Nhạc sĩ Phạm Duy không có quan hệ dây mơ rễ má gì với đất Huế và người Huế, nhưng xứ Thần kinh đã để lại trong nhạc phẩm anh nhiều âm hưởng và hình ảnh sâu đậm, đặc biệt sau bốn lần ghé Huế : 1944 khi đi hát rong ; 1946 sau cách mạng tháng 8, từ chiến khu Nam Bộ về Bắc ; 1948 trong kháng chiến chống Pháp ; và 1953 khi về thành.
Tôi không biết có phải tình yêu gia đình là phần đất mầu mỡ, nơi trưởng, dưỡng những hạt mầm vạm vỡ tình yêu đất nước, dân tộc nồng nàn nơi tiếng thơ Nguyễn Phan Quế Mai - - Hay ngược lại? Tuy nhiên, cách gì thì cõi-giới thi ca Nguyễn Phan Quế Mai cũng đã cho thấy gia đình, những thịt, xương trực tiếp, đã chiếm một thị phần quan trọng trong thơ của người nữ đặc biệt này. Và, điều đáng nói hơn nữa, theo tôi, khi trải rộng, sâu tấm lòng, tâm hồn mình vào phạm trù này, ở một mặt nào khác, Nguyễn còn cho thấy độ nhậy cảm hay, tài năng đặc biệt của mình.
Đồng Nai, nơi các nhà văn quân đội và Hội Văn học nghệ thuật Đồng Nai mới phối hợp tổ chức trại viết cho các nhà văn Khu vực miền Đông, không chỉ là một vùng đất nặng tình, cửa ngõ Chiến khu Đ Anh hùng trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nơi diễn ra trận Xuân Lộc lịch sử mùa xuân năm 1975... mà còn là nơi sản sinh, gặp gỡ của nhiều thế hệ cầm bút tài danh.
Trong văn học đương đại Việt Nam từ sau năm 1975 có một giai đoạn được gọi là “tiền đổi mới”: 1975-1985. Mặc dầu văn học giai đoạn này được xác định là vận động trong “quán tính”, nghĩa là nó chưa vượt thoát ra khỏi phạm trù “sử thi và lãng mạn” của văn học cách mạng, nhưng đã có những động thái và dấu hiệu tìm tòi, bứt phá, mở lối được tạo nên bởi một số nhà văn có tư tưởng nghệ thuật mới mẻ, được gọi là đi tiên phong như Nguyễn Minh Châu. Ông là người âm thầm, kiên trì tìm kiếm hướng đi mới của văn học. Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu viết trong khoảng 1976 đến 1984 đã là đối tượng cho một cuộc hội thảo rộng lớn, do báo Văn nghệ tổ chức năm 1985, đã rút ra được từ đó nhiều kinh nghiệm bổ ích cho sự phát triển văn học trong thời kỳ mới.
Tôi hỏi bài thơ nào ông thích nhất. Ông trả lời Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi. Một cuộc đời từng trải vào bôn ba như ông, có nhiều cơ hội để giàu có và thăng tiến lắm chứ. Nhưng không. Trước sau ông chỉ là người thư ký của thời cuộc mà thôi…
Có một cuốn sách dày 3000 trang, trình bày đẹp in đẹp, lẽ ra phải được trao giải, sách hay, sách đẹp do anh Nguyễn Chí Trung lo liệu từ đầu đến cuối. Cuốn sách có tên: Văn nghệ sĩ Khu V: Lý tưởng, nhân cách, sáng tạo. Vâng, “lý tưởng, nhân cách, sáng tạo” là điều được anh coi trọng nhất trong cuộc đời mình. Anh giáo dục rèn luyện chúng tôi. Anh là tấm gương sáng để chúng tôi noi theo.
Sau khi đọc một mạch hết Nỗi buồn chiến tranh, ý nghĩ đầu tiên chợt nảy ra trong tôi lại là, giả sử bộ tiểu thuyết này không phải ra đời ở Việt Nam, thứ tiếng mẹ đẻ đã đem lại sinh mệnh cho tiểu thuyết này không phải là tiếng Việt mà là tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức,… không biết liệu nó sẽ được ngợi ca rầm rộ như thế nào trên thế giới?...
Trong nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại, Văn Cao (15-XI-1923 - 10-VII-1995) là một nghệ sĩ đa tài và có những cống hiến nổi bật trên cả ba lĩnh vực: âm nhạc, hội họa và thơ.
Nữ tác giả Trần Thùy Mai có nhiều tác phẩm hay ngay ở tên truyện, như Đêm tái sinh, Thập tự hoa, Quỷ trong trăng v.v. SH oline giới thiệu một truyện ngắn có tên gọi đặc sắc: Mưa đời sau.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.