Đã nhiều lần tôi nói rằng: nếu chọn một nhà văn Việt Nam để dựng tượng trên đường mòn Hồ Chí Minh thì tôi chọn nhà thơ Phạm Tiến Duật. Mà không chỉ mình tôi chọn ông. Rất nhiều người được hỏi đều chọn ông…
Tôi đã thấy nhà thơ Thanh Thảo mang ơn từng con người nhỏ bé, vô danh trong chiến tranh; đã chờ đợi hàng buổi trước một nhà xuất bản để nhận chút nhuận bút mang về làm học bổng cho trẻ em ở Sơn Mỹ; đã chia sớt một phần giải thưởng của mình cho kẻ sa cơ; đã chống nạng mang một cuốn sách dày cộp từ Quảng Ngãi ra Hà Nội để tặng một người lầm đường…
Việt Nam là một đất nước từng chịu đựng chiến tranh triền miên. Những cuộc chiến tranh gần nhất không chỉ đeo đẳng kí ức những người tham chiến, những nhân chứng còn sống, mà còn lưu lại trong kí ức tập thể của cả cộng đồng. Văn chương góp phần không nhỏ trong việc bồi đắp kí ức cộng đồng đó. Cuộc kháng chiến chống Mĩ trường kì qua đi để lại một khối lượng tác phẩm văn học đồ sộ. Chiến tranh biên giới phía Bắc và chiến tranh biên giới Tây Nam tuy không kéo dài đằng đẵng nhưng cũng đầy ám ảnh như mọi cuộc chiến tranh, và người ta vẫn viết về chúng không ngừng. Từ những tác phẩm đầu tiên ra đời trong khói lửa chiến trường Campuchia, dòng văn học về chiến tranh biên giới Tây Nam sau hơn bốn mươi năm vẫn góp nước để dòng chảy lớn của văn học chiến tranh nói chung chưa bao giờ thôi cuồn cuộn trên đất nước này.
Trước những phán xét, những luồng ý kiến trái chiều, bản thân Ly Hoàng Ly và Ban biên tập đều im lặng. Bỏ qua những quy kết và đố kị cá nhân, cuộc tranh luận cho thấy những khoảng cách và độ chênh rất lớn trong ngưỡng tiếp nhận của bạn đọc, phần đông là trong giới Văn nghệ sĩ.
Trong vòm xanh lộng gió kia, sẽ mãi còn những mùa xanh xưa Quang Dũng. Đó là những mùa xanh lộng lẫy và thanh cao, kết tinh niềm say mê tận hiến cho sự bất tử của Tổ quốc và vẻ đẹp của con người.
Thế là anh kéo chúng tôi đến thăm ông Đinh Quý Lân (thường gọi gọn là Đinh Lân) trên 80 tuổi – nhưng anh em thường thân mật gọi bằng anh – đã định cư ở Đà Lạt gần 30 năm. Trong cuộc chuyện trò ông nhắc đến nhiều văn nghệ sỹ cùng thời: nhạc sỹ Hoàng Vân, họa sỹ Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Văn Giáo, Nguyễn Tuân, Văn Cao… Nhưng câu chuyện ông kể ấn tượng nhất là về nhà thơ Quang Dũng.
Giai đoạn từ sau 1975 đến nay,... theo dòng chảy của thời cuộc, cái mới trong thơ lục bát ở giai đoạn này là thơ đã chuyển đề tài sang những vấn đề của thời hậu chiến, trong đó thể tài thế sự, đời tư được các nhà thơ đưa vào “tầm ngắm” với rất nhiều những trăn trở, suy tư về đất nước, về con người. Mạch cảm hứng này chúng ta dễ dàng bắt gặp trong thơ của Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn, Đỗ Trọng Khơi, Mai Văn Phấn, Mai Bá Ấn và nhiều nhà thơ trẻ khác.
Những cái hay, cái đẹp, cái tinh, cái quái trong Lục bát Bùi Giáng đã được nhiều người bàn đến. Nay, tôi xin được đề cập đến một mảng Lục bát không kém phần quan trọng trong thơ Trung Niên Thi Sĩ, đó là: Lục bát biến thể.
“Văn hóa và sinh thái Nam bộ qua thơ và trường ca Thanh Thảo” là tên một tham luận tôi tham gia Hội thảo khoa học quốc tế “Văn hóa và sinh thái Nam bộ trong văn học Việt Nam”. Để phù hợp với số trang Tạp chí, chúng tôi xin giới thiệu phần đầu và phần kết của tham luận.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.