Nhịp điệu (rhythm) và vai trò của nó trong tổ chức văn bản tác phẩm là yếu tố cơ bản, được chúng tôi lựa chọn làm mạch xuyên suốt, xâu chuỗi việc khảo sát những biến chuyển về thi pháp. Bài viết cũng tự giới hạn phạm vi khảo sát trên cơ sở các bài thơ của bộ phận văn học viết, hữu danh hay khuyết danh, nhưng phải áng chừng được thời đại mà nó ra đời.
Thơ muốn trở thành khúc nhạc lòng, nhạc hồn không thể không có tiết tấu, nhịp điệu uyển chuyển. Nhạc lòng chuyển hoá thành nhạc thơ. Nhạc thơ đa dạng, khi trầm bổng, du dương, lúc thanh thoát, nhẹ nhàng… ứng với điệu hồn thi sĩ. Nhạc thơ biểu hiện cụ thể ở nhịp điệu. Thi nhân phổ nhạc cho thơ, tiếng thơ vang ngân trong không gian, tạo thành các “bước sóng” gõ cửa tâm hồn độc giả.
Đã có khá nhiều lời bình phẩm và kiến giải về màn "Báo ân báo oán" trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, thậm chí có những ý kiến trái ngược xung quanh việc Kiều tha bổng Hoạn Thư trong khi lại thẳng tay trừng trị "lũ người bạc ác tinh ma" khác. Trong bài viết này, tôi xin bổ sung một số kiến giải theo quan điểm riêng của mình, mong bạn đọc có ý kiến khác thì cùng trao đổi...
Thỉnh thoảng tôi mới có dịp gặp nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhưng nghe và đọc về anh thì nhiều. Có người bảo anh là tài sản lớn của đất nước,có người bảo anh là vua… cuội, có người lại bảo nói theo dân gian thì anh chính là Trạng, mấy trăm năm dân Việt mới có được một người, có bác đùa chê anh suốt đời chỉ mặc được áo quần bộ đội (anh mà mặc com lê ca vát thì… không nhìn được!). Còn tôi thì chỉ xin kể lại những gì tôi trực tiếp biết về anh. Trần Đăng Khoa… cuội hay Trần Đăng Khoa nghiêm túc và chu đáo? Có lẽ là …cả hai! Bởi vì thực thì anh cũng rất tếu và hay đùa, một điều mà tôi nghĩ là chỉ những người thông minh và không coi cái gì là quan trọng quá mới có thể làm được.
Từ góc độ ký hiệu học, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là một hệ hình ngôn ngữ đã thuộc về quá khứ, hoá thành hiện tượng văn hoá – lịch sử, nay tựa như bị bỏ quên trong “kho lưu trữ” của thời trước. Ở Việt Nam, có thể tìm thấy biểu hiện của hệ hình ngôn ngữ này trong sáng tác của một đội ngũ đông đảo các nhà văn, nhà thơ gồm nhiều thế hệ, từ lớp người từng khởi nghiệp, nổi danh trong phong trào “Thơ mới” và dòng văn học hiện thực trước 1945, qua lớp tác giả trưởng thành thời chống Pháp, đến những cây bút nhiều không kể xiết của thời chống Mỹ. Nhưng thơ Tố Hữu là chất liệu lý tưởng mà tôi muốn chọn để khảo sát.
Người Thanh Hóa tự hào vì có hai ông Mai Linh nổi tiếng: Một Mai Linh Taxi và một Mai Linh nhà thơ. Ông Mai Linh nhà thơ mà chúng ta sẽ gặp gỡ trong bài viết này là người không thích đọc thơ mình trước đám đông, rất ngại ngùng khi được giới thiệu là nhà thơ.
Tháng 7.1945, Huy Cận tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và được bầu vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng toàn quốc. Khi Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, Huy Cận được vinh dự đảm nhận trọng trách Bộ trưởng Bộ Canh nông, kiêm Thanh tra đặc biệt của Chính phủ. Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ hồi ấy chỉ có hai người: cụ Bùi Bằng Đoàn (nguyên Thượng thư Bộ Hình của triều đình Huế) và Cù Huy Cận. Nhiệm vụ chủ yếu của Thanh tra đặc biệt là chấn chỉnh kịp thời những biểu hiện tiêu cực trong đội ngũ cán bộ nhằm đề cao kỷ cương phép nước, tạo dựng niềm tin của nhân dân đối với chính quyền cách mạng. Đoàn Thanh tra đã đến nhiều địa phương nắm bắt tình hình, xử lý kiên quyết và khôn khéo những cán bộ mắc khuyết điểm, sai lầm. Những việc làm của Thanh tra đã được nhân dân nhiệt tình ủng hộ vì họ thấy Chính phủ Cụ Hồ luôn bênh vực bảo vệ dân...
Gần nửa thế kỷ qua đã có nhiều sách báo viết về chuyện những người tình thơ của Hàn Mặc Tử, trong đó có chuyện Hàn Mặc Tử yêu Hoàng Thị Kim Cúc (tức Hoàng Cúc) và viết nên bài thơ bất hủ Đây thôn Vỹ Dạ.
Trong ký ức nhà thơ Vương Trọng: “Gia đình bác Trần Lê Văn trong một thời gian dài khá chật vật về kinh tế. Bác trân trọng từng khoản nhuận bút bé nhỏ và tỏ ra thật vui mừng khi cán bộ biên tập báo mang đến. Ngoài viết báo ra, bác còn tìm cách làm các thứ khác nhằm có thêm thu nhập.Nhưng với một nhà thơ xuất phát từ Hán học như ông, ngoài chữ nghĩa ra, còn biết làm nghề gì đươc? Có một dịp tết, bác viết câu đối và tặng chữ cho khách thập phương ở Văn Miếu. Ai đưa tiền bác cũng nhận, nhiều ít không quan tâm, nhét ngay vào túi áo bành tô. Ngồi khom lưng làm việc lâu giữa chốn đông người, mồ hôi trán toát ra trong gió mùa đông bắc, bác bèn cởi cái áo bành tô ra cho đỡ nóng. Cuối buổi khi xong việc bác nhìn quanh không còn thấy chiếc áo “gia bảo” đâu nữa, vì kẻ gian nào đã cuỗm mất từ khi nào, bác mất áo và mất luôn khoản tiền trong túi! Buổi trưa mặc áo sơ mi, bác đạp xe về nhà tái xám vì rét. Sau đó mấy hôm, bác có làm một bài thơ bi hài về chuyện mất áo này”
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.