Tồn tại trong thơ Trương Đăng Dung là một đời sống đã được gián cách hóa. Nhà thơ biết giữ khoảng cách để cái hiện thực sự kiện “sống sít” được lắng lại, và thông qua màng lọc tâm hồn, biến chúng thành cái hiện thực ưu tư. Chính khoảng cách này cho phép ông nhìn về thế giới không phải như nó là, mà nó trong sự hình dung là. Và bởi vậy, Những kỉ niệm tưởng tượng không chỉ là cái tên gọi, nó còn là chìa khóa để mở ra một hiện thực khác – hiện thực của thi ca.
Yếu tố đó sách Trung Dung gọi là: Mừng, giận, thương, vui chưa phát ra, ấy là Trung. Tác giả không truy cứu những khả năng đặc loại của chữ Tài nầy như khả năng tình cảm, ý chí, hay trí năng...để đưa ra những học thuyết duy lý, duy chí, duy cảm,... như truyền thống triết học khai thác. Chữ Tài được nêu lên hàm ngụ toàn bộ khả năng con người có thể có trong tay; và điều đáng suy nghĩ và đưa vào lãnh vực của tư tưởng lại ở phần sau chữ mà: cậy chi tài!
Có thể Dư Thị Hoàn là một phụ nữ bất hạnh trong đời thường, nhưng Dư Thị Hoàn lại là một nhà thơ may mắn trong thi ca. Chị xuất hiện đúng vào lúc không khí đổi mới của đất nước cho phép những tiếng nói khắc khoải và đau đớn cũng được trình bày trên văn đàn một cách bình đẳng với những âm thanh vỗ về và xưng tụng giữ vai trò chủ đạo trong sinh hoạt nghệ thuật Việt Nam suốt một thời gian dài. Hơn nữa, tập thơ đầu tay “Lối nhỏ” in năm 1988 của chị được vun đắp bởi Hội văn nghệ Hải Phòng thời những nhà thơ đất Cảng còn nguyên sự trân trọng đối với thơ.
Có những người, khi họ đã vĩnh viễn xa ta, ta mới nhận ra mình mất một cái gì quý giá. Bởi ngày thường, những người ấy vẫn sống lặng lẽ, thậm chí khuất lấp đâu đó giữa dòng đời. Nhà thơ Đỗ Nam Cao là một trong những người như vậy. Buổi sáng 8.11, khi nhận được tin anh trút hơi thở cuối cùng, tôi đã có một cảm giác trống rỗng trong lòng. Buổi trưa, khi ngồi đọc lại những bài thơ của anh vừa được bạn bè thu thập và đánh máy cho một tập thơ di cảo, tôi chợt hiểu: mình vừa mất một người bạn, và hơn một người bạn, mình đã mất một nhà thơ đích thực trong đời… Đọc lại thơ trong di cảo của Đỗ Nam Cao, tôi tin, nhiều bài thơ trong đó sẽ bình thản còn lại sau khi nhà thơ mất, và sẽ còn lại rất lâu. Giống như thơ Phùng Khắc Bắc đã còn lại sau khi anh mất...
Thơ Thanh Thảo cũng thế, đọc thơ là một hành trình tìm kiếm để rồi chợt thót mình ngạc nhiên và thú vị khi phát hiện ra những cái hoàn toàn mới mẻ mà từ trước cho tới bây giờ ta chưa bao giờ nghĩ tới vì quen nhìn thế giới bằng “lăng kính thấu thị một chiều”. Thơ là ranh giới mong manh giữa cái có và cái không tạo nên một thế giới hư ảo, mơ hồ. Thơ chụp lấy những khoảnh khắc khác nhau một cách bất chợt của thế giới ảo ảnh tạo ra nhiều ấn tượng sâu sắc và những ám ảnh mạnh mẽ, dai dẳng lạ thường.
"Cõi người ta" ở trong đoạn nầy được Kiều cảm nhận như là ngổn ngang trăm mối. Đây không phải là cảnh tượng xã hội bên ngoài giữa các tầng lớp giai cấp chủ - thợ, tư bản - vô sản, nam - nữ, già - trẻ..., hoặc tình trạng phức tạp của các đối tượng nhận thức, ngày càng đòi hỏi phải sâu sát hơn, hay số lượng của những dự án ngày càng tăng theo nhịp đòi hỏi của ước muốn nào bất kỳ của con người. Nguyễn Du gắn liền "ngổn ngang trăm mối" với cái khung "bên lòng" hay trong "cõi lòng". Ngỗn ngang là "vô trật tự" hay tệ hơn nữa là sự xung đột giữa hai trật tự vốn đang cư ngụ trong "Tình", nhưng cả hai không có cùng vùng trời, cùng ngôn ngữ để hiểu nhau.
Người lãnh đạo cách mạng tưởng không gì chán hơn là lại được đọc những tác phẩm văn thơ đúng như trong đường lối mình vạch ra, tư tưởng của tác phẩm chỉ ở trong cái phạm vi tư tưởng mà mình đã gợi ra. Chính những người lãnh đạo cách mạng cũng đòi hỏi ở Văn nghệ − riêng là thơ − nói lên cho mình những tình cảm lớn lao, cổ vũ được cả cho mình, bồi dưỡng cho mình bằng những cái xúc cảm lạ lùng vĩ đại mà người thi sĩ tiên giác được trên cơ sở của cách mạng. Nhưng làm thế nào được? Đã có người thi sĩ nào gần đây có thể nói lớn được rằng: “Cách mạng đã hoàn toàn tin cậy ở tôi. Tôi tự hào được đứng ở hàng ngũ tiền phong của cách mạng, vì cách mạng đã giúp cho tôi ý thức nổi cái trách nhiệm và đã cho tôi đầy đủ cái hiểu biết về cách mạng rồi”.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.