Người ta gọi nhạc Trịnh Công Sơn - ở một số ca khúc - là nhạc phản chiến . Tôi đồng ý với anh Phạm Duy, chữ "phản chiến" không đầy đủ ý nghĩa của nó, bởi vì chữ phản chiến nghe ra có vẻ kết án, có vẻ phải gánh chịu cái hậu quả của sự thất bại của Miền Nam . Tôi cho là chữ "thân phận" của người Việt thì khái quát hơn.
Nếu chỉ miệt mài đi tìm cái Đẹp và tránh cho thật xa cái vòng quan trường thì chỉ có những tờ báo ‘’ nhỏ’’ nhắc khi anh nằm xuống. Lúc chưa xuôi tay, nghĩa là khi còn cầm được cọ, pha được màu, và còn dùng cả những hộp diêm bé tí tẹo làm khung vẽ, chỉ có bạn bè nhắc đến anh. Như Nguyển Tuân chẳng hạn.
NGUYỄN HÀNH (1771-1824) được người đời đánh giá là một trong An Nam Ngũ Tuyệt, năm nhà thơ lớn tuyệt diệu Việt Nam trong thời đại cùng với chú ông là Đại thi hào Nguyễn Du (1766-1820) tác giả Đoạn Trường Tân Thanh.
Những người đọc và các nhà phê bình cực đoan hay đánh giá sáng tác của các nhà văn, nhà thơ theo sở thích cá nhân của mình. Họ đối lập Puskin và Gogol. Nhưng chúng ta sẽ không thể hình dung được văn học Nga có Puskin mà lại thiếu Gogol...
Ta đã làm chi đời ta ? Là một tập hồi ký, nhà thơ kể lại chuỗi ngày tháng lang thang lêu lổng với giới văn nghệ sĩ, những cuộc ngao du phiêu bồng đây đó thời thanh xuân tuổi trẻ trước 1954 ở miền Bắc.
Chất hào sảng, chinh chiến phong trần trong thơ – nhạc đã nói trên và cả con người Quang Dũng - chiến sĩ không chỉ có tài thơ mà còn là họa sĩ, nhạc sĩ - đã đánh trúng vào sợi dây cảm xúc bằng củabao chàng trai đang gian nan đời trận mạc, vào tâm hồn lớp thanh niên thời tao loạn.
Ở biển, chàng nhớ rừng. Về rừng, chàng khát biển. Về với biển, chàng lại bị rừng mê bắt mất phần hồn. Biết bỏ ai đây hỡi hai người tình “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”? Thì đành vậy, chia hai phần “rừng thương biển nhớ”, để “ta về mang cả rừng theo”.
Chỉ có nhóm Lý Biên Cương, Mai Phương, Nguyễn Hồng Hải là không cô nào chê hết bởi bài họ viết sạch chữ đẹp.Nhiều cô mê chữ và thích sắp bài viết của họ là vì thế. Trong số những bàn tay vàng ấy có Ngà, cô gái người Thuỷ Nguyên ( Hải Phòng) nàng rất sướng khi được giao sắp bài của Lý Biên Cương.
Đọc Nguyễn Anh Nông để tri nhận một chân dung, một hình hài sau chữ nghĩa rất cần xác lập một bối cảnh, nơi mà Nguyễn Anh Nông thuộc về, nơi anh được kiến tạo
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.