Xây dựng hình tượng Bác Hồ là một ý nguyện, một say mê lớn của nhiều nhà văn nhà thơ Việt Nam. Tố Hữu, rồi Chế Lan Viên, Minh Huệ hay Hải Như... mỗi người, đã hiến cho văn thi đàn Việt Nam hiện đại một số nét đặc sắc về hình tượng này.
Trên lĩnh vực văn xuôi, có lẽ cho đến nay, chưa có ai viết về Bác Hồ và gây được sự xúc động mãnh liệt, sâu xa và lâu bền như nhà văn Sơn Tùng.
Mà đúng là trong đời, Mai chỉ thần tượng có hai người: một là Trần Mai Ninh, và hai là Hemingway. Đều là hai nhà thơ nhà văn ưa mạo hiểm và sống lãng tử. Trần Vũ Mai cũng vậy. Anh đã mạo hiểm trong chiến tranh. Và mạo hiểm cả trong hoà bình. Ngay cái chết của anh cũng mơ hồ và bí ẩn như cái chết của Trần Mai Ninh và Hemingway. Dù là chết trong hoà bình.
Người ta không thể hình dung hết những tôn kính mà nhiều người dành cho Phạm Công Thiện. Bất kể là anh đã từng sống rất đời thường, hệt như bao nhiêu người khác giữa phố chợ trần gian. Bất kể là anh cũng viết báo lung tung, cũng một thời tranh luận từ trước 1975 tại Sài Gòn, và rồi lại viết báo tranh luận tại Los Angeles thời 1980 sau này. Và bất kể là anh uống rượu cũng tưng bừng, cũng mấy lần vợ con, cũng thích hút thuốc lá, cũng nhiều thứ rất trần gian... Nên thấy, trong những người tôn kính Phạm Công Thiện có nhiều vị sư, có nhiều nhà thơ, và tôi tin là không thể đếm hết.
Kỷ niệm 65 năm Hồng quân Liên Xô thắng phát xít Đức (09/5/1945-2010), là một người yêu nước Nga và mê đắm văn học Nga, nhà thơ Thanh Thảo bày tỏ cảm xúc mình về những bản nhạc Nga mà mình từng say mê nhân ngày kỷ niệm trọng đại này.
Tôi thích cách cãi vã của Đỗ Minh Tuấn từ đó. Khi anh cãi là để bảo vệ những điều tốt đẹp, thì sợ gì mà không cãi, cho ra ngô ra khoai. Lâu lâu ra Hà Nội gặp Đỗ Minh Tuấn, tôi lại “khích” cho Tuấn…cãi chơi, cho vui. Nhưng anh chàng này khôn chán, nói anh khích em làm gì, em chỉ “vào cuộc” khi nhận thấy không…cãi không được mà thôi! Nói thế thì tôi chịu rồi.
Theo Hoàng Cầm Về Kinh Bắc, tôi luôn bị ngợp giữa một thi giới lạ lùng: chưa hân hoan đã nghẹn ngào, đầy nhục cảm cũng đầy bi cảm, âm khí nặng nề, dương khí phiêu tán. Thi sĩ hiện hình trong đó vừa như một gã phù du vừa như một tay phù thủy. Những cảm giác ấy mê hoặc tôi, vây khốn tôi, dẫn dụ tôi đi suốt cõi thơ Kinh Bắc ấy.
Hoàng Cầm luôn tin thơ đến từ một xứ sở mầu nhiệm. Ông không ngần ngại thổ lộ rằng, những bài thơ thành công nhất của ông đều nhờ ghi chép lại từng câu, từng chữ vọng về phía một giọng đọc bí ẩn. Phương pháp làm thơ kỳ diệu của Hoàng Cầm có lẽ tôi và nhiều người không thể cắt nghĩa được rõ ràng. Tuy nhiên, đọc chính thơ ông, chúng ta dễ dàng nhận ra những mối tình đeo đẳng suốt cuộc đời nhà thơ. Phía sau mỗi bài thơ của Hoàng Cầm đều có bóng hình một người phụ nữ nết na, cam chịu và mờ tỏ. Mối tình chị - em không chỉ xuất hiện trong “Lá diêu bông” mà vẫn dan díu trong nhiều bài thơ khác của Hoàng Cầm. Thật lạ, mối tình chị -em luôn bật ra những câu thơ đẹp ngơ ngác và buồn day dứt thường trực tự tấm lòng si mê của Hoàng Cầm...
Chúng tôi đã có một cuộc hội ngộ sau chiến tranh thật cảm động tại Huế, cùng với những người bạn mới như Nguyễn Quang Hà, Trần Phá Nhạc, Lê Văn Ngăn, Trịnh Công Sơn…Hai ngày đêm ở Huế là một kỷ niệm thật đẹp của chúng tôi với anh Đồng. Những dịp hội ngộ như thế về sau này rất khó diễn ra. Nên khi được anh Trần Nguyên Vấn đề nghị viết một cái gì đó về anh Nguyễn Văn Đồng cho một tập sách tưởng niệm anh, tôi chỉ có thể viết lan man như thế này.
Bao nhiêu năm trôi qua, vật đã đổi và sao đã dời, nhưng giọng đọc thơ của thầy Mai hơn 40 năm trước tôi vẫn còn nhớ như in. Đó là một giọng chất chứa, như thổ lộ tâm trạng mình qua thơ người, và ẩn một mối đồng cảm sâu xa giữa những người nghệ sĩ “xếp bút nghiên lên đường kháng chiến” muốn chia sẻ với nhau những được và những mất, trong cái không khí kháng chiến chống Pháp nó khác hẳn với thời chúng tôi đi chiến trường sau này. Vâng, tôi có được chút gì sau này cũng chính nhờ những lớp học thời sơ tán ấy, nhờ được nghe một giọng đọc thơ lạ lùng ngày ấy.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.