, cách diễn đạt nhuần nhị, trong sáng, cộng với cái du dương, quặn siết của giai điệu, thật dễ dàng để thơ Hoàng Nhuận Cầm chinh phục được đông đảo bạn đọc, nhất là bạn đọc thuộc lứa tuổi học sinh, sinh viên. Từng có thời, Hoàng Nhuận Cầm được coi là “ông vua thi sĩ” của tuổi học đường.
Sinh thời, nhạc sĩ Trần Hoàn luôn tự nhận mình là “nhạc sĩ không chuyên”, bởi trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, ông đều được bố trí vào những chức vụ quản lý. Tuy thế, gia tài âm nhạc mà ông để lại hầu hết là những ca khúc tuyệt hay.
Trương Nam Hương, sinh năm 1963, gốc Huế, Hội viên Hội Nhà Văn Việt với 10 tập thơ đã xuất bản và nhiều giải thưởng văn học trong gần 30 năm cầm bút. Anh hiện là Ủy viên BCH Hội Nhà văn TP HCM, Ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam.
Trong tập thơ “Chất vấn thói quen”(*), Phan Hoàng muốn vứt bỏ những thói quen tưởng chừng như đã hóa đá, đóng băng trong tâm thức của con người. Sự thờ ơ, đồng lõa ấy khiến Phan Hoàng bất bình "chất vấn thói quen". Theo anh, cần phải vươn mình về phía trước, cần vứt bỏ những thói quen cũ, những sự lặp lại chán chường để bùng cháy những vùng mỹ cảm mới, dâng đời những vị ngọt, mặn, chát, đắng... lạ. Đó là tương lai của cuộc sống và con đường đi tới của sáng tạo nghệ thuật.
Trên văn đàn Việt, những bài thơ “xuất thần” của Hoàng Cầm mang một giọng điệu hết sức lạ lùng, tứ thơ cũng thật lạ. Chính ông đã cho ra đời một thứ lá mà không ai có thể tìm thấy trên thế gian này: lá diêu bông!
Sáng 9/4 tại Viện Văn học Việt Nam đã diễn ra Toạ đàm khoa học nhân 80 năm Thơ mới. Nhiều nhà nghiên cứu, khoa học đã đưa ra những vấn đề gợi mở, đáng phải cân nhắc khi tiếp cận một hiện tượng thơ ca của thế kỷ XX đã qua.
Nguyễn Trãi – vị anh hùng dân tộc, một nhà văn hoá xuất sắc, một nhà chính trị sáng suốt, một nhà quân sự lỗi lạc, một nhà ngoại giao thiên tài, một nhà thơ lớn, một nhà lý luận văn nghệ kiệt xuất. Ông là người trí thức từ tinh hoa của dân tộc. Ông đã để lại cho hậu thế một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ. Ông là một trong những tác giả viết nhiều nhất thời trung đại Việt Nam.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.