Rằm Nguyên Tiêu, ngày thơ Việt Nam. Cả nước sẽ tổ chức đọc thơ, ngâm thơ, thả thơ, trình diễn thơ. Trước khi đọc thơ các nơi đều chào LÁ CỜ THƠ. Bạn có biết ai là người đã vẽ ra lá cờ thơ? Đó chính là nhà thơ-nhạc sĩ- họa sĩ Nguyễn Trọng Tạo. Đây là bài viết về những kỷ niệm với con người tài hoa này…
Một bất ngờ nữa, cho tới khi được ở cùng phòng, được hầu chuyện các bậc đàn anh tôi mới hay rằng nhà văn Nguyễn Minh Châu từng là “nhà quân sự”, làm cái công việc chẳng dính dáng gì đến viết văn - nghề trinh sát! (trích ngang của nhà văn ghi vậy). Tôi hỏi ông chuyện thực hư. Ông cười rũ và kể, trong kháng chiến chống Pháp, ông là lính đại đoàn Đồng bằng. Bấy giờ khoa học quân sự chưa phát triển, thấy ông là học sinh trung học tòng quân, cấp chỉ huy liền “tóm” lấy, biên chế ngay vào đại đội trinh sát. Có chút chữ nghĩa nên ông dễ dàng “đọc” bản đồ, đo đạc cự li và sử dụng tốt... ống nhòm.
Lời tác giả: Nhận được tin nhà thơ Lê Bính đã mất, tôi nhớ lại những ngày ấu thơ cùng những kỷ niệm với nhà thơ quê hương Lê Bính. Xin gửi tới Vanvn.net một bài tùy bút của tôi viết năm 1997 về nhà thơ Lê Bính, như một nén tâm hương vĩnh biệt nhà thơ.
Bài thơ xuôi dài «Khối vuông Ru-Bích» đã gây xôn xao trong làng thơ quen thuộc. Nhiều tiếng nói rất thủ cựu : Thơ gì mà cầu kỳ, rắc rối, mà chẳng biết cái khối vuông ru… gì đó có phải là thơ không trước đã? Nhiều tiếng nói khác lại lên tiếng tán thưởng, hoan hô nhiệt liệt: Đó là thơ thứ thật, nói thật, nghĩ thật, viết thật táo bạo, mới mẻ, chừng đó trang chữ mà đưa đến sức gợi, sức nghĩ thật sâu xa, hàm súc mà đầy triết lý.
Tôi đi thực tế sáng tác suốt cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc từ năm 1978, nổ súng năm 1979 và rải rác kéo dài đến năm 1984. Một chiều, cuối tháng 4. 1979, rất tình cờ, tôi được đọc trên báo Nhân Dân về một nữ công nhân lâm trường đã đưa giặc vào bãi mìn. Tôi rất xúc động viết luôn bài thơ dài này, tái hiện lại 100 bước cuối cùng trong một đời người, chị đã sống ra sao. Tác phẩm đã đăng báo và sau đó được in ở tập thơ Thành phố bên nàysông (1982) (*). Tôi rất biết ơn báo Nhân Dân đã cho tôi tư liệu và nguồn xúc cảm để tôi hoàn thành tác phẩm này và tôi lưu lại đây như một kỷ niệm về một quãng đời làm thơ của mình, ở một thời điểm có một không hai của lịch sử đất nước trong thế kỉ XX.
Nguyễn Minh Phúc và tôi chưa một lần gặp mặt. Chúng tôi thường đọc tác phẩm của nhau trên các website văn học. Ngày mùng 5 Tết Bính Thân, tôi nhận mail của Nguyễn Minh Phúc: "Nhớ quê quá ông ơi" và kèm theo bài thơ "Nhắn quê xa lắc tiếng kêu thầm". Ngạc nhiên. Xúc động. Tôi đọc một mạch bài thơ của Nguyễn Minh Phúc gửi Quảng Ngãi và bạn bè của anh
Thơ Nôm của Nguyễn Du: Truyện Kiều, Văn Chiêu hồn là những câu hỏi về xã hội, về đời người, kiếp người. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du cũng là một câu hỏi mãi mãi; ở trên là hỏi chung cho mọi người, ở dưới là hỏi cho mình nữa, hỏi thiết thân đến mình, nhưng mình đây chẳng qua là một bản người cụ thể, cá thể trong loài và kiếp người chung.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.